ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
LÊ THỊ TRANG
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG
CỦA NHÂN DÂN XÃ VINH THANH, HUYỆN PHÚ
VANG,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Việt Nam
KHÓA: 34 (2010 – 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
ThS. NGUYỄN THU HẰNG
HUẾ, 05/2014
Để hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự nổ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô giáo, các Cô,
Chú trong uỷ ban nhân dân xã Vinh Thanh cũng như gia đình và bạn bè.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể Thầy, Cô
giáo trong khoa Lịch Sử, trường Đại học Khoa học Huế, những người đã
giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi học tập ở trường.
Tôi xin cảm ơn Thư viện và phòng Tư liệu khoa Lịch sử, trường Đại
học khoa học Huế đã tạo điều kiện giúp tôi trong việc tìm kiếm tư liệu.
Cảm ơn Uỷ ban nhân dân xã Vinh Thanh đã giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian đi thực địa.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Ths
Nguyễn Thu Hằng đã giành nhiều thời gian chỉ bảo tận tình trong suốt
thời gian tôi làm báo cáo.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng đề tài không thể tránh những
1.2.1.2 Thủ công nghiệp 9
1.2.1.3 Thương nghiệp 10
1.2.2 Tình hình xã hội 10
1.2.2.1 Dân cư 10
1.2.2.2 Quá trình tụ cư lập làng và tên gọi hành chính qua các thời kỳ 12
CHƯƠNG 2 14
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN 14
XÃ VINH THANH GIAI ĐOẠN 1930 – 1939 14
2.1 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh
trước năm 1930 14
2.1.1 Chính sách tô thuế và đời sống nhân dân 14
2.1.2 Truyền thống đấu tranh và phong trào yêu nước chống áp bức giai cấp và kẻ
thù dân tộc 18
2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1939 19
2.2.1 Tình hình chung 19
2.2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1935 20
2.2.3 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1936 – 1939 23
2.3 Nhân dân Vinh Thanh xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tiến tới tổng khởi
nghĩa giành chính quyền năm 1939 – 1945 25
CHƯƠNG 3 27
PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở XÃ VINH THANH, HUYỆN PHÚ VANG
GIAI ĐOẠN 1939 – 1945 27
3.1 Tình hình chung 27
3.2 Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1939 -
1945 28
3.3 Vinh Thanh trong cách mạng tháng Tám năm 1945 30
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 36
MỞ ĐẦU
này. Ở địa phương hầu như không còn lưu lại một tài liệu gì, do thời gian chiến tranh
đã quá lùi xa, hơn nữa, trải qua thiên tại, địch họa nên tài liệu hầu như bị mất mát và
1
tiêu hủy toàn bộ. Như vậy đề tài mà tôi đang nghiên cứu dường như còn ở dạng tiềm
ẩn chưa được khai thác hoặc mới chỉ được viết một cách tổng quát trong các tập Lịch
sử Đảng bộ của Tỉnh, huyện như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế tập 1, Lịch
sử Đảng bộ xã Vinh Thanh tập 1. Mặc dù các công trình này mới chỉ nêu tổng quát
phong trào đấu tranh cách mạng chung của huyện, tỉnh, nhưng cũng là nguồn tư liệu
quý để tôi kế thừa, chọn lọc và hoàn thành bài báo cáo của mình.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nhằm đi sâu tìm hiểu những trang sử đầy sinh động, phong phú và vẻ vang
của xã Vinh Thanh trong công cuộc chống Pháp giai đoạn 1930 – 1945, Từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm quý báu về đường lối lãnh đạo và sự chỉ đạo nhạy bén
của chi bộ Đảng, lòng gan dạ, ý chí kiên cường, dũng cảm của quân và dân xã Vinh
Thanh. Bên cạnh đó còn khẳng định vai trò và tinh thần đoàn kết của nhân dân Vinh
Thanh trong giai đoạn này.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 1930 – 1945.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Địa bàn xã Vinh Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên
Huế hiện nay.
Về thời gian: Từ 1930 – 1945.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, tôi đã sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp
điền dã, các phương pháp khoa học chuyên ngành như: Phương pháp Lịch sử,
phương pháp logic, thống kê, so sánh… để hoàn thành đề tài này.
5. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu địa phương: Trong quá trình thực tập tôi đã tiếp cận địa bàn và
Tây giáp sông rộng; Nam kề xứ Hà Úc, Can Lô và Bắc giáp Xuân Thiên, Cây Lục,
Bàu Nổ [2, tr. 5].
Nằm trên dải đất hẹp, hai phía Đông Tây bị bao bọc bởi biển cả, phá lớn;
phía Bắc và phía Nam nối liền với hai xã Vinh Xuân và Vinh An chạy dài nối tiếp
với các xã Vinh Hưng, Vinh Mỹ (về phía Nam); Phú Diên, Phú Thuận (về phía
Bắc), làm thành một dải xóm làng, vành đai dọc theo miền duyên hải đầm phá của
huyện Hương Phú.
1.1.2 Địa hình
Thuộc vùng duyên hải miền Trung, vì vậy địa hình của Vinh Thanh tương
đối bằng phẳng, có ít diện tích là đầm phá, có độ nghiêng dần từ Tây sang Đông,
nhưng sự chênh lệch không lớn lắm. Tuy được bao bọc bởi phá Tam Giang nhưng
lại chịu nhiều khó khăn của biển đem lại, đặc biệt việc xây dựng các hệ thống thuỷ
lợi tương đối khó khăn. Điều đó làm cho sản xuất nông nghiệp ở đây càng lệ thuộc
vào thiên nhiên, nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng chủ yếu dựa vào mưa, nguồn
nước ngầm, ao hồ…, dùng sức người gánh tưới.
Vậy xét về mặt cấu tạo địa hình xã Vinh Thanh có thể được phân chia thành
4 khu vực sau:
- Chạy suốt biển Đông là vùng cát, cây lâm nghiệp.
- Trải dài theo tỉnh lộ 49 là đất khu dân cư xen lẫn đất vườn.
- Hai phía khu dân cư là đất chuyên dùng trong trồng trọt.
- Nằm giữa là khu trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá.
4
Nhìn chung, kết cấu chủ yếu là đất cát pha, độ phì nhiêu thấp, địa hình có độ
dốc tương đối lớn, diện tích đất đai không lớn nhưng gồm nhiều loại, thuận lợi cho
việc bố trí nhiều loại cây trồng, vật nuôi.
1.1.3 Khí hậu
Xã Vinh Thanh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm của vùng
duyên hải miền trung. Nhiệt độ trung bình hằng năm trên 25
0
C, cao tuyệt đối là
Vào mùa hè, xã Vinh Thanh cũng chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nhưng
đã phần nào giảm bớt sự khô nóng do luồng gió đã thổi qua vùng đầm phá và biển
cả, sông lớn nên Vinh Thanh cũng như bao làng quê dọc doi cát vùng duyên hải
Hương Phú được môi trường tự nhiên điều hoà, làm giảm bớt đi sự khắc nghiệt của
hai mùa khí hậu trong năm. Toàn xã lúc đầu chỉ là một vùng đất cát, nhưng con
người đã đến đây sinh sống và làm ăn được bởi là một vùng cát ẩm, không khô
nóng như những vùng đất khác, tạo điều kiện cho nhân dân trong việc đánh bắt và
nuôi trồng thuỷ hải sản, thuận lợi trong việc trồng hoa màu, rau quả và đặc biệt
5
vùng quê nổi tiếng với nghề nấu rượu. Tuy nhiên, con người ở đây cũng phải hứng
chịu nhiều thử thách nghiệt ngã của môi trường tự nhiên đem lại. Mùa hè chịu cái
nắng gió của đại dương và hứng chịu luôn những trận bão cát, gió xoáy. Nương
vườn, đồng ruộng, kênh rạch thường hay bị cát vùi lấp, ảnh hưởng trực tiếp đến cây
trồng, độ màu của đất. Các tháng 9, 10, 11 thường có bão, nước dâng làm nhà cửa,
cây cối bị phá huỷ, đồng ruộng bị nhiễm mặn… làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống con người và sự giao lưu với môi trường xung quanh. Mùa mưa bão nơi đây
như bán đảo chơ vơ giữa đại dương bao la.
1.1.4 Thuỷ văn
Với vị trí địa lí này, thiên nhiên đã ưu đãi cho Vinh Thanh nhiều điều kiện
thuận lợi để sinh tồn và phát triển. Cánh đồng Trầm Niên, nguyên xưa là một con
hói lớn, có đủ nước tưới, qua nhiều năm tháng nó đã bị bồi lắp cạn dần, con người
khai thác tạo nên những ruộng đồng. Biển cả, đầm phá Tam Giang là nguồn tiềm
năng vô tận mà xưa nay cha ông ta đã khai thác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của
mình, một phần đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.1.5 Thổ nhưỡng
Xã Vinh Thanh có đất tự nhiên không nhiều, chủ yếu lại là cát và một phần
bị nhiễm mặn cho nên diện tích trồng trọt ít đến nay chỉ chiếm 40% diện tích toàn
xã. Đất ở đây thuộc dạng địa hình bồi tụ có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài,
phức tạp, do các trầm tích sông, biển, vùng vịnh hỗn hợp tạo thành. Cùng với quá
trình lắng đọng trầm tích do phù sa, gió bão đã làm cạn dần và thu hẹp diện tích
Trước hết, về kinh tế, xã Vinh Thanh có điều kiện để phát triển một cơ cấu
ngành nghề khá phong phú gồm: nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và cả thương
nghiệp. Tuy đất đai canh tác ít, phần lớn là cát và cát pha, ruộng ít nhưng từ xưa
nhân dân ta đã khai thác, tận dụng đất đai để trồng lúa. Đó là cánh đồng Trầm Niên,
đặc biệt trước phá Tam Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, không bị ngăn
cách bởi gò cao hay đầm trũng hình thành những thửa ruộng liền bờ thuận lợi cho
việc sử dụng máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp trong tương lai. Địa hình Vinh
Thanh có độ nghiêng dần từ Tây sang Đông nên cánh đồng trước phá cao hơn, hằng
năm thường gặp hạn gây trở ngại cho sự phát triển cây lúa. Cánh đồng Trần Niên
trũng hơn bởi nguyên xưa là một con hói lớn, trải nhiều năm bị bồi lấp cạn dần, con
người khai thác tạo nên những ruộng đồng, ruộng cấy lúa nhưng độ màu kém, hiện
tượng nhiễm mặn cũng đang xảy ra, năng suất thấp. Ngày xưa làng quê chỉ toàn
ruộng loại 3, 4 vì thế lúa gạo hiếm, thường không đủ cung cấp cho nhân dân trong
xã. Hạt gạo được làm ra là cả một quá trình gian khổ của người nông dân chống lại
sự khắc nghiệt của tự nhiên.
Tiếp đến, biên giới xã Vinh Thanh có chiều dài hơn 3km là biển, phía Tây là
phá Tam Giang. Ngoài những khó khăn, thử thách do sông, biển gây nên, người dân
7
Vinh Thanh từ buổi lập ấp đã biết khai phá nguồn lợi của biển, đầm phá, bắt nó phải
phục vụ cho cuộc sống của mình. Dừng chân chọn mảnh đất nơi đầu sóng ngọn gió
– giữa biển cả và sông lớn chứng tỏ cha ông ta đã sẵn sàng đón nhận những thử
thách, khó khăn đồng thời cũng biết tìm cách chế ngự, khai thác nguồn lợi vô tận
trong lòng sông, biển. Cùng với việc mở mang ruộng đồng, phát triển nghề nông,
nghề đánh bắt cá và các loại thuỷ sản cũng ra đời. Đặc biệt nhân dân Vinh Thanh
còn có kinh nghiệm lâu đời trong việc chế biến các loài sản vật thành một mặt hàng
trao đổi, buôn bán phong phú và quan trọng, để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
đời sống nhân dân và làm giàu thêm cho quê hương. Những năm gần đây, nhân dân
trong xã đã từng bước củng cố và phát triển, tổ chức lại sản xuất theo phương
hướng mới, đưa dần năng suất và sản lượng đánh bắt cá hằng năm, đó là thế mạnh
trong sự phát triển kinh tế của xã từ xưa cho đến nay.
và cũng không có sự manh mún 1 hoặc 2 sào như nhiều làng quê khác. Theo thống
kê ruộng đất năm 1811, phường có 66 mẫu 1 sào 7 thước 5 tấc ruộng tư. Cuối thế
kỷ XIX, ruộng đất tư phường có 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc 5 phân 2 ly.
Trước sau làng bị nước mặn của biển cả, đầm phá bao bọc. Đất đai nhiều
nhưng độ màu mỡ ít nên làng sử dụng những cánh đồng trũng gần đầm lạch, tiện
nguồn nước hoặc bãi bồi trước phá có độ ẩm lớn, màu mỡ để cấy lúa. Những cánh
đồng cao không có nước được người dùng đôi thùng gánh nước để tưới cho cây lúa.
Để khai thác hết đất đai, tăng thêm nguồn lương thực, người dân trồng thêm
các loại hoa màu: ngô, khoai, sắn, đậu mà nhiều nhất là khoai trên ruộng 1 vụ lúa để
vừa tăng thu nhập vừa cải tạo đất… Ngoài ra trong vườn nhà, đều được trồng các
loại rau quả, cây gia vị, cây ăn quả. Những năm đầu thế kỷ XX, dân làng còn học
thêm nghề trồng dâu nuôi tằm nhưng không phát triển được nghề ươm tơ dệt vải lụa
mà phải bán tằm và kén cho làng Mỹ Lợi.
Trước năm 1975, dân làng còn trồng cây thuốc lá cung cấp cho nhu cầu địa
phương và các làng lân cận. Nghề chăn nuôi chủ yếu là trâu bò lợn gà để hỗ trợ cho
việc làm ruộng và cung cấp thực phẩm. Theo thống kê của làng năm 1916, cả ấp khi
ấy có 201 gia đình nuôi được 39 con trâu, 63 con bò, bình quân hai nhà có 1 con.
Lợn thì nuôi phổ biến hơn, hầu như gia đình nào cũng nuôi, có khi đến 5 – 6 con.
Vinh Thanh là nơi cung cấp lợn giống cho nhiều làng xã trong tỉnh…
Bờ biển bãi ngang và phá Tam Giang rộng là ngư trường thuận lợi cho việc
đánh bắt thuỷ hải sản. Văn bản thời Vĩnh Thịnh đã nói đến nghề ngư trong xã. Họ
dùng thuyền nhỏ bủa lưới hoặc đi câu cá ngoài biển. Tuy nhiên, số lượng ngư dân
chuyên nghiệp đánh bắt cá biển không nhiều, quy tụ lại thành một xóm nhỏ và trở
thành những chủ ghe thuyền. Ra đời sớm nhưng nghề ngư phát triển chậm.
1.2.1.2 Thủ công nghiệp
Các tư liệu của làng cũng như ghi chép trong sử sách có nhắc đến nghề làm
muối khá phát triển của làng. Những ruộng nào không trồng lúa được vì nhiễm mặn
9
thì cư dân tận dụng vào việc sản xuất muối. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cho
biết, “Về thuế diêm đinh, làng Hà Thanh (Vinh Thanh ngày nay), huyện Hương Trà,
Trải qua mấy trăm năm xây dựng và phát triển, từ một ấp với vài chục dân
định cư, nay Vinh Thanh trở thành một trong những xã lớn của huyện Phú Vang,
với số dân trên 10.000 người, hơn một nửa số làm nghề buôn bán nhỏ.
10
Buổi đầu lập làng, đại diện của hai dòng họ Nguyễn Công và Phan Bá đã kêu
gọi và khuyến khích bà con, họ hàng mình đi di dân khẩn hoang, vì thế dân cư lúc
này còn rấy thưa thớt, nhưng số dân di cư vào đã tăng dần theo cấp số nhân. Đó là
kết quả của tấm lòng cởi mở, nhiệt tình của cha ông ta, luôn sẵn sàng đón nhận, thu
nạp dân di cư từ các vùng, miền đến đây sinh sống, làm ăn. Vì vậy mà mảnh đất này
phát triển một cách nhanh chóng cả về dân cư lẫn lãnh thổ ở thế kỷ XIX. Tờ khai
dân số của Vinh Thanh vào năm 1813 cho biết, khi ấy Vinh Thanh chỉ có 21 dinh.
Sau 5 năm từ năm 1819 số dân đinh của phường là 52 người, đến năm Tự Đức thứ
24 (1880) dân đinh các loại là 81 người. Sang thế kỷ XX, tốc độ tăng dân số của xã
rất nhanh, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số mới hơn 1000 người 30
năm sau – năm 1975 toãn xã có 6800 người. Qua 3 đợt phân bố lại năm 1976, 1977,
1978, chi bộ và chính quyền đã vận động bà con đi xây dựng vùng kinh tế mới, vì
vậy số dân giảm xuống còn 5700 người. Những năm 1997, 1998 số dân của xã vượt
quá con số 6000 người [2, tr. 19 – 20] và cho đến nay tổng số dân của xã vượt tầm
10000 người. Sự biến động dân số theo chiều tăng dần của Vinh Thanh là nguồn bổ
sung sức lao động cần thiết để khai thác xây dựng quê hương.
* Về nguồn gốc dân cư và thành phần dân cư
Là những người dân đi theo chính sách khuyến khích di dân, khẩn hoang, lập
làng. Vì vậy mà phần lớn cư dân xã Vinh Thanh trong buổi đầu đều có quê gốc từ
Thanh Hoá vào. Gia phả họ Nguyễn Công và Phan Bá đều cho biết, tổ tiên của họ
đều là người làng Thanh Đồng, tổng Ngọc Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
Các họ Trần, Đỗ, Lê, Huỳnh đều từ đất Thanh Hoá tới. Tất nhiên, những người ra đi
đến đây vào những thời gian khác nhau và hoàn cảnh khác nhau. Ngoài một số
người là bộ khúc, nghĩa dũng đi cùng Nguyễn Hoàng được họ Nguyễn trọng dụng
và ưu đãi, còn phần đông là các gia đình nông dân nghèo bị chính sách thuế khoá,
binh dịch của chính quyền Lê Trịnh làm cho kiệt quệ, đói khổ, xô đẩy đến con
trên cương vực và cư dân như cũ, tên gọi Hà Thanh chính thức đổi thành xã Vinh
Thanh, tức xã Vinh Thanh đã được tách ra từ Phú Ngạn (Vinh Xuân, Vinh Thanh,
Vinh An).
Mặc dù có sự thay đổi về tên gọi, nhưng đến nay làng Hà Thanh vẫn giữ
nguyên cương vực và đã trở thành một làng độc lập với tên gọi làng Hà Thanh – xã
Vinh Thanh.
Xã Vinh Thanh được thành lập sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Đó chỉ là sự đổi tên của phường Hà Thanh thời phong kiến hay xã Hà Thanh trước
đây. Như thế, trong lịch sử hình thành Vinh Thanh vừa là xã đồng thời cũng là một
làng với cương vực và cư dân ngày càng phát triển nhưng không có biến động lớn.
Đó là một nhân tố tạo nên sự phát triển thống nhất, mối liên hệ chặt chẽ trong cộng
đồng cư dân về tâm lí tình cảm biểu hiện phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá và
cả trong hoạt động kinh tế. Trải qua mấy trăm năm xây dựng và phát triển, từ một
12
ấp với vài chục dân đinh nay Vinh Thanh trở thành một trong những xã lớn của
huyện Hương Phú. Hơn nữa, số lao động là nông dân tập thể, số còn lại là ngư dân,
thợ thủ công và một số làm nghề buôn bán nhỏ. Sự phát triển của Vinh Thanh ngày
nay là sự kế thừa, tiếp tục quá trình hoạt động của tập thể cư dân mà cha ông đã
từng gắn bó với nhau trong suốt chặng đường khai phá, tạo dựng quê hương. Từ
một địa bàn hẻo lánh nằm kề bên biển và phá Tam Giang, cồn hoang, sú vẹt bao
phủ, cha ông ta đã chung sức lao động, bám trụ, làm chủ mảnh đất gây dựng, phát
triển phường ấp mấy trăm năm nay.
13
CHƯƠNG 2
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN
XÃ VINH THANH GIAI ĐOẠN 1930 – 1939
2.1 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Vinh
Thanh trước năm 1930
2.1.1 Chính sách tô thuế và đời sống nhân dân
Xã Vinh Thanh tuy thành lập không sớm, nhưng từ lâu nó đã trở thành đơn
đều bổ về các gia đinh tự lo toan gánh vác.
Ngoài thuế đinh, người nông dân còn phải đóng một khoản nặng nề là thuế
điền đánh vào tư liệu sản xuất chính là ruộng đất. Căn cứ vào bộ điền của làng có
phân thành các hạng, các nhà nước bổ thuế. Chính quyền cấp trên không trực tiếp thu
từng chủ ruộng mà giao cho đội ngũ quản lí xã thôn đứng đầu là xã trưởng hay lí
trưởng chịu trách nhiệm thừa hành công việc này. Họ đôn đốc, bắt ép bằng mọi hình
thức để buộc mọi người trong làng phải làm trọn nghĩa vụ tô thuế. Có hiện tượng lý
trưởng, ngũ hương cùng với lão hạng và dân phường xã ẩn dấu bớt đinh và điền để
đỡ gánh nặng cho dân và đội ngũ lý hương cũng có điều kiện kiếm chác đựơc. Vài
thế kỷ trước, ruộng đất ở quê ta không ít so với số dân lúc ấy nhưng vì đất đai không
màu mở, không có nhất, nhị đẳng điền. Mức thuế đóng đều là ruộng loại 3, 4 nhưng
năng suất lúa thấp hơn lượng thuế đó vẫn là quá nặng đối với người cày ruộng. Mặc
khác, phần đông người nghèo quê ta không có ruộng, phải lĩnh canh, cày thuê của các
chủ ruộng mà mức thu sản phẩm của họ tất nhiên phải lớn hơn mức thuế họ nộp cho
nhà nước. Thu nhập của người nghèo quá ít ỏi nên đời sống thấp. Hằng năm nhân dân
ta phải đóng góp khoản thóc và tiền thuế ruộng đất khá lớn. Riêng năm 1891, cả ấp
chỉ có 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc 5 phân ruộng đất tư, trong đó ruộng tư 98 mẫu 3
sào 5 thước 2 tấc 5 phân 2 ly toàn là loại 3 và 4 mà phải nạp cả thảy 1689 thăng 3 hợp
6 đấu thóc cộng thêm 29 quan 5 tiền 1 đồng; đất tư có 17 mẫu 6 thước 7 tấc, tiền thuế
phải nạp 18 quan 7 tiền 30 đồng. Đó là con số ghi trên sổ sách, thực tế có khi nhân
dân phải đóng góp nhiều hơn vì sự tham nhũng của quan lại, nhân dân thu thuế, của
lý hương ở xã thôn… Vì tô thuế nặng nề đã làm cho đời sống của nhân dân quê ta
cũng như nhiều vùng quê thuở đó đói khổ, túng thiếu [2, tr. 45].
Ngoài thuế đinh và điền là hai khoản đóng góp lớn nhất, nhà nước còn đặt
thêm nhiều khoản phụ thu thóc bóc lột nhân dân và đặt ra nhiều thứ thuế đánh vào
mọi nghề làm ăn. Ở quê ta, những người làm nghề đánh bắt cá trên sông, biển, chính
quyền chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này căn cứ vào số thuyền, số lưới để định
mức thuế bằng tiền và nước mắm hằng năm. Lê Quý Đôn cho biết, dưới thời các
chúa Nguyễn “các xã ven biển trấn Thuận Hoá gián hoặc có xã theo nghề đánh cá thì
chiếu theo thuế mắm. Lấy số người và lấy có lưới hay không có lưới làm chuẩn.
lăng tẩm và phục vụ trong các cung, phủ… với số ngày quy định chung. Nhiều
người vì phải lao động nặng nhọc ở đây “rừng thiêng nước độc” ăn uống thiếu thốn
đã đau ốm, bệnh tật thậm chí có người phải giữ lại nắm xương tàn nơi “đất khách
quê người”. Bên cạnh đó, nạn bắt lính cũng trở nên nỗi lo âu đối với bao thanh
niên,trai tráng. Số dân phường ấp chúng ta không đông nhưng thời nào cũng thấy số
người tại ngũ khá lớn. Năm 1819, dân trong phường chỉ có 48 người, trong đó đã có
16
11 người vừa là lính hoặc đội trưởng, ngũ trưởng. Ngoài đóng góp sức người làng
áp còn phải gánh vác nghĩa vụ quân lương nuôi số binh lính đó. Tất cả các khoản
nghĩa vụ: tô thuế, sưu dịch, binh dịch đều đè lên vai người lao động nghèo khổ.
Nhàn giàu con cái họ không bao giờ phải đi lính đi xâu. Nếu có nhập quân đội họ
cũng lo lót để được ưu tiên cất nhắc làm chỉ huy, hưởng quyền ưu đãi.
Dưới ách thống trị của thực dân phong kiến đời sống nhân dân ngày càng khổ
cực hơn bởi sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch càng nhiều. Các nghề làm ăn chính
của cư dân quê ta như nông, ngư đều thuộc vào thiên nhiên mà thiên tai thì thường
xuyên đe doạ làm cho nguồn thu nhập của ngưòi lao động vốn ít ỏi lại bấp bênh, đóng
góp nhiều nên đời sống của phần đông các gia đình trong ấp khó khăn, túng thiếu.
Nhiều nhà thu hoạch không đủ nộp tô thuế nên nợ nần, trốn thuế, trốn lính xảy ra.
Ngoài khoản đóng góp cho nhà nước, mỗi dân đinh, chủ hộ còn phải có nghĩa
vụ với công việc xã, thôn, xóm. Mỗi năm có biết bao ngày tế lễ, đình đám, hội hè của
xã mà mọi chi phí vật chất đều rất lớn. Xây đình, lập miếu, tu sửa đền, chùa và các
công trình công cộng khác đều cần tiền, thóc, lao động. Khổ nỗi quê ta không còn
ruộng đất công như nhiều nơi khác, nên mọi khoản đều bắt dân góp, dân làm.
Tất cả các khoản đóng góp trên cộng với sự đè nén bóc lột của quan lại, địa
chủ, cường hào, sự khó khăn của sản xuất làm cho đời sống người dân qua ta những
thế kỷ dài dưới thời phong kiến và sau đó là thực dân phong kiến thống trị vô cùng
cực khổ, khó khăn. Người lao động lam lũ quanh năm nhưng ăn vẫn không đủ no,
mặc không đủ ấm. Cuộc sống túng thiếu nên nhà ở chỉ là những túp lều tranh, vách
đất. Nhà giàu mới “lợp ngói lõi mít”. Đồ dùng trong nhà cũng mộc mạc, đơn sơ phần
nhiều bằng tre nứa, đun nấu, đựng bằng sản phẩm gốm. Nồi đồng, mâm thau là của
nhân dân đứng lên chống Pháp, nhân dân xã ta cùng với nhiều vùng quê trên đất
Bình Trị Thiên ngày nay là những nơi hưởng ứng sớm nhất. Tiếp sau còn có nhiều
người hưởng ứng và ủng hộ phong trào, vì sự tham gia nhiệt tình của nhân dân
trong phong trào này cho nên sau đó chính quyền thực dân phong kiến đã tìm cách
trả thù, chúng thực hiện nhiều chính sách sưu cao thuế nặng một cách nặng nề.
Do chính sách áp bức, bóc lột trên qui mô lớn của thực dân Pháp, tính chất
xã hội Việt Nam thay đổi, từ xã hội phong kiến đã chuyển sang xã hội thuộc địa nữa
phong kiến. Cùng với quá trình chuyển biến đó là quá trình bần cùng hóa và phá sản
của đông đảo nhân dân lao động mà trước hết là nông dân. Phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ở nước ta tiếp tục phát triển theo khuynh hướng mới. Phong trào
yêu nước do các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo mà tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến vùng đất Vinh Thanh. Nhân dân ta đã hưởng ứng
tích cực và tham gia các phong trào yêu nước sôi động của dân tộc lúc bấy giờ. Khi
phong trào chống thuế nổ ra sôi nổi rộng khắp các tỉnh miền Trung. Khí thế đấu
tranh sổi nổi khắp các làng đã khích lệ sâu sắc truyền thống yêu nước của nhân dân,
thôi thúc họ đấu tranh đòi chính quyền thực dân phong kiến phải hủy bỏ chính sách
sưu cao thuế nặng và chế độ bóc lột hà khắc.
18
Xuất phát từ nguồn gốc là những người nông dân nghèo từ đất Bắc di cư vào,
sớm phải trải qua cuộc sống tha hương li tổ, chống chọi với bao trở lực của thiên
nhiên và con người. Hơn ai hết nhân dân Vinh Thanh đã nhận thức được sức mạnh
của tình thương yêu, cảm thông, chia sẻ và đoàn kết lẫn nhau. Chính điều này đã
giúp họ vượt qua tất cả. Tình yêu quê hương gắn liền với đất nước đã khién nhân
dân nơi đây sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống áp bức giai cấp và kẻ thù dân tộc, vì
sự nghiệp chung và vì cả quê hương mình [9, tr. 13].
Gần 4 thế kỷ qua, bao thế hệ con cháu đã nối tiếp nhau làm chủ mảnh đất
yêu thương, đã từng thấm mồ hôi và nước mắt của tổ tiên mình, cuộc sống lao động
gian khổ của các thế hệ đã viết nên những trang sử thầm lặng, nhưng không kém
phần vẻ vang, tạo nên những truyền thống quý báu, tinh thần lao động cần cù,
truyền thống đoàn kết đã được chiều dài thời gian thử thách và hun đúc nên. Đó là
người dân nơi đây.
Bước sang năm 1936, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển
mới. Ở Đông Dương, chính quyền thực dân buộc phải ban bố một số cải cách dân
chủ. Trước nguy cơ đó, Quốc tế Cộng sản họp Đại hội lần thứ VII (tháng 7 – 1935)
tại Matxcova để ra nhiệm vụ trước mắt cho toàn thể giai cấp vô sản và các Đảng
cộng sản trên trên thế giới là phải chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh.
Ở nước ta, diễn biến tình hình có nhiều thuận lợi, sau một thời gian hồi phục và
kiệm toàn tổ chức từ Trung ương đến tận cơ sở. Đảng họp đại hội lần thứ nhất (3 –
1935) tại Ma Cao đã đề ra một loạt nhiệm vụ cấp bách, trong đó có các vấn đề phát
triển và củng cố Đảng, chống chiến tranh đế quốc, thu phục quảng đại quần chúng,
mở rộng mặt trận thống nhất phản đế. Sau đó tháng 7 – 1936, Đảng họp Hội nghị
toàn quốc lần thứ nhất và vạch ra đường lối đấu tranh trong giai đoạn mới, đặt vấn
đề thành lập mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm giáo dục, giác ngộ quần chúng
nhân dân, động viên họ tham gia đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp, lợi
dụng điều kiện thuận lợi khi mặt trận bình dân Pháp đang nắm quyền.
Nhờ vậy, Phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước lại tiếp tục dâng cao. Ở
miền Trung, các hoạt động dân chủ, hợp pháp trên lĩnh vực văn hóa, báo chí phát
triển mạnh. Lúc đó, tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (hiện nay), một số tờ báo của
Đảng hoạt động có kết quả như “Nhành lúa”, “Sông Hương”, “Dân”. Chủ trương
của xứ ủy Trung Kỳ truyền bá rộng rãi đường lối, chính sách của Đảng, khẩu hiệu
đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ chống áp bức, bóc lột, chống phát xít và chiến
tranh được thực hiện rất có hiệu quả. Phong trào đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ
trong toàn tỉnh dâng cao. Đường lối chiến lược, sách lược của Đảng truyền bá về
địa phương thông qua xứ ủy, tỉnh ủy có tác dụng to lớn trong việc chỉ đạo phong
trào cách mạng của nhân dân toàn xã.
2.2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1935
Ngày 3 – 2 – 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước
ngoặc vĩ đại trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Chấm dứt thời kỳ
20
phân tán lực lượng và sự lãnh đạo phong trào cách mạng của các tổ chức cộng sản
mới ra đời, con em xã Vinh Thanh đã tích cực hưởng, đồng thời nó mở đầu cho quá
trình gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân địa phương với Đảng từ trong suốt quá trình
cách mạng.
21