BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
"Khảo sát văn khắc Hán Nôm tại xã Thuỷ Dương,
huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế"
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
"Khảo sát văn khắc Hán Nôm tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh
Thừa Thiên Huế" 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Chữ Hán là thứ chữ viết gắn liền với dân tộc Việt Nam ta từ buổi đầu của
nền độc lập. Với ý thức tự cường xây dựng một nhà nước vững mạnh và chống
lại mọi âm mưu đồng hoá của các triều đại phong kiến phương bắc, ông cha ta đã
sử dụng chữ Hán và đưa nó trở thành hệ thống chữ viết chính thức của mình
trong suốt cả ngàn năm lịch sử. Ngày nay, với tinh thần xây dựng một nền văn
hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta không còn dùng đến chữ Hán nữa.
Nhưng một nền văn hoá mới không có nghĩa là bỏ qua mọi giá trị tốt đẹp mà ông
cha đã tạo dựng từ cả ngàn năm về trước mà phải giữ gìn và kế thừa những vốn
quý đó. Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm là một việc làm rất
cần thiết.
2
Kho tàng tư liệu Hán Nôm trên đất nước ta hiện nay rất đa dạng và phong
phú, từ những pho tư liệu khoa học-hành chính của các triều đại phong kiến cho
đến những văn bản được ghi chép trên giấy tồn tại trong dân gian. Đặc biệt nhất
phải kể đến mảng văn khắc được thể hiện trên các công trình kiến trúc văn hoá
truyền thống. Bởi vốn tư liệu ở đây thể hiện rõ nét nhất về nguồn cội, về quê
hương đất nước, về phong tục tập quán và đời sống văn hoá của con người. Vì
vậy muốn hiểu rõ về những cái đó ta phải nắm được những giá trị nội dung mà
Quý tộc thủy tổ mộ bi kí" ở nhà thờ họ Lê Thúc, Bá, Trọng, Quý, đã được nhà
nghiên cứu Trần Đại Vinh sưu tầm và tuyển dịch trong cuốn văn bia và văn
chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế do nhà xuất bản Thuận Hoá ấn hành
năm 2006. Còn mảng văn khắc phong phú còn lại chưa được ai thực hiện. Vì vậy
với đề tài này chúng tôi đã khảo sát một cách hệ thống, cụ thể mảng văn khắc
Hán Nôm trên toàn bộ địa bàn xã Thuỷ Dương và tìm hiểu những giá trị nội dung
nghệ thuật chứa đựng trong đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đó
là văn khắc Hán Nôm tức là các chữ Hán-Nôm được khắc, nề trên các chất liệu
cứng như vữa xây, gỗ, đá, kim loại Còn phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn
bộ khu vực xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài phải trải qua điền dã thực tế mới có thể trực tiếp tiếp cận với
nguồn tư liệu và tiến hành khảo sát, sưu tầm, phiên dịch. Sau khi thu thập toàn bộ
nguồn tư liệu mới có thể tiến hành sắp xếp, phân loại, đồng thời tham khảo các
cách làm của những người đi trước để có thể thực hiện đề tài một cách có hệ
thống, cuối cùng là phiên âm và dịch nghĩa toàn bộ nguồn tư liệu. Để dễ dàng
hơn trong cách hình dung hệ thống văn khắc trên tất cả các di tích, phần hoành
phi, đại tự được đóng khung (kể cả lạc khoản); phần phiên âm được in nghiêng
và phần dịch nghĩa được in thường. Phần câu đối chữ Nôm chúng tôi chỉ ghi lại
4
phần phiên âm ra quốc ngữ. Tất cả đều được sắp xếp giống như thực tế, các
hoành phi câu đối được xếp từ ngoài vào trong theo đúng như hệ thống kiến trúc.
Những phần chữ bị hư và mất nét chúng tôi vẫn đưa vào và để thành dấu chấm
hỏi.
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài có ba chương nội dung
Cũng như bao địa phương khác ở xứ Thuận Hoá xưa, xã Thuỷ Dương cũng
được hình thành từ những cuộc nam tiến của người Việt mà cụ thể ở đây là cuộc
nam chinh thảo phạt Chiêm Thành diễn ra dưới thời Lê Thánh Tông năm 1470,
mặc dù mảnh đất Thuận Hoá đã sát nhập vào bản đồ Đại Việt từ rất lâu trước đó.
Ta biết rằng sau cuộc kháng chiến thần thánh đánh đuổi quân Mông Nguyên xâm
lược thì uy tín và danh tiếng của Đại Việt ngày một lẫy lừng, các nước láng giềng
đều mong muốn được kết thân hoà hiếu. Vua Trần Nhân Tông sau giai đoạn lãnh
đạo kháng chiến giành thắng lợi đã nhường ngôi cho thái tử Thuyên lui về làm
Thái thượng hoàng và bắt đầu cuộc đời tu hành truyền đạo. Tháng 3 năm Tân
Sửu (1301), trong một lần dạo chơi sang Chiêm, thấy tướng mạo và cốt cách đĩnh
đạc của vua Chiêm Thành (chính là thái tử Harijit, người chỉ huy quân Chiêm
đánh bại quân Mông Nguyên xâm lược), Thượng hoàng đã hứa gả con gái út của
mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân (Jaya Simhavar man). Bởi vậy, năm
Bính Ngọ (1306), sau khi nhận nhiều thứ lễ vật gồm hương quý và vàng bạc cầu
hôn, vua Anh Tông gả Huyền Trân cho Chế Mân. Chế Mân liền đem hai châu Ô
và Rí làm sính lễ và phong Huyền Trân làm hoàng hậu. Khi công chúa đã về
Chiêm thì người dân hai châu Hoan Ái (Thanh Nghệ) nối nhau vào tiếp nhận
vùng đất mới. Các vùng đất này được Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và
Hoá Châu, (Nay thuộc vùng từ nam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam) lãnh thổ Đại
Việt ở phía nam đã vươn tới sông Thu Bồn. Tuy nhiên nhân dân các thôn La
Thuỷ, Tác Hồng và Đà Bồng không theo, triều đình liền cử Đoàn Nhữ Hài vào
6
phủ dụ dân chúng, chọn số trong số người Chăm ở địa phương ra làm quản lý,
cấp ruộng đất và tha thuế trong ba năm để thu phục lòng dân ở vùng đất mới.
Nhưng mới về Chiêm chưa được bao lâu và cũng mới vừa sinh hạ thái tử thì vua
Chiêm đột ngột qua đời, theo tục lệ bản quốc khi vua chết thì hoàng hậu cũng
phải lên giàn hoả thiêu để chết theo. Nhận được tin, do thương em gái nên vua
Anh Tông đã sai Đỗ Khắc Chung là quan Nhập nội hành khiển Thượng thư tả
bộc xạ và An phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm tìm cách cứu công chúa và đưa thái
tử Chiêm về nước. Sau khi cứu được công chúa, người Chiêm vô cùng tức giận
Trà Toàn (Pau Kubah, em trai của Trà Duyệt), Trà Duyệt chết thì ngôi thuộc về
Trà Toàn. Trà Toàn là người hung hãn, hoang dâm, không được lòng người và
rất tự phụ. Trà Toàn do đó không có ý thần phục Đại Việt, cho quân lính gây hấn
cướp phá Hoá Châu và vượt biển sang cầu viện Trung Quốc. Lúc này, Đại Việt
đang trong giai đoạn hùng mạnh bậc nhất trong lịch sử dưới sự trị vì anh minh
của vua Lê Thánh Tông. Là một người văn võ song toàn, sáng suốt và quyết
đoán, Lê Thánh Tông quyết định chinh phạt Chiêm Thành. Một mặt sai sứ sang
Tàu trình bày rõ ràng việc làm của Trà Toàn với Minh Hiến Tông (Chu Kiến
Thâm) một mặt tự thống lĩnh đại quân gồm 20 vạn vào đánh Chiêm Thành. Khi
đại quân đã tiến đến Thuận Hoá vua cho tập dượt ngày đêm để chắc phần chiến
thắng, bèn xuống chiếu cho vệ quân ở Thuận Hoá ra biển thi thuỷ chiến; lại hạ
lệnh cho Nguyễn Vũ là người ở địa phương vẽ nộp đồ bản về những nơi hiểm
yếu. Vua còn soạn "sách lược bình Chiêm" ban phát cho tướng sĩ các doanh. Về
phía Chiêm, Trà Toàn sai em đưa sáu tướng cùng quân lính bí mật kéo đến sát
doanh trại vua. Vua biết được bèn sai Lê Hy Cát đem thuyền vượt biển lẻn vào
cửa Sa Kỳ lập đồn luỹ để chặn đường về của quân Chiêm, còn vua dẫn thuỷ quân
ra biển kéo cờ và đánh trống để tăng cường thanh thế, lại sai Nguyễn Đức Trung
dẫn quân bộ đi sát chân núi. Quân Chiêm trông thấy thanh thế quân Đại Việt sợ
hãi mà bỏ chạy toán loạn về thành Chà Bàn. Quân của Lê Hy Cát có nhiệm vụ
chặn đường về của giặc đã tung ra ngăn đánh. Nhà vua đóng ở cửa biển Thái
Cần, đốc quân sĩ dốc đánh, chém hơn 300 tên và bắt sống hơn 60 tên, Trà Toàn
sợ hãi dâng biểu xin đầu hàng. Nhà vua lại dẫn quân vào đánh thành Thi Nại,
chiếm xong lại tiến đến đánh thành Đồ Bàn. Nhằm ngày 1 tháng 3 năm 1471,
8
quân Đại Việt phá vỡ thành, Trà Toàn bị vệ quân Thuận Hoá bắt sống và dẫn đến
trước mặt vua, vua Lê Thánh Tông không giết mà còn phủ dụ, lại cho ở ngoài ty
trấn điện. Có một bại tướng Chiêm là Bô Trì Trì sợ vua còn đánh tiếp nên đã xin
thần phục và triều cống. Vua Thánh Tông một mặt sát nhập miền bắc nước
Chiêm từ đèo Hải Vân đến tận bắc Phú Yên vào bản đồ Đại Việt, một mặt không
muốn tiến đánh thêm nữa bèn nghĩ kế làm cho nước Chiêm tự suy yếu bằng cách
hiện đại, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đời sống vật chất tinh thần của
người dân được nâng lên, quốc phòng an ninh được giữ vững. Từ ngày 9 tháng 2
năm 2010, xã Thuỷ Dương đã chính thức trở thành phường Thuỷ Dương theo
Nghị quyết số 08/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc thành lập thị xã
Hương Thủy và thành lập các phường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên
Huế.
1.2. Hiện trạng văn khắc chữ Hán ở xã Thuỷ Dương
Chữ Hán là phương tiện chuyển tải thông tin rất hữu hiệu và mang đầy đủ nét
văn hoá đặc sắc ở các dân tộc trong vòng văn hoá chữ Hán nói chung và Việt
Nam nói riêng. Đây là một trong những hệ thống chữ viết được dùng lâu đời trên
thế giới. Xưa kia chưa có giấy, bút và mực, người Trung Hoa cổ đại khắc chữ
trên mai rùa, xương thú vật hay vỏ cây… vì thế được gọi là giáp cốt văn, đây
chính là một hình thức của văn khắc và nó được ra đời từ rất sớm. Đến thời kỳ
sau này khi người Trung Hoa phát minh ra giấy, bút lông và mực nên đã tạo nên
sự vượt trội cũng như tiện lợi hơn về cách ghi chép và truyền tải thông tin của
chữ Hán, hình thức văn viết ghi chép trên giấy đã ra đời. Nhờ có giấy mà chữ
Hán trở nên đắc dụng và phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều so với chữ khắc trên
mai rùa và xương thú nên đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Không gian ảnh
hưởng của nó không chỉ bó hẹp trong đất nước Trung Quốc mà còn lan ra cả
những nước xung quanh như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Nhưng nói như
vậy không phải là văn khắc không còn tồn tại và phát triển mà ngược lại, văn
khắc vẫn phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Văn khắc vẫn tồn tại song song với
văn viết ghi chép trên giấy, có điều là chất liệu khắc đã được thay đổi. Trước kia
văn khắc chỉ xuất hiện trên mai rùa và xương thú thì nay được khắc bằng dao,
10
đục, dũa hay nề trên các chất liệu mới có độ bền và mang tính thẩm mỹ cao như
vữa xây, đá, kim loại, gỗ hay gốm Từ đây văn khắc không chỉ chuyển tải nội
dung thông tin mà còn là một hình thức nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hoá bởi
tuyệt đại đa số nó được thể hiện trên các bức hoành phi, đại tự, câu đối, văn bia
và văn chuông… Tất cả đều được gắn với những công trình kiến trúc văn hoá,
kiểu truyền thống. Bia cũng không được đặt trên lưng rùa mà chỉ dựng trên đế
bia hình khối chữ nhật đúc bằng xi măng, đây cũng là một đặc điểm của văn bia
dân gian Huế. Tấm văn bia này đã được nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh tuyển
dịch trong cuốn "Văn bia và văn chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế" do
nhà xuất bản Thuận Hoá ấn hành năm 2006, trang 307.
Phần văn khắc trên chất liệu kim loại chỉ có trên chuông đồng, không có văn
khắc trên khánh và thạp. Chuông là một pháp khí rất quan trọng, là thứ đứng đầu
bát âm và có thể nói là không thể thiếu được trong văn hoá tín ngưỡng Á đông,
đặc biệt là ở chùa. Khi dựng chùa xong thì phải có chuông, đã có chuông ắt phải
có bài văn khắc lên để kỉ niệm. Thông thường là ghi tên các thiện nam tín nữ đã
có công đức xây dựng nên chùa hay ghi bài minh chuông để nguyện cầu. Trên
địa bàn xã hiện nay có năm cái ở ba ngôi chùa: một chiếc ở chùa Nam Sơn, hai
chiếc ở chùa Diệu Viên, một chiếc ở chùa Hoa Nghiêm và một chiếc ở chùa
Đông Hải. Về nội dung thì cả năm chuông đều có nội dung câu chữ hầu hết giống
nhau, đó là đều khắc bài minh chung và văn chung, chỉ khác tên chùa và ngày
đúc. Riêng chuông chùa Đông Hải ghi những thông tin về chuông như năm đúc,
làng xã đúc và trọng lượng của chuông.
Phần câu đối, hoành phi, đại tự chiếm số lượng lớn nhất, có giá trị nhiều mặt
cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Mảng văn khắc này hầu hết được khắc trên
gỗ và nề trên vữa, văn khắc trên gỗ chủ yếu ở nội điện và văn khắc (nề) trên vữa
chủ yếu ở ngoài trời. Nó xuất hiện hầu hết trong những công trình kiến trúc văn
hoá và được bảo lưu khá nguyên vẹn. Những hoành phi câu đối là phần không
thể thiếu được bởi nó không chỉ chứa đựng những nội dung tốt đẹp mà còn là cả
một nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao, cả hai kết hợp tạo nên nét cổ kính, trang
nghiêm và tĩnh lặng. Như đã trình bày ở trên do những công trình kiến trúc trên
địa bàn xã hầu hết mới được sửa sang lại trong thời gian gần đây, vì vậy mảng
12
văn khắc đều đầy đủ, đa dạng và rõ ràng. Còn lại một số công trình khác do điều
kiện thời tiết và thời gian tác động làm cho những chữ đều mờ nhạt, mất nét
không còn đọc rõ được. Chùa Đông Hải là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất: chữ
khí;
Anh tú đối Sầm sơn, Hương Thủy hoàng hoàng hách hách, thiên thu cộng bái
thần hưu.
Thiêng liêng nhờ tạo hoá, thanh cao rực rỡ mênh mông, muôn thuở lưu truyền
chính khí;
Anh tú đối diện với đụn Sầm, Hương Thuỷ sáng trong mát mẻ, ngàn năm cùng
đội ơn che chở của Thần.
Mặt trong
清清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清清
Thanh khí vi thiên, cao di lai hậu Cơ Vĩ thác;
Thủy tuyền tại địa, Hàn công nam hải bảng bi linh.
Khí lành là của trời, về sau lại càng cao như sao Cơ, sao Vĩ;
Suối nước tại đất, tiên Hàn Tương Tử ở biển nam linh thiêng ở bảng bia đây.
清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清
Đắc nhất dĩ linh, cổn cổn thanh tuyền nhất mạch;
Hữu tam bất hủ, nguy nguy sầm lĩnh tam phong.
Được một đã linh, cuồn cuộn một mạch suối trong lành;
Có ba bất hủ, nguy nga ba ngọn núi Sầm.
Bình phong, mặt trước
清清清清清清清
清清清清清清清
Bình lập thanh đình nghênh thụy khí;
14
Phong lai thủy diện tống kì hương.
Bình phong đứng ở trước đình sáng đón mời khí lành;
Gió thổi tới mặt nước toả ra mùi hương lạ.
Bình phong, mặt sau
清清清清清
清清清清清
清清清清清
Vi đức kỳ thịnh hỹ;
Hữu công tắc tự chi.
Việc làm công đức thật là thịnh;
Có công thì thờ phụng.
Nhà truyền thống
Vạn thế sư
Người thầy của muôn đời
16
清清清
清清清
清清清清清清清
清清清清清清清
Thánh đạo thiên thu lưu Việt địa;
Sư truyền vạn thế chiếu Nam thiên.
Đạo của thánh nhân ngàn năm lưu ở đất Việt;
Bậc thầy của muôn đời sáng mãi ở trời Nam.
清清清清清清清
清清清清清清清
Sầm lĩnh nguy nguy sơn cẩm tú;
Thanh tuyền cổn cổn thủy văn chương.
Núi Sầm vời vợi ấy là núi tươi đẹp;
Suối trong xanh cuồn cuộn ấy là nước văn chương.
2.2. Văn khắc Hán Nôm ở chùa
2.2.1. Chùa Diệu Viên
Đỉnh đồng
Diệu Viên tự đỉnh
Vạc chùa Diệu Viên
Hoặc tại địa thượng hoặc cư không.
Thường ư nhân thế khởi từ tâm,
Tận dạ tự thân y pháp trụ.
Nguyện chư thế giới thường an lạc,
19
清清清清
Vô biên phúc trí cái quần sinh.
Nam mô tội nghiệp tịnh tiêu trừ,
Mê ly chúng khổ quy viên tịch.
Thiên A tu la ngạ quỷ đẳng,
Lai thính pháp giả ứng chí tâm.
Sử thường tồn danh các động hành
Thế tôn giáo.
Hằng dụng giới khan đồ thuyên thể,
Thường trì định phục dĩ tư thân.
Bồ Đề diệu pháp biến trang nghiêm,
Tùy lưỡng vãng sinh xứ thường an lạc.
Có những con người tới nơi đây để nghe pháp,
Có kẻ ngồi ở trên đất, có kẻ ngồi ở trên cao.
Thường ở nơi nhân thế sẽ nổi lên lòng từ bi,
Chấm dứt bóng đêm tự thân dựa vào pháp mà an trú.
Mong cho các thế giới đều yên vui,
Phúc và trí vô biên phủ khắp muôn loài.
Nam mô nghiệp tội đều tiêu trừ,
Các thứ khổ ải mê muội đều về với viên tịch.
Các loài thiên, A tu la và ngạ quỷ,
Người nào tới nghe giảng pháp thì nên có “chí tâm”.
Khiến cho bảo tồn danh, mỗi người đều làm theo giáo pháp của Thế tôn.
Thường dùng để răn xem thể cây Thuyên,
Thường giữ định phục để làm béo tốt mình mẩy.
đức Phật trên tòa sen;
Tâm tin giữ hiệu của Phật, một trăm lẻ tám tiếng chuông thành chính niệm, lập
tức sinh vào cõi tịnh thổ trong cõi hoa báu.
(Lễ khánh thành đại trùng tu ngày tốt giữa xuân năm Tân tị, Phật lịch năm 2545.
Các Phật tử chùa ni Diệu Viên cùng phụng cúng)
清清清清清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清清清清清
Diệu nghĩa Như Lai quảng hàm tàng, hành thâm liễu ngộ năng thể liễu;
Viên tu chính huyền giới định tuệ, tức phàm tâm hóa tác thánh tâm.
(Phật tử Hoàng Văn Liên Hoàng Công Minh phụng cúng.
Thuận Hóa kinh xuân Diệu Viên tự đại trùng tu lạc thành chi lễ)
Làm mầu nhiệm đạo nghĩa Như Lai thấm nhuần rộng lớn, thực hiện sâu sắc việc
giác ngộ mới có thể giác ngộ được;
Tu một cách tròn đầy giới định trí tuệ chân chính huyền diệu, lập tức tâm phàm
tục biến thành tâm của bậc thánh nhân.
(Phật tử Hoàng Văn Liên và Hoàng Công Minh phụng cúng.
Lễ khánh thành đại trùng tu chùa Diệu Viên ở kinh đô Phú Xuân)
Gian giữa
清清清清清清清清清清清清清
清清清清清清清清清清清清清
清清清清清清清
清清清清清清清清清清清清清清
Ngũ phong sơn cảnh, nhân duyên dĩ định, hội tụ tu học Phật;
22
Đương cát địa danh, tổ đạo trú tích, sơ hưng phùng huyền tràng.
(Phật tử Vũ Thiên Ngọc phụng cúng.
Thuận Hóa kinh xuân Diệu Viên tự đại trùng tu lạc thành chi lễ)
Cõi núi Ngũ phong, nhân duyên đã định, hội họp mà tu học Phật;
Ngũ phong kim địa tùng lâm, cô đồng quang hàm không tức sắc;
Đương cát sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do kim.
Rừng rậm nơi đất vàng ở núi Ngũ Phong, lẻ loi ánh sáng ngậm không tức là sắc;
Chùa báu đầu non là nơi tốt đẹp, những ngọn núi biếc vây quanh từ xưa đến nay.
Chuông
Chuông to
Diệu Viên đồng chung
Chuông đồng chùa Diệu Viên
清清清清清清清
清清清清清清清
清清清清清清清
清清清清清清清
清清清清清清
清清清清清清
清清清清清清
清清清清清清
清清清清清清清
Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn.
24
清清清清
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhất thiết chúng sinh thành chính giác.
Văn chung thanh phiền não khinh,
Trí tuệ trưởng bồ đề sinh.
Ly địa ngục độ chúng sinh,
Nguyện thành Phật độ chúng sinh.
Úm gia la đế da sa ha.
Chuông nhỏ
清清清清