Khảo sát văn khắc Hán Nôm tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Chữ Hán là thứ chữ viết gắn liền với dân tộc Việt Nam ta từ buổi đầu
của nền độc lập. Với ý thức tự cường xây dựng một nhà nước vững mạnh
và chống lại mọi âm mưu đồng hoá của các triều đại phong kiến phương
bắc, ông cha ta đã sử dụng chữ Hán và đưa nó trở thành hệ thống chữ viết
chính thức của mình trong suốt cả ngàn năm lịch sử. Ngày nay, với tinh
thần xây dựng một nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta
không còn dùng đến chữ Hán nữa. Nhưng một nền văn hoá mới không có
nghĩa là bỏ qua mọi giá trị tốt đẹp mà ông cha đã tạo dựng từ cả ngàn năm
về trước mà phải giữ gìn và kế thừa những vốn quý đó. Chính vì vậy, bảo
tồn và phát huy di sản Hán Nôm là một việc làm rất cần thiết.
Kho tàng tư liệu Hán Nôm trên đất nước ta hiện nay rất đa dạng và
phong phú, từ những pho tư liệu khoa học-hành chính của các triều đại
phong kiến cho đến những văn bản được ghi chép trên giấy tồn tại trong
dân gian. Đặc biệt nhất phải kể đến mảng văn khắc được thể hiện trên các
công trình kiến trúc văn hoá truyền thống. Bởi vốn tư liệu ở đây thể hiện rõ
nét nhất về nguồn cội, về quê hương đất nước, về phong tục tập quán và
đời sống văn hoá của con người. Vì vậy muốn hiểu rõ về những cái đó ta
phải nắm được những giá trị nội dung mà người xưa đã gửi gắm. Những
câu đối hay những bức hoành phi trên những đền chùa, miếu mạo không
chỉ là những tâm tư tình cảm và tấm lòng của con người mà nó còn chứa
đựng những giá trị thẩm mỹ, mang đậm dấu ấn bản sắc văn hoá dân tộc.
Trải qua thời gian cùng sự bào mòn của những yếu tố ngoại cảnh và cả sự
thiếu quan tâm của con người thì vốn tư liệu này ngày càng bị mai một. Bởi
vậy bên cạnh xây dựng một nền văn hoá mới phải có sự quan tâm bảo tồn
và phát huy vốn di sản văn hoá của dân tộc mà cha ông đã dày công tạo
dựng. Đằng sau những câu chữ đó là cả tiếng lòng của tổ tiên từ ngàn xưa
vọng tới, nhắc nhở chúng ta về cội nguồn xa xưa của dân tộc và là nền tảng
vững chắc để tiến tới tương lai. Vì vậy việc giữ gìn và phát huy vốn di sản
Hán Nôm là một trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả của mọi người. Đề tài

tôi đó là văn khắc Hán Nôm tức là các chữ Hán-Nôm được khắc, nề trên
2
các chất liệu cứng như vữa xây, gỗ, đá, kim loại... Còn phạm vi nghiên cứu
của đề tài là toàn bộ khu vực xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh
Thừa Thiên Huế.

4. Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài phải trải qua điền dã thực tế mới có thể trực tiếp tiếp cận
với nguồn tư liệu và tiến hành khảo sát, sưu tầm, phiên dịch. Sau khi thu
thập toàn bộ nguồn tư liệu mới có thể tiến hành sắp xếp, phân loại, đồng
thời tham khảo các cách làm của những người đi trước để có thể thực hiện
đề tài một cách có hệ thống, cuối cùng là phiên âm và dịch nghĩa toàn bộ
nguồn tư liệu. Để dễ dàng hơn trong cách hình dung hệ thống văn khắc trên
tất cả các di tích, phần hoành phi, đại tự được đóng khung (kể cả lạc
khoản); phần phiên âm được in nghiêng và phần dịch nghĩa được in
thường. Phần câu đối chữ Nôm chúng tôi chỉ ghi lại phần phiên âm ra quốc
ngữ. Tất cả đều được sắp xếp giống như thực tế, các hoành phi câu đối
được xếp từ ngoài vào trong theo đúng như hệ thống kiến trúc. Những phần
chữ bị hư và mất nét chúng tôi vẫn đưa vào và để thành dấu chấm hỏi.

5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài có ba chương nội
dung chính:
Chương 1. Một vài nét khái quát về xã Thuỷ Dương và hiện trạng văn
khắc ở xã
1.1. Một vài nét khái quát về xã Thuỷ Dương
1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử xã Thuỷ Dương
1.1.2. Vài nét về kinh tế, văn hoá xã hội xã Thuỷ Dương
1.2. Hiện trạng văn khắc tại xã Thuỷ Dương
Chương 2. Sưu tầm và tuyển dịch văn khắc chữ Hán tại xã Thuỷ Dương

lợi đã nhường ngôi cho thái tử Thuyên lui về làm Thái thượng hoàng và bắt
đầu cuộc đời tu hành truyền đạo. Tháng 3 năm Tân Sửu (1301), trong một
lần dạo chơi sang Chiêm, thấy tướng mạo và cốt cách đĩnh đạc của vua
Chiêm Thành (chính là thái tử Harijit, người chỉ huy quân Chiêm đánh bại
quân Mông Nguyên xâm lược), Thượng hoàng đã hứa gả con gái út của
4
mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân (Jaya Simhavar man). Bởi
vậy, năm Bính Ngọ (1306), sau khi nhận nhiều thứ lễ vật gồm hương quý
và vàng bạc cầu hôn, vua Anh Tông gả Huyền Trân cho Chế Mân. Chế
Mân liền đem hai châu Ô và Rí làm sính lễ và phong Huyền Trân làm
hoàng hậu. Khi công chúa đã về Chiêm thì người dân hai châu Hoan Ái
(Thanh Nghệ) nối nhau vào tiếp nhận vùng đất mới. Các vùng đất này được
Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hoá Châu, (Nay thuộc vùng từ
nam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam) lãnh thổ Đại Việt ở phía nam đã vươn
tới sông Thu Bồn. Tuy nhiên nhân dân các thôn La Thuỷ, Tác Hồng và Đà
Bồng không theo, triều đình liền cử Đoàn Nhữ Hài vào phủ dụ dân chúng,
chọn số trong số người Chăm ở địa phương ra làm quản lý, cấp ruộng đất
và tha thuế trong ba năm để thu phục lòng dân ở vùng đất mới. Nhưng mới
về Chiêm chưa được bao lâu và cũng mới vừa sinh hạ thái tử thì vua Chiêm
đột ngột qua đời, theo tục lệ bản quốc khi vua chết thì hoàng hậu cũng phải
lên giàn hoả thiêu để chết theo. Nhận được tin, do thương em gái nên vua
Anh Tông đã sai Đỗ Khắc Chung là quan Nhập nội hành khiển Thượng thư
tả bộc xạ và An phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm tìm cách cứu công chúa và
đưa thái tử Chiêm về nước. Sau khi cứu được công chúa, người Chiêm vô
cùng tức giận vì vậy vua Chiêm mới là Chế Chí không phục nhà Trần, có ý
đòi lại đất đã dâng, liên tiếp đem quân quấy rối và đòi lại hai châu Ô, Rý.
Năm 1311, vua Anh Tông thân chinh thảo phạt Chiêm Thành. Vua Chiêm
là Chế Chí lượng sức mình không thắng nổi bèn quy hàng. Anh Tông lập
làm vương nhưng lại giam lỏng ở trong nước mình, lại phong cho em trai
Chế Chí tước hầu để trông coi nước Chiêm. Hai năm sau, Chế Chí chết trên

Đại Việt, cho quân lính gây hấn cướp phá Hoá Châu và vượt biển sang cầu
viện Trung Quốc. Lúc này, Đại Việt đang trong giai đoạn hùng mạnh bậc
nhất trong lịch sử dưới sự trị vì anh minh của vua Lê Thánh Tông. Là một
người văn võ song toàn, sáng suốt và quyết đoán, Lê Thánh Tông quyết
định chinh phạt Chiêm Thành. Một mặt sai sứ sang Tàu trình bày rõ ràng
việc làm của Trà Toàn với Minh Hiến Tông (Chu Kiến Thâm) một mặt tự
thống lĩnh đại quân gồm 20 vạn vào đánh Chiêm Thành. Khi đại quân đã
tiến đến Thuận Hoá vua cho tập dượt ngày đêm để chắc phần chiến thắng,
bèn xuống chiếu cho vệ quân ở Thuận Hoá ra biển thi thuỷ chiến; lại hạ
lệnh cho Nguyễn Vũ là người ở địa phương vẽ nộp đồ bản về những nơi
hiểm yếu. Vua còn soạn "sách lược bình Chiêm" ban phát cho tướng sĩ các
6
doanh. Về phía Chiêm, Trà Toàn sai em đưa sáu tướng cùng quân lính bí
mật kéo đến sát doanh trại vua. Vua biết được bèn sai Lê Hy Cát đem
thuyền vượt biển lẻn vào cửa Sa Kỳ lập đồn luỹ để chặn đường về của quân
Chiêm, còn vua dẫn thuỷ quân ra biển kéo cờ và đánh trống để tăng cường
thanh thế, lại sai Nguyễn Đức Trung dẫn quân bộ đi sát chân núi. Quân
Chiêm trông thấy thanh thế quân Đại Việt sợ hãi mà bỏ chạy toán loạn về
thành Chà Bàn. Quân của Lê Hy Cát có nhiệm vụ chặn đường về của giặc
đã tung ra ngăn đánh. Nhà vua đóng ở cửa biển Thái Cần, đốc quân sĩ dốc
đánh, chém hơn 300 tên và bắt sống hơn 60 tên, Trà Toàn sợ hãi dâng biểu
xin đầu hàng. Nhà vua lại dẫn quân vào đánh thành Thi Nại, chiếm xong lại
tiến đến đánh thành Đồ Bàn. Nhằm ngày 1 tháng 3 năm 1471, quân Đại
Việt phá vỡ thành, Trà Toàn bị vệ quân Thuận Hoá bắt sống và dẫn đến
trước mặt vua, vua Lê Thánh Tông không giết mà còn phủ dụ, lại cho ở
ngoài ty trấn điện. Có một bại tướng Chiêm là Bô Trì Trì sợ vua còn đánh
tiếp nên đã xin thần phục và triều cống. Vua Thánh Tông một mặt sát nhập
miền bắc nước Chiêm từ đèo Hải Vân đến tận bắc Phú Yên vào bản đồ Đại
Việt, một mặt không muốn tiến đánh thêm nữa bèn nghĩ kế làm cho nước
Chiêm tự suy yếu bằng cách chia nước Chiêm thành ba nước nhỏ do ba vua

kinh tế cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa với nhiều công trình có giá trị lớn,
cơ sở hạ tầng kĩ thuật hiện đại, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đời
sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên, quốc phòng an ninh
được giữ vững. Từ ngày 9 tháng 2 năm 2010, xã Thuỷ Dương đã chính
thức trở thành phường Thuỷ Dương theo Nghị quyết số 08/NQ-CP của
Chính phủ Việt Nam về việc thành lập thị xã Hương Thủy và thành lập các
phường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
1.2. Hiện trạng văn khắc chữ Hán ở xã Thuỷ Dương
Chữ Hán là phương tiện chuyển tải thông tin rất hữu hiệu và mang đầy
đủ nét văn hoá đặc sắc ở các dân tộc trong vòng văn hoá chữ Hán nói chung
và Việt Nam nói riêng. Đây là một trong những hệ thống chữ viết được
dùng lâu đời trên thế giới. Xưa kia chưa có giấy, bút và mực, người Trung
Hoa cổ đại khắc chữ trên mai rùa, xương thú vật hay vỏ cây… vì thế được
gọi là giáp cốt văn, đây chính là một hình thức của văn khắc và nó được ra
đời từ rất sớm. Đến thời kỳ sau này khi người Trung Hoa phát minh ra
giấy, bút lông và mực nên đã tạo nên sự vượt trội cũng như tiện lợi hơn về
cách ghi chép và truyền tải thông tin của chữ Hán, hình thức văn viết ghi
8
chép trên giấy đã ra đời. Nhờ có giấy mà chữ Hán trở nên đắc dụng và phát
triển mạnh mẽ hơn rất nhiều so với chữ khắc trên mai rùa và xương thú nên
đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Không gian ảnh hưởng của nó không chỉ
bó hẹp trong đất nước Trung Quốc mà còn lan ra cả những nước xung
quanh như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Nhưng nói như vậy không
phải là văn khắc không còn tồn tại và phát triển mà ngược lại, văn khắc vẫn
phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Văn khắc vẫn tồn tại song song với văn
viết ghi chép trên giấy, có điều là chất liệu khắc đã được thay đổi. Trước
kia văn khắc chỉ xuất hiện trên mai rùa và xương thú thì nay được khắc
bằng dao, đục, dũa hay nề trên các chất liệu mới có độ bền và mang tính
thẩm mỹ cao như vữa xây, đá, kim loại, gỗ hay gốm... Từ đây văn khắc
không chỉ chuyển tải nội dung thông tin mà còn là một hình thức nghệ

khắc năm 2000, có nhà bia bảo vệ, bia nhỏ, gồm 432 chữ. Chữ Hán được
khắc theo lối chữ chân phương, rõ ràng, sắc nét, ngôn ngữ gần với ngôn
ngữ hiện đại. Cả hai mặt của bia đều được khắc chữ: mặt dương khắc chữ
Hán và mặt âm khắc bản dịch bằng chữ quốc ngữ. Nội dung chủ yếu giới
thiệu và ca ngợi về ngài thuỷ tổ của dòng họ. Vì bia dựng vào thời hiện đại
nên không có phần hoa văn cũng như các trang trí theo kiểu truyền thống.
Bia cũng không được đặt trên lưng rùa mà chỉ dựng trên đế bia hình khối
chữ nhật đúc bằng xi măng, đây cũng là một đặc điểm của văn bia dân gian
Huế. Tấm văn bia này đã được nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh tuyển dịch
trong cuốn "Văn bia và văn chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế" do
nhà xuất bản Thuận Hoá ấn hành năm 2006, trang 307.
Phần văn khắc trên chất liệu kim loại chỉ có trên chuông đồng, không
có văn khắc trên khánh và thạp. Chuông là một pháp khí rất quan trọng, là
thứ đứng đầu bát âm và có thể nói là không thể thiếu được trong văn hoá
tín ngưỡng Á đông, đặc biệt là ở chùa. Khi dựng chùa xong thì phải có
chuông, đã có chuông ắt phải có bài văn khắc lên để kỉ niệm. Thông thường
là ghi tên các thiện nam tín nữ đã có công đức xây dựng nên chùa hay ghi
bài minh chuông để nguyện cầu. Trên địa bàn xã hiện nay có năm cái ở ba
ngôi chùa: một chiếc ở chùa Nam Sơn, hai chiếc ở chùa Diệu Viên, một
chiếc ở chùa Hoa Nghiêm và một chiếc ở chùa Đông Hải. Về nội dung thì
cả năm chuông đều có nội dung câu chữ hầu hết giống nhau, đó là đều khắc
bài minh chung và văn chung, chỉ khác tên chùa và ngày đúc. Riêng
10
chuông chùa Đông Hải ghi những thông tin về chuông như năm đúc, làng
xã đúc và trọng lượng của chuông.
Phần câu đối, hoành phi, đại tự chiếm số lượng lớn nhất, có giá trị
nhiều mặt cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Mảng văn khắc này hầu
hết được khắc trên gỗ và nề trên vữa, văn khắc trên gỗ chủ yếu ở nội điện
và văn khắc (nề) trên vữa chủ yếu ở ngoài trời. Nó xuất hiện hầu hết trong
những công trình kiến trúc văn hoá và được bảo lưu khá nguyên vẹn.

清也若水靈也若仙鶴表琴亭玄光自在
水之有源木之有本祖功尊德終古長留
Thanh dã nhược thủy, linh dã nhược sơn, hạc biểu cầm đình huyền quang tự
tại
Thủy chi hữu nguyên, mộc chi hữu bản, tổ công tôn đức chung cổ trường
lưu.
Trong như nước, thiêng như núi, trụ biểu mái đình sáng tươi tự tại;
Cây có cội, nước có nguồn, công đức tổ tông lưu mãi muôn năm.
精靈得造化高清濯濯洋洋萬古猶流正氣
英秀對岑山香水煌煌赫赫千秋共拜神清
Tinh linh đắc tạo hóa, cao thanh trạc trạc dương dương, vạn cổ do lưu
chính khí;
Anh tú đối Sầm sơn, Hương Thủy hoàng hoàng hách hách, thiên thu cộng
bái thần hưu.
Thiêng liêng nhờ tạo hoá, thanh cao rực rỡ mênh mông, muôn thuở lưu
truyền chính khí;
Anh tú đối diện với đụn Sầm, Hương Thuỷ sáng trong mát mẻ, ngàn năm
cùng đội ơn che chở của Thần.
Mặt trong
清氣清天高彌來後箕尾托
水泉在地翰公南海榜碑靈
Thanh khí vi thiên, cao di lai hậu Cơ Vĩ thác;
12
Thủy tuyền tại địa, Hàn công nam hải bảng bi linh.
Khí lành là của trời, về sau lại càng cao như sao Cơ, sao Vĩ;
Suối nước tại đất, tiên Hàn Tương Tử ở biển nam linh thiêng ở bảng bia
đây.
得一以靈滾滾清泉一脈
有三不朽巍巍岑嶺三峰
Đắc nhất dĩ linh, cổn cổn thanh tuyền nhất mạch;

Đức sáng lưu truyền mãi Hưởng sự thành kính Có công thì thờ phụng
護國庇民澤同香水潤
調元贊化功等象山高
Hộ quốc tí dân, trạch đồng Hương thủy nhuận;
Điều nguyên tán hóa, công đẳng Tượng sơn cao.
Bảo vệ nước che chở dân, ơn trạch thấm đẫm như sông Hương;
Điều nguyên chuyển hóa, công lao cao lớn sánh với núi Voi.

Đức kỳ thịnh
Công đức thịnh
清德其盛矣
14
清泉勝蹟 風淳俗美物阜民康
享克誠 功則祀德流光
德其盛
有功則祀之
Vi đức kỳ thịnh hỹ;
Hữu công tắc tự chi.
Việc làm công đức thật là thịnh;
Có công thì thờ phụng.
Nhà truyền thống
Vạn thế sư
Người thầy của muôn đời
聖道千秋留越地
師傳萬世照南天
Thánh đạo thiên thu lưu Việt địa;
Sư truyền vạn thế chiếu Nam thiên.
Đạo của thánh nhân ngàn năm lưu ở đất Việt;
Bậc thầy của muôn đời sáng mãi ở trời Nam.
岑嶺巍巍山錦清

無邊福智蓋群生
南無罪業清銷除
迷離清苦歸圓寂
天阿修羅餓鬼等
來聽法者應至心
使常存名各動行
                 世尊清
清用戒看塗清清
常持定服以資身
菩提妙法遍莊嚴
17
大覺世尊
隨兩往生處常安樂
Chư hữu thính đồ lai chí thử,
Hoặc tại địa thượng hoặc cư không.
Thường ư nhân thế khởi từ tâm,
Tận dạ tự thân y pháp trụ.
Nguyện chư thế giới thường an lạc,
Vô biên phúc trí cái quần sinh.
Nam mô tội nghiệp tịnh tiêu trừ,
Mê ly chúng khổ quy viên tịch.
Thiên A tu la ngạ quỷ đẳng,
Lai thính pháp giả ứng chí tâm.
Sử thường tồn danh các động hành
Thế tôn giáo.
Hằng dụng giới khan đồ thuyên thể,
Thường trì định phục dĩ tư thân.
Bồ Đề diệu pháp biến trang nghiêm,
Tùy lưỡng vãng sinh xứ thường an lạc.
Có những con người tới nơi đây để nghe pháp,

Bái thủ chước huyền hương, tam thiên thế kết tường vân, phụng hiến Như
Lai liên tòa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, bách bát thanh thành chính niệm, tức sinh tịnh thổ
bảo hoa trung.
19
妙圓寺
佛歷二千五百四十四年
大雄寶殿 如是莊嚴依正金章
(Phật lịch nhị ngũ tứ tứ niên Tân Tị trọng xuân cát nhật, đại trùng tu lạc
thành chi lễ. Diệu Viên ni tự chúng pháp điệt đồng phụng cúng)
Lạy đốt hương thơm, Ba ngàn thế giới kết thành đám mây lành, phụng
dâng lên đức Phật trên tòa sen;
Tâm tin giữ hiệu của Phật, một trăm lẻ tám tiếng chuông thành chính niệm,
lập tức sinh vào cõi tịnh thổ trong cõi hoa báu.
(Lễ khánh thành đại trùng tu ngày tốt giữa xuân năm Tân tị, Phật lịch năm
2545. Các Phật tử chùa ni Diệu Viên cùng phụng cúng)
妙義如來廣含藏行深了悟能體了
圓修正玄戒定慧清凡心化作聖心
佛子黃文蓮黃公明明奉供
順化京春妙圓寺大重修落成之禮
Diệu nghĩa Như Lai quảng hàm tàng, hành thâm liễu ngộ năng thể liễu;
Viên tu chính huyền giới định tuệ, tức phàm tâm hóa tác thánh tâm.
(Phật tử Hoàng Văn Liên Hoàng Công Minh phụng cúng.
Thuận Hóa kinh xuân Diệu Viên tự đại trùng tu lạc thành chi lễ)
Làm mầu nhiệm đạo nghĩa Như Lai thấm nhuần rộng lớn, thực hiện sâu sắc
việc giác ngộ mới có thể giác ngộ được;
Tu một cách tròn đầy giới định trí tuệ chân chính huyền diệu, lập tức tâm
phàm tục biến thành tâm của bậc thánh nhân.
(Phật tử Hoàng Văn Liên và Hoàng Công Minh phụng cúng.
Lễ khánh thành đại trùng tu chùa Diệu Viên ở kinh đô Phú Xuân)

mầu nhiệm; Phật là tâm, tâm là Phật, xưa nay chẳng khác hợp với chân
tông.
21
振錫提清     振錫提清
掌上明珠光攝大千之界
手中金錫振開地獄之門
Chưởng thượng minh châu, quang nhiếp đại thiên chi giới;
Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn.
Quả minh châu nắm trên tay, soi sáng cả trăm ngàn cõi;
Gậy tầm xích vàng giữ trong tay, nâng mở cửa địa ngục.
Hậu điện
五峰金地叢林孤同光含空清色
當吉山頭寶清群巒翠鎖古猶今
Ngũ phong kim địa tùng lâm, cô đồng quang hàm không tức sắc;
Đương cát sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do kim.
Rừng rậm nơi đất vàng ở núi Ngũ Phong, lẻ loi ánh sáng ngậm không tức là sắc;
Chùa báu đầu non là nơi tốt đẹp, những ngọn núi biếc vây quanh từ xưa
đến nay.
Chuông
Chuông to
Diệu Viên đồng chung
Chuông đồng chùa Diệu Viên
願此鐘聲超法界
鐵圍幽暗悉皆聞
聞塵清淨證圓通
一切清生成正覺
聞鐘聲煩惱輕
22
妙圓銅鐘
智慧長菩提生

Trí tuệ trưởng bồ đề sinh.
Ly địa ngục độ chúng sinh,
Nguyện thành Phật độ chúng sinh.
Úm gia la đế da sa ha.
(Nội dung đã dịch rõ ở chuông chùa Hoa Nghiêm, xin lược)
Miếu
恭請本境山神土地列位
五行列位仙娘
外境外乾英靈
Cung thỉnh bản cảnh sơn thần thổ địa liệt vị:
Ngũ hành liệt vị tiên nương;
Ngoại cảnh ngoại càn anh linh.
Cung kính thỉnh các vị thần núi và thần đất ở nơi đây :
Các vị tiên nương ngũ hành;
Anh linh ngoại cảnh ngoại càn .
Các lăng tháp
Lăng hội chủ Hoàng Công Viết
An dưỡng thần
Thần an dưỡng
24
安養神
佛護持名標淨域
神清覺地赴蓮城
Phật hộ trì danh tiêu tịnh vực;
Thần tẩm giác địa phó liên thành.
Phật hộ trì danh hiệu, nêu cao cõi tịnh thổ;
Thần tẩm giúp đỡ đất giác ngộ, đi đến thành hoa sen.
Thừa Phật từ lực
Kế thừa sức từ bi của Phật
Bia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status