LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm, tôi
đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình và tiếp thu được một lượng kiến thức
nhất định. Để có được kết quả đó, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã
nhận được sự động viên của gia đình, sự hướng dẫn, giảng dạy của thầy cô giáo
trong nhà trường và sự giúp đỡ chia sẻ của bạn bè. Nhất là trong kỳ thực tập và
làm khoá luận cuối khoá, sự động viên, hướng dẫn, giúp đỡ đó đối với tôi thực
sự quý báu.
Để có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình, tôi xin trân trọng
cảm ơn Thầy Th.s Nguyễn Ngọc Truyền, người đã trực tiếp hướng dẫn và luôn
tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành được khoá luận của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong UBND xã
Quảng Thái, huyện Quảng Điền và các hộ dân ở xã đã luôn tạo điều kiện để cho
tôi có thể học hỏi, nắm được các kiến thức thực tế phục vụ cho bài viết của mình
được hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, do kiến thức của bản thân và thời gian thực tập còn hạn chế
nên nội dung đề tài không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, kính mong
nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn thêm của các thầy cô giáo và các bạn để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Huế, 19 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Lê Công Quý
2
MỤC LỤC
Phần 1.
Phần 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần 2 3
4.5.2. Trong dịch vụ và ngành nghề khác 36
4.6. Đóng góp của phụ nữ trong thu nhập và phát triển kinh tế hộ 38
4.7. Việc kiểm soát nguồn lực kinh tế hộ của người phụ nữ 40
4.7.1. Vai trò trong việc kiểm soát kinh tế, tài sản hộ gia đình 40
4.7.2. Người ra quyết định các công việc lớn trong gia đình 41
4.8. Việc sử dụng, phân bổ thời gian của người phụ nữ 42
4.9. Việc tiếp cận các kênh thông tin và quan hệ xã hội nông thôn của người phụ nữ 44
4.10. Vai trò của phụ nữ trong phòng chống và giảm nhẹ thiên tai 46
4.11. Thuận lợi và khó khăn trong việc nâng cao vai trò và vị thế phụ nữ xã Quảng Thái 47
4.11.1. Thuận lợi 47
4.11.2. Khó khăn 48
4.12. Giải pháp nâng cao vai trò vị thế của người phụ nữ ở xã Quảng Thái 48
4.12.1. Giải pháp từ người dân 48
4.12.2. Giải pháp từ cán bộ địa phương 49
Phần 5. 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Tình hình sản xuất của xã Quảng Thái năm 2010 25
Bảng 2: Đặc điểm dân số và lao động của xã Quảng Thái 26
Bảng 3: Đặc điểm các hộ khảo sát năm 2011 27
Bảng 4: Hoạt động của phong trào phụ nữ xã Quảng Thái 28
Bảng 5: Sự tham gia của phụ nữ vào các tổ chức đoàn thể 30
Bảng 6: Người ra quyết định và thực hiện các khâu trong trồng trọt 32
Bảng 7: Người ra quyết định và thực hiện các khâu trong chăn nuôi 34
Bảng 8: Người ra quyết định và thực hiện các khâu trong nuôi trồng thủy sản 35
Bảng 9: Người ra quyết định và thực hiện các khâu trong hoạt động dịch vụ và
ngành nghề khác 37
Ngày nay, kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ truyền
thống, phụ nữ Việt Nam ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong gia đình và
ngoài xã hội. Đất nước đang từng ngày đổi mới, người phụ nữ cũng mang trong
mình một trọng trách, một vai trò quan trọng trong việc duy trì tổ ấm của một gia
đình. Họ đã và đang phấn đấu cho một gia đình ấm no và hạnh phúc góp phần
vào sự phát triển của xã hội.
Người phụ nữ ấy với tư cách là một người mẹ, người vợ trong gia đình, họ
đã dần ý thức được vai trò của mình trong việc nuôi dạy con cái, tổ chức đời
sống vật chất cũng như tinh thần trong một gia đình hiện đại.
Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ngoài việc
đem lại nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, nó cũng nảy sinh những tác động tiêu cực ,
họ phải lo toan nhiều hơn cho cuộc sống gia đình, ít quan hệ xã hội. Một số phụ
nữ chưa hiểu rõ các quyền về mặt pháp lý của mình do học vấn thấp, thời gian
làm việc đồng áng và nội trợ cao, ít thời gian để tham gia hội họp cộng đồng, ít
tiếp cận thông tin để nâng cao kiến thức và hiểu biết. Điều đó đã làm cho vai trò
và vị thế của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội không được
1
công nhận một cách chính đáng. Hầu hết thời gian của người phụ nữ đặc biệt là
người phụ nữ nông thôn đều đầu tư cho các hoạt động tái sản xuất, cho nên các
sản phẩm lao động của họ không mang lại những giả trị cụ thể, trước mắt. Từ đó
họ không được công nhận là chủ thể kinh tế của gia đình. Mặt khác, do xuất phát
từ những quan niệm lạc hậu như: trọng nam khinh mữ, nam giới là trụ cột gia
đình… cũng đã làm cho vai trò của người phụ nữ ngày càng trở nên mờ nhạt.
Xuất phát từ những thực tiễn đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Khảo sát
vai trò phụ nữ trong nông nghiệp nông thôn tại xã Quảng Thái, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” để đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong nông
nghiệp, nông thôn, qua đó đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm phát huy
năng lực của phụ nữ nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt
nhiệm của mình trong sản xuất, đời sống và các hoạt động xã hội.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
đầu xuất hiện ở các trường Đại học lớn ở Hà Nội và Thành Phố Hồ chí Minh,
sau đó nó trở thành môn học có tên gọi là “Phụ nữ học” giống như các môn Xã
hội học, Triết học…
Phụ nữ học là gì? Phụ nữ học là nghiên cứu phụ nữ, nó không chỉ đơn
thuần là nghiên cứu đơn thuần về thân phận của người phụ nữ trong xã hội mà
đó là nghiên cứu phụ nữ theo cách nhìn của phụ nữ và vì quyền lợi của phụ nữ.
Một số đặc điểm của phụ nữ học
Từ hàng bao thế kỷ, phụ nữ đã là một đối tượng nghiên cứu, vậy phụ nữ
học ngày nay có gì khác? Theo Sheila Ruth những công trình nghiên cứu phụ nữ
trước đây thường có quan điểm:
- Phụ nữ thường được nhìn vào, ít khi phụ nữ có được cái nhìn riêng về
mình.
- Phụ nữ được nghiên cứu trong một phần nào đó của công trình như là
một phần phụ thuộc.
- Có những quan điểm “ghét phụ nữ”. Thành kiến đối với phụ nữ dẫn đến
trở thành một lý thuyết về khoa học và được chấp nhận.
Theo một số nhà khoa học, nếu các nghiên cứu về phụ nữ không xuất phát
từ quan điểm xem phụ nữ là một tầng lớp bị áp bức thì không thuộc phạm vi
nghiên cứu phụ nữ học hiện đại. Một số khác đề nghị cách tiếp cận trung dung
hơn, không nhất thiết phải có thiên kiến vê tình trạng bị lệ thuộc của phụ nữ.
Các mục tiêu của phụ nữ học
- Phân tích tính thống trị của các quan điểm của nam giới trong kiến thức
lịch sử, tạo ra những kiến thức mới và những giá trị mới thông qua việc nghiên
cứu tích cực kinh nghiệm của phụ nữ.
- PNH nhằm đạt đến sự thay đổi ý thức của phụ nữ về chính người phụ nữ:
4
hình ảnh, tư cách, quyền lợi, vị trí, sự tham gia của phụ nữ trong thế giới.
- Thay đổi những ước vọng của người phụ nữ dựa trên cơ sở ý thức đã
được thay đổi, lòng tự tin đã được củng cố, từ đó người phụ nữ có những lựa
chọn mới cho mình và cho xã hội.
tranh với những mối quan hệ xã hội về giới để tiến tới bình đẳng giới, nó dựa
trên các giả thuyết rằng các mối quan hệ giới sẽ từ từ thay đổi khi phụ nữ có đầy
đủ vai trò trong phát triển [5,Tr.3].
2.1.3. Giới và phát triển (GAD)
Nguồn gốc
Khái niệm xuất hiện trong những thập niên 1980, nguồn gốc lý thuyết của
nó được tìm thấy trong lý thuyết nữ quyền theo khuynh hướng xã hội và đã lấp
trống khoảng cách các lý thuyết hiện đại hóa kinh tế bằng cách gắn quan hệ xã
hội về sản xuất với quan hệ về tái sản xuất bằng cách xem tất cả các khía cạnh
đời sống của người phụ nữ.
Nội dung
Nghiên cứu phụ nữ không biệt lập trong mối tương quan, so sánh với nam
giới. Nghiên cứu giới nhằm vào mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, đó có thể là
mối tương quan về mặt kinh tế, quyền lực trong gia đình và trong xã hội, có thể
là mối quan hệ giữa hai giới trong việc nắm bắt cơ hội tiếp cận các nguồn lực và
6
sử dụng các thành quả làm ra. Nghiên cứu giới là nghiên cứu cả phụ nữ và nam
giới vì quyền lợi cả hai giới.
GAD xem phụ nữ là tác nhân của sự thay đổi, của phát triển chứ không
đơn thuần là người thụ hưởng những hổ trợ cho sự phát triển, họ nhấn mạnh rằng
phụ nữ phải tự tổ chức lại và phải có tiếng nói chính trị mạnh hơn [5,Tr.3-4].
2.1.4. Bất bình đẳng giới
Nghiên cứu của các chuyên gia phát triển đều đưa ra kết luận rằng ở nhiều
vùng khác nhau trên toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển ở phía
Nam vẫn tồn tại thiên lệch giới bất lợi cho phụ nữ. Đó chính là khoảng cách về
giới hay còn gọi là bất bình đẳng giới. Theo tác giả Đỗ Thị Bình và Trần Thị
Vân Anh (2003): Bất bình đẳng giới (gender inequality) chỉ sự khác biệt về cơ
hội và quyền lợi của nữ và nam giới để đạt đến năng lực tối đa của mình hay để
quyết định cuộc sống của bản thân hay toàn xã hội. Bất bình đẳng giới có thể thể
hiện trên nhiều khia cạnh khác nhau như về pháp luật, về cơ hội như việc tiếp
chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học, mà còn bao gồm cả chăm lo và duy trì lực
lượng lao động hiện tại và tương lai.
Vai trò cộng đồng
Vai trò cộng đồng bao gồm vai trò quản lý cộng đồng và vai trò chính trị
cộng đồng.
Vai trò quản lý cộng đồng: các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như là sự
8
mở rộng của vai trò tái sản xuất. Đó là những công việc nhằm bảo đảm và duy trì
các nguồn lực sữ dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngỏ xóm,
tham gia các lễ hội, tham gia các đám hiếu hỉ… Đây là những công việc tự
nguyện, không được trả tiền và thường được làm vào thời gian rảnh rỗi.
Vai trò chính trị cộng đồng: gồm những hoạt động thực hiện ở cấp độ
cộng đồng, với vị trí chính trị chính thức như tham gia vào các tổ chức chính
quyền và đoàn thể địa phương. Đây là những công việc được trả tiền trực tiếp
hoặc gián tiếp bằng hiện vật, các công việc này làm tăng vị trí, quyền lực của cá
nhân trong cộng đồng
[5,Tr.6-10].
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới
a. Trên thế giới
Trong vòng ba thập kỷ qua, vấn đề của phụ nữ - và gần đây hơn là vấn đề
về giới – đã trở thành vấn đề chính yếu trong các diễn đàn phát triển. Người phụ
nữ bị tướt đoạt quyền bầu cử ở các nước đang phát triển.
Không ở đâu trong bất kỳ một khu vực đang phát triển nào mà phụ nữ
được hưởng những quyền bình đẳng như nam giới . Ở nhiều nước phụ nữ không
có quyền độc lập trong việc làm chủ đất đai, quản lý tài sản hay điều hành kinh
doanh. Thí dụ ở nhiều nước châu Phi, Hạ Sahara phụ nữ có quyền về đất đai chủ
yếu thông qua người chồng của họ, và sẽ mất những quyền đó khi họ ly hôn hoặc
góa bụa. Ở một số nước Nam Á và Trung Đông phụ nữ không được đi lại nếu
không được người chồng cho phép.
không tương xứng này tồn tại trong các quyền kết hôn, ly hôn, quyết định quy
mô gia đình, tham gia các hoạt động tạo thu nhập ở bên ngoài, và được đi lại tự
do. Sự phân biệt giới về quyền đã hạn chế khả năng lựa chọn của người phụ nữ
trong nhiều khía cạnh của cuộc sống – thường cản trở rất lớn những cơ hội mà
họ có được trong nền kinh tế và trong xã hội.
Ở Bootsxoana, Chilê, Lêxôthô, Namibia và Xoazilân, phụ nữ chịu sự cai
quản vĩnh viễn của người chồng và không có quyền quản lý độc lập với tài sản
(UNDP 1995). Ở một số nước châu Phi, phụ nữ có chồng không được sở hữu đất
đai mà chỉ có quyền hoa lợi sau khi kết hôn (Gray và Kevane 1995). Ngoài ra tại
nhiều nơi của châu Phi Hạ Sahara, đàn ông có quyền đòi hỏi người vợ đóng góp
sức lao động, nhưng người phụ nữ lại không có quyền đó với chồng mình (Dey
Abbas 1995). Ở Bôlivia, Goatêmala và Siry, đàn ông có thể cấm không cho vợ
mình làm việc ở bên ngoài. Ở Aicập và Gióocđani, phụ nữ phải được chồng cho
phép nếu muốn đi đây đi đó. Ở một số nước Ảrập phải có sự đồng ý của người
chồng thì phụ nữ mới xin được hộ chiếu nhưng không xảy ra điều ngược lại
(UNDP 1995).
Cũng như các quyền cơ bản, phụ nữ và các bé gái thường gặp khó khăn rất
nhiều so với nam giới và các bé trai trong việc tiếp cận hàng loạt các nguồn lực.
Điều này đã thu hẹp các cơ hội cho họ và – cũng như với các quyền hạn – đã hạn
chế khả năng của họ [3].
Theo Quỹ Dân số LHQ, hiện nay, "sự phủ nhận các quyền con người cơ
bản của phụ nữ vẫn còn dai dẳng và trên quy mô rộng". Hiện nay ở nhiều nước
Arập, phụ nữ vẫn chưa được quyền bầu cử. Vẫn có 41 nước không ký Công ước
11
về việc loại trừ tất cả những hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (do LHQ
thông qua năm 1979). Những quốc gia không ký Công ước trên đa số là các
nước Arập và Hồi giáo (thuộc châu Á và châu Phi). Tại nhiều nơi, phụ nữ và
nam giới không hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, như một phụ nữ Saudi
Arabia hoặc Iran không thể đi du lịch nếu không được chồng ưng thuận.
Cũng theo thống kê của LHQ, 70% người nghèo khổ trên thế giới (tổng số lên
địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ là nam giới chiếm đại đa số.
Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng
đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc thừa kế đất khi chồng qua
đời. Phần lớn phụ nữ khó đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn, tín dụng chính
thức vì họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Phụ nữ giành nhiều thời gian làm việc nhà hơn. Ở các vùng nông thôn,
thời gian lao động tạo thu nhập của phụ nữ và nam giới là như nhau. Tuy nhiên
phụ nữ giành thời gian nhiều gần gấp đôi nam giới cho các công việc nhà không
được trả công. Do vậy, phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có thời gian
làm việc nhiều hơn nam giới. Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và gia
đình họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội trong
cộng đồng cũng như cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnh đạo, có
rất ít thời gian để tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ
năng và sự tự tin.
13
Phụ nữ ít được tập huấn và đào tạo. Do vậy, phụ nữ đang bị mất đi tiềm
năng để tiếp cận với các công nghệ tiên tiến và để đóng góp vào các mục tiêu
phát triển. Mặc dù phụ nữ chiếm gần 3/4 lực lượng lao động ngành chăn nuôi,
song chỉ có 20% các lớp tập huấn khuyến nông về chăn nuôi có phụ nữ tham gia.
Tương tự có 80% phụ nữ nông thôn làm trong lĩnh vực trồng trọt nhưng chỉ có
10% số người được tập huấn khuyến nông về trồng trọt là nữ. Đa số các cán bộ
cung cấp dịch vụ công ở cấp cơ sở là nam giới và họ thường là các nông dân
nam (chủ hộ gia đình) là đối tượng mục tiêu của các hoạt động khuyến nông. [6],
[13].
2.2.2. Vai trò của phụ nữ
a.Trên thế giới
Ngày nay, khi được quyền bình đẳng, tham gia vào tất các các hoạt động
xã hội, người phụ nữ tỏ rõ là một lực lượng không thể thiếu trong sự phát triển,
thậm chí có người còn cho là trong tương lai, phụ nữ sẽ "quyết định sự phát triển
Nobel về văn học; về y khoa, họ chiếm tỷ lệ 2,5%, hoá học 3%, vật lý 1,3%.
Phụ nữ đảm nhận nhiều công việc quan trọng mà không được các số liệu
thống kê không đề cập đến:
- Công việc nội trợ
- Phát triển kinh tế hộ gia đình
Đây cũng là những công việc khó có thể đo, đếm chính xác, nhưng qua đó
15
có thể nói phụ nữ là người chủ yếu chăm lo công việc nuôi sống bản thân gia
đình Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nơi gần 80% dân số
đang sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm 51% dân số và hơn 52% lực
lượng lao động( số liệu thống kê năm 2000 của TCTK) người phụ nữ phải gánh
vác phần lớn công việc trên đồng ruộng. Họ không chỉ lo sản xuất đủ lương thực
cho tiêu dùng mà còn cho cả việc xuất khẩu gạo, đóng góp nuôi sống một phần
thế giới. Người phụ nữ phải lao động với một cường độ rất lớn. Thời gian làm
việc kéo dài mà ít có điều kiện nghỉ ngơi.
Những con số do chương trình phát triển phụ nữ đã đưa ra vào năm 1985
tại Hội nghị thế giới về phụ nữ lần thứ hai tại Nairobi, thủ đô Kenya đã làm chấn
động thế giới:
- Phụ nữ chiếm 1/2 dân số thế giới
- Phụ nữ làm việc 2/3 tổng thời gian làm việc của thế giới
- Sản xuất ra 1/2 sản lượng nông nghiệp thế giới. [2], [6], [10].
b. Ở việt Nam
Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ
nữ trong gia đình. Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia
đình. Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi
cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên
tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Không chỉ
chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên
thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp
của chồng. Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam
phát triển.
Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ
nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự
phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng
có nhiều cơ hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho
phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ
trách nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ
nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác.
Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động
[9], [10], [11].
18
Phần 3.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là phụ nữ và mối quan hệ của phụ nữ nông thôn đối với gia đình và xã
hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai vai trò của người phụ nữ trong gia đình,
qua đó xem xét mối quan hệ giữa phụ nữ với gia đình và vai trò, chức năng của
họ đối với gia đình ở xã Quảng Thái – huyện Quảng Điền – tỉnh Thừa Thiên
Huế. Số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2010 – 2011.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Các phong trào hoạt động của phụ nữ xã Quảng Thái.
- Sự tham gia của phụ nữ vào các tổ chức đoàn thể địa phương.
- Người ra quyết định và thực hiện chính trong các hoạt động sản xuất.
+ Người ra quyết định và thực hiện chính trong các hoạt động trồng trọt.
+ Người ra quyết định và thực hiện chính trong các hoạt động chăn nuôi.
+ Người ra quyết định và thực hiện chính trong các hoạt động nuôi trồng thủy
sản.