Khảo sát cách xử trí khi bị sốt của người dân ở xã thủy vân huyện hương thủy tỉnh thừa thiên huế - Pdf 19



1
ĐẶT VẤN ĐỀ

William Osler đã từng đưa ra nhận định “Nhân loại chỉ có ba kẻ thù
lớn: sốt, nạn đói và chiến tranh. Trong số đó kẻ thù lớn nhất và ghê gớm nhất
cho tới nay vẫn là sốt” [7].
Sốt là triệu chứng thường gặp trong nhiều bệnh trong đời sống của một
người không thể tránh khỏi không có triệu chứng sốt xảy ra và là triệu chứng
phổ biến gặp trong hầu hết các bệnh nhiễm trùng ở người lớn cũng như trẻ em
[12]. Sốt có nhiều nguyên nhân gây ra bởi một tác nhân nào đó, như nắng, nóng,
do phải làm việc ở ngoài trời hay thao tác công việc trong lò cao gây ra rối loạn
cơ quan điều nhiệt của cơ thể tại hành não, hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể
gây phản ứng tăng thân nhiệt để chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
Về bản chất, sốt là phản ứng có lợi cho cơ thể. Chỉ khi nào sốt cao và
rất cao (là biểu hiện rối loạn nghiêm trọng quá trình điều hoà thân nhiệt và
dẫn tới một loạt các rối loạn trầm trọng ở những cơ quan khác) thì mới cần
dùng đến thuốc hạ nhiệt và các thuốc cần thiết khác. Bởi vậy, trước mỗi
trường hợp sốt cần xác định rõ đó là sốt sinh lý hay sốt bệnh lý để có thái độ
xử lý đúng. Sốt làm cho mọi người lo ngại đa số người dân đều cho rằng sốt
là có hại. Vấn đề hiểu biết về sốt, cũng như cách xử trí ban đầu khi có người
trong gia đình bị sốt, không phải ai cũng làm được và làm đúng. Mặc dù trong
dân gian cũng có những phương pháp để hạ nhiệt với các bài thuốc nam thông
dụng nhưng không phải tất cả đều có thể áp dụng được. Nó còn phụ thuộc vào
nhận thức của mỗi người dân, phụ thuộc vào trình độ của mỗi người trong gia
đình. Đây cũng là những thử thách lớn cho ngành y tế của các nước đang phát
triển nói chung trong đó có cả ngành y tế của Việt nam. Để phát hiện sốt hàng
ngày tại gia đình, không nhất thiết phải sử dụng các trang thiết bị đắt tiền, các
kỹ thuật cao và chi phí thuốc men tốn kém, mà chỉ cần giáo dục cho người


nhánh sông Đại Giang và sông Như Ý
* Diện tích tự nhiên: 492 ha; sản xuất nông nghiệp chiếm 85%; ngành
nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp 15%
* Dân số: có 1448 hộ, gồm 6261 khẩu; trong đó nam: 2229 chiếm
35,60%; nữ: 4032 chiếm 64,40%
* Tình hình kinh tế: Nhân dân trong xã chủ yếu sống bằng nghề nông,
sản xuất nông nghiệp chiếm 85%, ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
chiếm 15%.
* Văn hóa giáo dục:
Trong xã có 1 trường cấp II, ba trường cấp I, 12 trường Mầm non. Xã
được phổ cập trung học cơ sở từ năm 2000. Xã có 4 niệm phật đường.
* Về y tế: Xã có 1 trạm y tế cấp 4, hiện đang xây dựng mới một trạm y
tế qui mô hơn, trạm y tế nằm ở trung tâm của xã. Biên chế của trạm gồm: 01
bác sĩ, 01 y sĩ đa khoa, 01 nữ hộ sinh trung học, 01 dược sĩ trung học, 01 y sĩ
y học cổ truyền, có 04 y tế thôn bản, 10 cộng tác viên dân số.

4
1.2. SỐT
1.2.1. Sơ lƣợc lịch sử về sốt
Sốt chỉ xảy ra ở động vật có xương sống máu nóng và đã cùng tồn tại
từ khi có con người. Vì vậy có thể nói sốt là yếu tố chọn lọc trong quá trình
tồn tại và phát triển của loài người. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sốt,
trong đó có một số công trình nổi bật như:
Năm 1943 Menkin công bố tìm được chất Pyrexin có thể gây sốt khi
tiêm cho thỏ, nhưng về sau người ta tìm thấy chất này có hiện tượng dung nạp
và chỉ là độc tố của vi khuẩn [15].
Năm 1948 Beeson tìm ra chất gây sốt chiết xuất từ bạch cầu đa nhân

mức bình thường là 37
0
C đã xem như sức khỏe có vấn đề. Do vậy khi cặp
nhiệt độ tại nách với người khỏe mạnh bình thường nếu như có chỉ số thân
nhiệt trên, dưới 37
0
C là không có gì đáng lo ngại. Nhưng khi ta cặp nhiệt độ ở
miệng hay tại hậu môn mà chỉ số thân nhiệt là 37,2
0
C thì chắc chắn là cơ thể
đã bị sốt. Song cũng cần lưu ý một số chỉ số thân nhiệt thay đổi theo môi
trường như vào buổi sáng có thân nhiệt hạ hơn và cao lên vào buổi chiều hay
buổi tối. Thân nhiệt lấy ở hậu môn là chính xác nhất và thường cao hơn chỉ số
thân nhiệt lấy ở miệng là 0,3
0
C [15], [20].
Nhưng khi đo nhiệt độ ở miệng sau khi vừa uống nước nóng thì nhiệt
độ cũng có thể tăng cao, nếu không chú ý dễ nhầm tưởng là bị sốt. Thân nhiệt
có thể cao hơn bình thường, khi mặc quá nhiều quần áo làm da không thể tỏa
nhiệt ra môi trường, hay sau khi luyện tập, hoặc hoạt động mạnh. Khi thời tiết
nóng ấm cũng làm cho sự tỏa nhiệt của cơ thể chậm lại khiến tích nhiệt làm
cho thân nhiệt cao hơn bình thường. Trong các trường hợp hoạt động sinh lý
như khi phụ nữ rụng trứng hay khi hành kinh thân nhiệt thường tăng cao hơn
bình thường tới 0,5
0
C [15], [20 ].
Ngoài các trường hợp như vừa nêu trên nếu như thân nhiệt đo được có
chỉ số từ 37
o
2C – 37

khi bị sốt, ta cần đến cơ sở khám chữa bệnh để được khai thác các triệu chứng
và khám xét một cách toàn diện, được theo dõi và kịp thời xử trí đúng đắn.
* Theo thời gian
- Sốt cấp: < 10 ngày
- Sốt kéo dài: khi sốt trên 2 tuần [13]
* Diễn biến sốt
Theo mức độ:
- Sốt nhẹ: Nhiệt độ từ 37,6
o
C - < 38
o
C
- Sốt vừa: Nhiệt độ từ 38
o
C - < 39
o
C
- Sốt cao: Nhiệt độ từ 39
o
C - < 41
o
C
- Sốt rất cao: Nhiệt độ  41
o
C [18].
7
1.2.2.3. Cơ chế sinh sốt

Có một số ít bệnh nhiễm trùng ở người, trong đó sốt cao rõ ràng tỏ ra
có lợi cho người bệnh, một số hình thái viêm khớp mạn tính và ung thư lan
rộng, một số bệnh khác như viêm màng bồ đào và viêm khớp dạng thấp chẳng 8
hạn, đôi khi được cải thiện sau khi dùng liệu pháp gây sốt. Các đáp ứng miễn
dịch đặc hiệu tăng lên khi thân nhiệt cao, cũng như các quá trình dị hóa huy
động các axit amin từ cơ. Người ta quan sát thấy những gia tăng không đáng
kể trong hoạt động thực bào và hóa ứng động bởi các bạch cầu đa nhân của
người trong giai đoạn ủ bệnh của sốt. Những người già yếu và mắc bệnh
nhiễm trùng có thể sốt ít hoặc không sốt và điều này thường được nhận định
như một dấu hiệu tiên lượng xấu [3], [5].
* Tác hại của sốt
Sốt gia tăng nhiều quá trình chuyển hóa, sức làm việc và nhịp tim gia
tăng, tiết mồ hôi làm mất thêm nhiều muối và nước. Có thể có tình trạng khó
chịu do nhức đầu, sợ ánh sáng, toàn thân mệt mỏi, hoặc mất cảm giác nóng
một cách khó chịu. Sốt có thể thúc đẩy các cơn co giật ở những người động
kinh. Rét run và vã mồ hôi của những cơn sốt nhiễm khuẩn là đặc biệt khó
chịu đối với người bệnh. Ở người cao tuổi đang mắc bệnh tim hay bệnh mạch
não có thể là đặc biệt nguy hại [3],[5].
1.2.2.5. Cách đo thân nhiệt
Theo Phan Xuân Trung [21] nếu nghi ngờ trẻ có sốt nên để bàn tay vào
trán trẻ, nếu có cảm giác nóng nực tức là trẻ đã sốt, sau đó ta nên cặp nhiệt độ
để biết chính xác trẻ sốt bao nhiêu độ.
Các loại nhiệt kế thường dùng để đo thân nhiệt.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thiết bị sử dụng để đo nhiệt
độ. Dưới đây là một số loại phổ biến:
- Nhiệt kế thủy ngân: Đây là loại rất thông dụng, nhưng khi sử dụng
cho trẻ phải lưu ý vì nhiệt kế vỡ, thủy ngân sẽ gây độc cho trẻ.

)

mới đọc kết quả. Cộng thêm 0,5
0
C để có
được nhiệt độ trung tâm.
Đo ở tai:
Gần đây trên thị trường xuất hiện loại nhiệt kế điện tử đặc biệt để đo ở
tai trẻ. Ưu điểm của thiết bị này là ít gây khó chịu cho trẻ, cho kết quả nhanh
hơn và không gây nguy hiểm ( làm thủng màng nhĩ ). Tuy nhiên, số đo có thể
dao động nếu cha mẹ đặt nhiệt kế không đúng vị trí hoặc trẻ quá bé ( dưới 3
tháng tuổi ). Để đo được chính xác ta làm sau:
Đặt trẻ ngồi ở tư thế thẳng đứng. Trẻ dưới 1 tuổi ống tai xu thế hướng
ra trước, do đó khi đo phải kéo vành tai ra hướng sau so với lỗ tai. Trẻ trên 1
tuổi thì ống tai có xu hướng chúc xuống nên khi đo phải kéo vành tai lên trên. 10
Nhiệt độ hai bên tai trái và phải không giống nhau, do đó phải đo một bên
nhất định [21].
1.3. XỬ TRÍ SỐT
1.3.1. Các vấn đề thƣờng gặp trong khi xử lý sốt
Như vậy nếu bệnh nhân sốt cao thì ta có nên luôn cố gắng hạ nhiệt không?
Sốt thông thường ít gây tác hại, không gây khó chịu và lại có thể có lợi
đối với các cơ chế phòng vệ của vật chủ, cho nên dùng thuốc hạ nhiệt không
phải là điều cốt yếu giúp cho người bệnh dễ chịu và lại có thể gây nhiễu đối
với hiệu quả của một tác nhân trị liệu đặc hiệu hoặc đối với diễn biến tự nhiên
của bệnh. Tuy vậy, có những tình huống trong đó việc giảm thân nhiệt lại có
một tầm quan trọng sống còn ví dụ trúng nóng, sốt cao sau mổ, hôn mê do
sốt cao, các cơn co giật hoặc sốc có kèm sốt và suy tim. Trong các điều kiện

Nhiều bậc cha mẹ, thấy con sốt cao, rờ tay chân thấy lạnh ngắt. Đó là do
nhiệt độ cao khiến trẻ ớn lạnh. Không được quấn trẻ quá nhiều. Quấn trẻ trong
chăn nhiều quá, sức nóng không có đường ra được, chỉ còn một con đường thoát
là dồn lên não [10], [20].
Về vấn đề dinh dưỡng, phải khuyến khích trẻ ăn uống bình thường, bú sữa mẹ.
Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rối
loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng
nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng. Cho trẻ
uống nhiều nước như uống nước dừa, sữa, nước trái cây.
Ngoài nước ra, các loại nước này còn bổ sung thêm năng lượng, chất
bổ, vitamin Trẻ 15 tuổi, khi bị sốt, có thể uống 5 - 6l nước mỗi ngày là
chuyện bình thường. Nhưng phải cho trẻ ăn no trước, rồi mới cho trẻ uống
nước [10], [11], [20].
1.3.3. Những cây thuốc Nam và bài thuốc Nam hạ sốt thông dụng
+ Cây nén
Cây nén thuộc họ hành tỏi (Liliaceae) còn gọi là hành tăm. Thân giả,
chiều cao cây tùy thuộc vào mức độ chăm sóc trung bình từ 20-35 cm. Lá nén 12
dạng hình mũi kim. Củ màu trắng có vỏ mỏng bao bọc. Lá nén, củ nén nấu
đường, nấu cháo, nấu canh cá vừa thơm, ngọt lại là phương thuốc có tác dụng
giải cảm tốt. Lá, củ nén có chứa tinh dầu như hành, tỏi. Trong tinh dầu có
allylpropyl disulfua, diallyl disulfua và các hợp chất chứa lưu huỳnh khác có
đặc tính sát khuẩn. Do vậy người ta coi nén là một vị thuốc Nam dùng để trị
ho, cảm cúm [8].
+ Cây cúc tần
Cây cúc tần còn gọi là cây từ bi, cây lức có tên khoa học Pluchea
indica Less thuộc họ cúc (Compositae). Ở nước ta cây mọc hoang và được
trồng khắp nơi, thường trồng làm hàng rào cây xanh và lấy lá làm thuốc [8].

dân trong cộng đồng có rất nhiều mặt tích cực với các loại cây thuốc do người
dân sử dụng trong hạ sốt chanh, nén, tía tô, ngãi cứu cho kết quả tốt [17].
14
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Vài nét về đối tƣợng nghiên cứu
Xã Thuỷ Vân huyện Hương Thuỷ được chúng tôi chọn lựa làm địa
điểm nghiên cứu. Đây là một xã đồng bằng cách trung tâm thành phố khoảng
3km. Dân số 6261 người, cơ cấu về kinh tế, văn hoá, xã hội rất phong phú.
Phương tiện đi lại dễ dàng.

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2008 đến tháng 2/2009
2.2.3. Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
2.2.3.1. Cỡ mẫu

2
2
2
)1(
d
PP
Zn




Với n: là cỡ mẫu đại diện tối thiểu
p: là tỷ lệ hiện mắc sốt đã nghiên cứu trước đó trong cộng đồng.
Giả sử p = 0,5.
d: Độ sai lệch nghiên cứu mong muốn chọn d = 0,01. Tương ứng
với độ tin cậy 95%. Ta có
96,1
2


Z

Vậy
100
)1,0(
5,05,0

khảo sát hành vi và thói quen của họ (từ câu 17 đến câu 25).
2.3.2. Tiến hành điều tra
2.3.2.1. Thành lập nhóm để điều tra
Địa bàn điều tra tương đối rộng, đối tượng điều tra bận rộn nhiều công
việc. Do đó để tiếp cận được với đối tượng để điều tra tương đối khó. Vì vậy
chúng tôi thành lập nhóm điều tra.
Mỗi nhóm điều tra của chúng tôi gồm:
- Người nghiên cứu
- Một cộng tác viên tại địa phương (có thể là cán bộ y tế xã hoặc cộng
tác viên dân số)
- Một người có uy tín trong thôn đã hỗ trợ cho chúng tôi trong việc tiếp
cận đối tượng. 17
2.3.2.2. Làm việc với chính quyền địa phương tại xã và các thôn để thu thập
danh sách các đối tượng dự kiến được chọn thông qua danh sách bầu cử tại
địa phương
2.3.2.3. Thảo luận phương pháp làm việc với công tác viên và y tế địa
phương về bộ câu hỏi và phương pháp phỏng vấn để sử dụng bộ câu hỏi thu
thập thông tin một cách hiệu quả. Sau đó phỏng vấn thử 10 người để điều
chỉnh nội dung bộ câu hỏi và phương pháp phỏng vấn.
2.3.2.4. Tiếp xúc phỏng vấn đối tượng
Nhóm điều tra đến từng hộ gia đình có đối tượng được nghiên cứu để
trực tiếp phỏng vấn đối tượng và điền vào phiếu điều tra.
2.3.3. Cách đánh giá và nhận định kết quả
Đánh giá dựa vào các thái độ xử lý khi bị sốt.
- Kiến thức chung về sốt
+ Biết được đối tượng có nguy cơ cao bị sốt
+ Biết sử dụng nhiệt kế để lấy thân nhiệt khi bị sốt


3.1. ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố theo giới
Bảng 3.1. Phân bố theo giới
Giới
n
Tỷ lệ %
Nữ
168
84,85
Nam
30
15,15
Tổng
198
100,00 Nhận xét: Trong 198 đối tượng được phỏng vấn nữ chiếm 84,85%,
nam chiếm 15,15%
3.1.2. Phân bố theo tuổi
Bảng 3.2. Phân bố theo tuổi
Tuổi
n
Tỷ lệ %
20-30
47
23,73
31-40
102

THPT
26
13,12
Đại học
8
4,04
Tổng
198
100,00

Nhận xét: Đối tượng phỏng vấn có trình độ THCS chiếm tỷ lệ cao
nhất 63,64%, trình độ đại học có 8 đối tượng chiếm 4,04%.
3.1.4. Nghề nghiệp
Bảng 3.4. Nghề nghiệp
Nghề nghiệp
n
Tỷ lệ %
Nông nghiệp
88
44,44
Nội trợ
50
25,25
Buôn bán
38
19,19
CBCNV
22
11,12
Tổng

đương nhau ( 44,44% và 46,46%); ≤ 2 người chiếm tỷ lệ thấp (2,02%).
3.2. KIẾN THỨC VỀ SỐT
3.2.1. Đối tƣợng bị sốt
Bảng 3.6. Đối tƣợng bị sốt
Đối tƣợng bị sốt
n
Tỷ lệ %
Trẻ em
190
95,96
Người lớn
7
3,54
Người già
1
0,51
Tổng
198
100,00

Nhận xét: trẻ em là đối tượng hay bị sốt nhất chiếm tỷ lệ 95,96%, chỉ
có 1 trường hợp người già chiếm 0,51%.

22

0
0,00
Dưới lưỡi
0
0,00
Sờ trán + kẹp nhiệt kế
16
33,33
Tổng
48
100,00

Nhận xét: Khi nhận biết người bị sốt, có 22 đối tượng sử dụng nhiệt
kế chiếm tỷ lệ 45,84%, phối hợp dùng nhiệt kế và sờ trán chiếm tỷ lệ 33,33%. 23
3.2.4. Thời gian đo nhiệt kế
Bảng 3.9. Thời gian đo nhiệt kế
Thời gian đo nhiệt kế
n
Tỷ lệ %
3 phút
13

C
18
9,09
Không biết
13
6,57
Tổng
198
100,00

Nhận xét: Có 18 đối tượng (chiếm tỷ lệ 9,09%) phỏng vấn cho rằng
nhiệt độ cơ thể > 39
0
C mới gọi là sốt, có 13 trường hợp không biết nhiệt độ
nào chiếm 6,57%.

24
3.2.6. Nhận định sốt
Bảng 3.11. Nhận định sốt
Nhận định sốt
n
Tỷ lệ %
Có lợi
0


Nhận xét: “Nằm phòng thoáng mát” chiếm tỷ lệ cao 62,63%; “Nới
rộng quần áo” chiếm tỷ lệ 43,94%; “mặc quần áo kín sợ gió” chiếm tỷ lệ
26,26%, “đắp chăn” chỉ có 1 ý kiến chiếm 0,51%.
25
3.3.2. Biện pháp để hạ sốt
Bảng 3.13. Biện pháp để hạ sốt
Biện pháp để hạ sốt
n
Tỷ lệ %
Lau bằng nước ấm
133
67,17
Xoa chanh lên người
132
66,67
Đưa đến cơ sở y tế
58
29,29
Đắp đá để hạ nhiệt
Cạo gió chích lễ
29
5
14,65
2,53

Nhận xét: Với các biện pháp để hạ sốt, các đối tượng được phỏng vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status