Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú vụ Đông Xuân của xã Vinh Hiền huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 26

Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, nhất là năm 2008 và đầu năm 2009 nền kinh
tế đã gặp không ít khó khăn, do lũ lụt gây ra và do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng thế giới, đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho bà con nông
dân trong xã, cũng như người dân trong nước. Xã Vinh Hiền là một trong
những xã ven biển của huyện Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế do đó mà
đời sống và thu nhập của người dân phụ thuộc hoàn toàn vào nuôi trồng và
đánh bắt thuỷ hải sản.
Nuôi tôm sú là nghề mang lại thu nhập cao cho người dân trong xã,
tuy nhiên sự phát triển của nghề nuôi tôm sú của địa phương mang tính tự
phát thiếu sự hỗ trợ tư vấn của ban ngành liên quan. Và phần lớn những ao
nuôi đều chưa đáp ứng được nhu cầu kỹ thuật, việc ứng dụng khoa học kỹ
thuật công nghệ vào sản xuất còn thấp, nhiều hộ quy trình sản xuất còn lạc
hậu và phần lớn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản địa. Hơn nữa nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chưa đúng mức, thiếu quy hoạch hoặc nếu
có thì chỉ mang tính chấp vá, tạm thời nên khả năng cung cấp nước và thoát
nước kém dẫn đến ô nhiễm môi trường dễ gây dịch bệnh ở tôm nuôi.
Do đó, năng suất và chất lượng tôm còn thấp, thu nhập từ nghề nuôi
tôm sú mang lại chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Nghề nuôi tôm sú
còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên mức độ rủi ro cao hiệu quả
kinh tế chưa cao. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú vụ
Đông Xuân và từ đó đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế có
ý nghĩa quan trọng của nghề nuôi tôm của xã Vinh Hiền nói riêng và huyện
Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đó và chúng tôi chọn đề tài:
"Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú vụ Đông Xuân của xã Vinh Hiền
huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế"
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích chung: Nghiên cứu hiệu quả nuôi tôm sú của các hộ nông dân

Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Cở sở lý luận
1.1.1.1 Lý luận về hiệu quả kinh tế
Một chính sách đạt hiệu quả thì nó phải đạt được.
- Hiệu quả về mặt xã hội.
- Hiệu quả về mặt kinh tế.
- Hiệu quả về mặt môi trường.
Vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình độ
lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã xác định. Có thể hiểu
đơn giản hiệu quả kinh tế là giá trị tăng thêm (VA)
VA = GO - IC
Trong đó:
GO: giá trị sản xuất.
IC : Chi phí trung gian.
Hay có thể hiểu hiệu quả kinh tế là đạt được tổng doanh thu cao nhất và
tổng chi phí thất nhất

1.1.1.2 Khái niện về bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế quan trọng biểu hiện quan
hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết
quả đó.
Hiệu quả kinh tế = kết quả sản xuất - chi phi sản xuất.
Hiệu quả kinh tế =
C
K


- Đất làm ao là đất thịt, đất thịt pha cát không chua, không kiềm
quá.
- Nước biển độ mặn ổn định từ 15 -30‰, độ PH từ 7.5 - 8.5, nhiệt
độ nước từ 28 - 30
0
C, biên độ thuỷ triều từ 1 - 3m.
- Ao nuôi nên ở nơi thuận tiện đường giao thông, gần nguồn cung cấp
điện.
+ Xây dựng ao mới:
- Ao nuôi bao gồm hệ thống: Ao nuôi, ao lắng lọc, mương cấp
nước, mương thoát nước, bờ, Cống cấp và thoát nước.
- Chuẩn bị địa điểm làm ao.
- Ao nuôi hình chứ nhật diện tích từ 0,5-1ha, đáy ao phẳng, hệ
thống mương cấp thoát nước xây dựng vững chắc.
+ Cải tạo ao cũ:
- Những ao, đầm đã nuôi tuỳ theo mặt bằng thực tế mà tiến hành
các bước cải tạo để đạt được các yêu cầu đã nêu trên của ao nuôi.
* Chuẩn bị ao trước lúc thả tôm giống:
+ Ao được tát cạn, vét bớt lớp bùn cũ lên bờ, lấp hết hang hốc, trác
phẳng xung quanh bờ và đáy.
+ Bón vôi cho ao theo chỉ số PH đã kiểm tra 300-500 kg/ ha, nếu PH
thấp thì tăng lượng vôi lên, Vôi phải được rải khắp đáy ao.
+ Để phơi nắng 7- 10 ngày cho các chất hữu cơ được phân huỷ và
diệt các sinh vật gây hại cho tôm.
+ Tu sửa lại bờ, cống để không bị rò rỉ, cá tạp không theo vào.
* Con giống và mật độ nuôi:
4
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Mật độ nuôi ảnh hưởng rất lớn đến kết quả vụ nuôi, mật độ thả phải
đảm bảo không quá cao, tức là duy trì ở hình thức nuôi Quảng canh cải tiến

sản xuất.
Việt nam có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền
đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến năm 2003,
nước ta đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để
nuôi thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích
580.835 ha. Sự xuất hiện các trang trại nuôi chuyên canh, chuyển đổi
phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và
thâm canh đã góp phần quan trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn. Ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so
với các ngành kinh tế khác.
-Về vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế: từ đầu những năm 1880, ngành thuỷ sản đã di đầu
trong cả nước về quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới
trên thế giới. Năm 1996 ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ với 30 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng
ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003, là 75 nước và vùng lãnh thổ.
Ngành thuỷ sản đã tạo được uy tín lớn đối với những nước có quan hệ hợp
tác, những nước phát triển như Mỹ, Nhật và các nước trong khối EU đã
chấp nhận làm bạn lớn và thường xuyên của ngành.
5
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
- Vai trò của ngành thuỷ sản Việt Nam trong an ninh lương thực
quốc gia, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:
Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình thuỷ sản của mỗi người dân Việt
Nam là 19.4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình đối với các sản phẩm thịt
lợn và thịt gia cầm. Có thể nói, ngành thuỷ sản đã đóng góp không nhỏ
trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt
việc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả
các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm

6
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Tình hình nuôi tôm sú tỉnh T.T-Huế
Bảng 1: Tình hình nuôi tôm sú của tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm
(2006-2008)
Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2008/2006
+/- %
1. Diện tích ha 3.869 3.632,1 3.567,3 -301,7 7,79
2. Sản lượng tấn 3.861 3.771,3 3.761,2 -99,8 2,58
3. Năng suất tấn/ha 0,99 1,03 1,05 0,06 6,06
(Nguồn : niên giám thống kê 2007 và báo cáo tổng kết nuôi trồng thuýy
sản 2008 của tỉnh thừa thiên huế)
Qua bảng số liệu trên ta thấy :
Về diện tích: so với năm 2006 thì diện tích nuôi tôm của tỉnh Thừa
Thiên Huế giảm 239,6 ha vào năm 2007, đến năm 2008 thì diện tích giảm
xuống còn 3.567,3 ha tức là giảm 64,8 ha so với năm 2007. So sánh giai
đoạn trong 3 năm (2006-2008) thì diện tích giảm xuống một lượng là 301,7
tương đương giảm 7,79 % so với năm 2006.
Về sản lượng và năng suất: diện tích nuôi có sự biến động qua các
năm dẫn đến sự biến động về năng suất và sản lượng tôm của cả tỉnh. Qua
bảng số liệu ta thấy sản lượng tôm năm 2007 giảm 89,7 tấn và đến năm
2008 thì sản lượng lại giảm 10,1 tấn so với năm 2007, và giảm 99,8 tấn so
với năm 2006, sự sụt giảm này không đồng đều giữa các huyện mà trong
đó Phú Lộc là huyện có sản lượng giảm nhiều nhất vì tôm bị bệnh đốm
trắng bùng phát trên địa bàn toàn huyện với quy mô lớn. Tuy diện tích và
sản lượng giảm nhưng năng suất qua 3 năm tăng 0,06 tấn/ha, tương đương
tăng 6,06%. Ta thấy rằng diện tích và sản lượng giảm nhưng năng suất lại
tăng điều đó cho thấy tỉnh đã biết chú trọng đầu tư theo chiều sâu.
1.1.2.2 Tình hình nuôi tôm sú ở Huyện Phú Lộc qua 3 năm 2006-2008

tấn/ha 1,00 0,67 0,67 -0,33 33,00
(Nguồn: Báo cáo tổng kết NTTS qua các năm của huyện Phú Lộc)
- Về sản lượng: việc diện tích giảm dẫn đến sản lượng thuỷ sản giảm
liên tục qua các năm năm 2007, sản lượng tôm giảm 326 tấn, nhưng so với
năm 2006 thì năm 2008 sản lượng giảm là 335, tương đương với 36%,
trong khi đó sản lượng thuỷ sản khác tăng lên một cách liên tục. Sản lượng
tôm giảm như vậy là do năm 2007 thiên tai, thời tiết phức tạp, làm ảnh
hưởng tới môi trường sống của tôm.
- Về năng suất: So với năm 2006 thì năm 2007 và năm 2008, thời tiết bất
ổn, kết hợp với một số động thái chán nản của người nuôi tôm dẫn đến năng suất
giảm từ sấp xỉ 1 tấn/ha xuông còn 0,67 tấn/ha, tương đương với 33%.
1.2. Tình hình cơ bản của địa phương nghiên cứu
1.2.1. Vị trí địa lý:
Vinh hiền là một xã ven biển của huyện Phú Lộc, cách QL 1A 25km và
cách TP Huế 45km.
Phía bắc giáp xã Vinh Giang, Vinh Hưng
Phía nam giáp xã Lộc Bình
Phía đông giáp biển
Phía tây giáp với đầm phá Cầu Hai
Với vị trí địa lý của xã Vinh Hiền với hai mặt giáp biển và đầm phá vì
vậy thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, ngoài đường bộ xã
còn khai thác giao thông trên biển cũng như trên đầm phá, có thể giao lưu,
học hỏi kinh nghiệm của các cư dân vùng ngư khác.
Tuy nhiên, điều kiện đi lại của người dân cũng gặp không ít khó khăn
vì vậy việc vận chuyển giống cũng như tiêu thụ sản phẩm phải chi phí lớn.
1.2.2 Điều kiện tự nhiên:
1.2.2.1 Địa hình, đất đai:
- Địa hình của xã thu hẹp dần theo hướng nam, có hai mặt giáp biển và
vùng đầm phá do đó mà ở vùng đồng bằng ven đầm phá có hệ thống ngăn
mặn, ở đây chỉ trồng lúa được một vụ còn lại là nuôi trồng và khai thác

Qua phân tích ở trên vùng đầm phá xã Vinh Hiền có môi trường sinh
thái phù hợp với việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, do nằm
trong vùng ít thuận lợi về khí hậu và thời tiết, sự phân mùa sâu sắc cùng
với bão gió và mưa lớn lũ quét đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nuôi
trồng thuỷ sản nói chung và nuôi tôm sú nói riêng.
- Thuỷ văn: Lượng mưa bình quân từ 600 - 800mm, các tháng ít
mưa nhất là tháng 2,3,4, lượng mưa trung bình các tháng từ 47,1 -
62mm/tháng. Đây là thời gian có độ nặm cao nhất rất thích hợp cho việc
nuôi tôm sú. Nước của vùng đầm phá hình thành từ 2 nguồn sông và biển,
khả năng trao đổi nước không lớn lắm.
1.2.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.2.3.1 Tình hình đất đai
Đất đai là yếu tố đầu vào cần thiết cho bất kỳ ngành sản xuất vật chất
nào. Song ở mỗi ngành khác nhau tầm quan trọng của đất đai được thể hiện
khác nhau.
Trong lĩnh vực nông nghiệp tầm quan trọng này được thể hiện rất rõ rệt,
đất đai ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất, quyết định quy mô, hình
thức sản xuất. Từ xa xưa ông cha ta đã rất xem trọng giá trị của đất đai "tấc
đất tấc vàng" và ngày nay giá trị đó còn được tăng lên gấp bội. Song việc
sử dụng đất như thế nào để khai thác tốt tài nguyên đất, lại đang là vấn đề
đặt ra đối với rất nhiều nơi nói chung và xã Vinh Hiền nói riêng.
9
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Để hiểu rõ điều này ta đi vào nghiên cứu tình hình cơ cấu sử dụng
đất đai của xã năm 2008. Số liệu được thể hiện ở bảng 3.
10
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Bảng 3: Tình hình cơ cấu sử dụng đất đai của xã của năm 2008
Chỉ Tiêu
2008

Qua bảng ta còn thấy diện tích đất phi NN của xã không lớn 151,90 ha
tương đương với 6,82% tổng diện tích đất tự nhiên. Cùng với xu thế Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước để phát triển theo kịp với đất nước
thì xã cần phải có chủ trương đầu tư cho việc phát triển các ngành nghề
dịch vụ này bắt đầu bằng việc tăng diện tích đất dành cho các ngành phi
nông nghiệp.
Một điều đáng phải quan tâm ở đây là diện tích đất bỏ hoang lớn
537,00 ha chiếm 24,11% trong tổng diện tích đất tự nhiên cho thấy tiềm
năng đất đai là rất lớn. Vì thế trong thời gian tới xã cần có những giải pháp
cụ thể để khai thác triệt để diện tích này phục vụ tốt cho quá trình phát triển
kinh tế -xã hội.
1.2.3.2 Tình hình dân số và lao động
Lao động là một trong những nhân tố quyết định đến quá trình sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, phát triển của bất kỳ một đơn vị tổ chức nào thì
nguồn lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu. Nhưng vấn đề ở chỗ là
việc làm thế nào để sử dụng hợp lý nguồn lao động đặc biệt là trong tình
11
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
hình như nước ta hiện nay. Lao động cũng được xem như là một thế mạnh
của Vinh Hiền, và cũng gặp phải vấn đề như nhiều vùng khác cái được xem
là thế mạnh về lao động này chỉ là về mặt số lượng, còn về trình độ chuyên
môn tay nghề của lao động thì lại còn rất thấp.

Bảng 4 :Tình hình cơ cấu dân số và lao động của xã Vinh Hiền từ năm
2008
Chỉ Tiêu ĐVT
2008
SL Cơ Cấu
(%)
1. Tổng số hộ Hộ 1141 100

thực hiện từ các chương trình quốc gia như phòng chống uốn ván, chương
trình uống vitamin A ,Công tác chăm sức khoẻ cho trẻ em được chú trọng,
12
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi và các em có hoàn cảnh khó khăn nhờ vậy mà
tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm xuống còn 16,93 %.
- Về giáo dục: Nhìn chung năm học 2007- 2008 chất lượng giáo dục
đã có chuyển biến tốt, kết quả xét tuyển các lớp hàng năm đạt kết quả cao.
Công tác xã hội hoá giáo dục được mọi cấp, mọi ngành quan tâm, công tác
phổ cập tiểu học, trung học cơ sở được duy trì và được trên công nhận xã
đạt chuẩn công tác phổ cập
1.2.3.4 Tình hình cơ cấu kinh tế của xã
Ngành thuỷ sản nói chung và nuôi trồng thuỷ sản nói riêng ra đời và
phát triển rất sớm ở xã Vinh Hiền, cùng với sự phát triển kinh tế của xã vai
trò vị trí của ngành ngày càng được khẳng định. Song do mấy năm gần đây
sự tác động bất lợi của thiên tai đã làm cho các hộ NTTS có tâm lý chán
nản muốn bỏ nghề NTTS điều này được thể hiện tổng diện tích NTTS năm
2008 giảm so với năm 2007 từ 44,50 ha xuống còn 42,10 ha, giảm 2,40 ha
tương đương với 5,40% .
Bảng 5: Diện tích và cơ cấu diện tích nuôi trồng thuỷ sản
Chỉ tiêu
2007 2008 Tốc độ tăng
Số
lượng
(ha)

cấu
(%)
Số
lượng

1.2. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
1.2.1 Thuận lợi
Qua phân tích các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở trên
cho ta thấy rằng: Địa bàn xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên
Huế có môi trường sinh thái tự nhiên, có điều kiện thuận lợi cho việc nuôi
tôm sú.
- Được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của thường vụ huyện
uỷ, thường trực hội đồng nhân dân huyện, các ban ngành cấp tỉnh và địa
phương, nhờ vậy mà công tác thuỷ sản của xã Vinh Hiền trong năm 2008
tiếp tục ổn định.
- Nhờ có lực lượng lao động nhàn rỗi nhiều tháng trong năm lớn,
nghề nuôi tôm sú phát triển trong những năm gần đây đã tạo nên nghề mới
thu nhập cao và thu hút nhiều hộ gia đình tham gia.
- Người lao động của xã cần cù, chịu thương chịu khó, nhận thức
được hiệu quả của nghề nuôi tôm, thu nhập từ nghề tương đối cao nên
người dân yên tâm sản xuất.
- Cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật đã và đang được đầu tư, được hỗ trợ
bằng các nguồn vốn khác nhau đảm bảo phục vị tốt cho hoạt động nuôi tôm.
- Các hoạt động khuyến ngư, tập huấn nuôi trồng thuỷ sản được chú
trọng nên kinh nghiệm cũng như năng lực sản xuất ngày càng được nâng lên.
1.2.2 Khó khăn
- Thời tiết qua các năm biến đổi phức tạp khó lường. Đầu năm 2008
có nhiều đợt rét đậm kéo dài, giữa năm nắng nóng nhiệt độ cao xen kẻ, rồi
các đợt mưa lớn làm ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng thuỷ sản.
- Công tác kiểm dịch tôm giống chưa đảm bảo nên đã làm thiệt hại
lớn cho người nuôi tôm.
- Chưa có một nguồn quỹ dự phòng nào khi gặp rủi ro về dịch bệnh
để xử lý, môi trường nước ngày càng ô nhiễm là điều kiện để các loại dịch
bệnh lây lan và phát triển.
- Việc quy hoạch các vùng kênh, lạch ở vùng nuôi chưa được thông

Diện tích
ha 36,70 33,20 -3,50 -9,54
tạ 92,30 85,21 -7,09 -7,68
tạ/ha 2,51 2,57 0,06 2,39
(Nguồn: Phòng TK xã Vinh Hiền)
Qua bảng số liệu ta thấy do chịu tác động của thời tiết bất lợi, lũ lụt,
sản xuất thua lỗ. Dẫn đến diện tích nuôi tôm sú của xã đối với vụ đông
xuân giảm từ 40 ha năm 2007 xuống còn 35,6 ha năm 2008 giảm 4,4 ha
tương đương với giảm 11%. Điều này khiến cho sản lượng và năng suất
đều giảm. Sản lượng giảm từ 190 tạ năm 2007 xuống còn 165,9 tạ năm
2008, giảm 24,1 tạ tương đương với giảm 12,68%. Năng suất cũng có hiện
tượng giảm do người nuôi giảm bớt đầu tư hơn khi sợ thua lỗ, cụ thể năng
suất giảm từ 4,75 tạ/ha năm 2007 xuống còn 4,66 tạ/ha , giảm 0,09 tạ/ha
tương đương với giảm 1,89%. Đối với vụ hè thu diện tích giảm 3,5 ha
xuống còn 33,2 ha năm 2008 tương đương giảm 9,54%, sản lượng giảm
92,30 tạ xuống còn 85,21 tạ năm 2008 tương đương giảm 7,68%, năng suất
tăng 2,51 tạ/ha lên 2,57 tạ/ha tương đương tăng 2,39%. Ở đây ta thấy được
một điều là năng suất và sản lượng giảm là do diện tích giảm, nhưng việc
năng suất giảm không đáng kể hoặc có lúc còn tăng như ở vụ hè thu năm
2008, do vậy vấn đề không nằm ở môi trường nuôi mà nằm ở yếu tố con
người như chưa có chính sách, thiếu quy hoạch, thiếu tính ổn định. Vấn đề
đặt ra cho các nhà quản lý là phải quy hoạch lại diện tích nuôi tạo sự gắn
kết người nuôi với nghề.
Diện tích nuôi qua hai vụ đông xuân và hè thu cũng có sự thay đổi.
Vụ đông xuân thường được xem là vụ chính và diện tích nuôi của vụ là lớn
hơn so với vụ hè thu. Năm 2007 diên tích nuôi tôm vụ đông xuân là 40,00
15
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
ha còn hè thu là 36,70 ha giảm 3,3ha. Sản lượng và năng suất của hai vụ có
sự chênh lệch nhau đáng kể, vụ đông xuân sản lượng và năng suất gần gấp


16
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Bảng 7: năng lực chủ hộ điều tra
Chỉ tiêu QCCT BTC
số hộ % Số hộ %
1.Tuổi của chủ hộ 21 9
<30 tuổi 0 0,00 0 0,00
30-50 tuổi 11 52,38 6 66,67
>50 tuổi 8 47,62 3 33,33
2.trình độ văn hoá
Cấp 1 13 68,42 5 55,56
Cấp 2 6 31,58 4 44,44
Cấp 3 0 0,00 0 0,00
3. Năm kinh nghiệm
<5 năm 0 0,00 0
5-10 năm 17 89,47 7 77,78
>10 năm 2 10,53 2 22,22
4. Tập huấn chuyên môn
Chưa tham gia 0 0,00 0 0,00
1-2 lần 0 0,00 0 0,00
>2 lần 21 100,00 9 100,00
(Nguồn: số liệu điều tra)
Qua bảng số liệu ta có thể nhận thấy cả 2 hình thức QCCT và BTC
tuổi của chủ hộ là tương đối lớn nằm ở mức tuổi từ khoảng 30-50, cụ thể là
55,38 % đối với hình thức nuôi QCCT, và 66,67 % đối với hình thức nuôi
BTC. Điều này cho ta thấy rằng về kinh nghiệm cũng như thời gian tham
gia sản xuất của các hộ nuôi tôm là khá lâu, ở độ tuổi này là lúc độ chín của
sự trưởng thành đồng thời là lúc khả năng cũng như năng lực đạt độ chuẩn.
Không phải ngẫu nhiên mà ta nói vậy bởi qua thực tế ta thấy độ tuổi <=30

xuất của hộ mà ở đây là ảnh hưởng tích cực, số năm kinh nghiệm càng
nhiều càng chứng tỏ khả năng hiểu biết, xử lý các vướng mắc trong quá
trình sản xuất là khá tốt.
Với số năm kinh nghiệm lớn như vậy, với độ tuổi lao động của chủ hộ
cao nó phản ánh khá rõ số lần tham gia tập huấn, với số lần tập huấn >2
chiếm tỷ lệ 100 % ta có thể thấy rõ khả năng, trình độ của chủ hộ được
nâng rất nhiều, bởi sau mỗi lần tập huấn là một lần đúc kết được rất nhiều
kinh nghiệm cũng như nhận thức về quá trình nuôi tôm, đây là một thuận
lợi lớn nữa của chủ hộ trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh.
2.3.2 Tình hình đầu tư của các hộ điều tra
Bảng 8: Mức đầu tư ban đầu của các hộ điều tra vụ ĐX năm 2009
Chỉ tiêu ĐVT QCCT BTC
1. Số hộ điều tra Hộ 21 9
2. DT nuôi Ha 26,64 8,96
DT BQ/Hộ Ha/Hộ 1,27 1,00
3. Vốn đầu tư thiết bị
BQ/Hộ 1000đ/Hộ 29019,05 48755,56
BQ/Ha 1000đ/Ha 22875,38 48973,21
4. Vốn XDBĐ
BQ/Hộ 1000đ/Hộ 18452,38 24444,44
BQ/Ha 1000đ/Ha 14545,80 24553.57
5. Vốn ĐT
Vốn GĐ 1000đ/Hộ 39166,67 46611,11
Vốn vay 1000đ/Hộ 4857,14 9111,11
(Nguồn: Số liệu điều tra)
18
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Có thể thấy, hình thức nuôi QCCT có tới 21 hộ nuôi trong tổng số 30
hộ điều tra chiếm 70%, với diện tích bình quân là 1,27 ha/hộ, do đó mà
việc ứng dụng kỹ thuật vào nuôi là rất khó khăn và tốn kém, đây chính là

cũng như năng suất nuôi. Tuy nhiên ở mỗi hình thức nuôi thì việc đầu tư
con giống lại hoàn toàn khác nhau.
Qua bảng điều tra cho thấy, việc đầu tư con giống ở nuôi QCCT thấp hơn
so với mức đầu tư con giống ở nuôi BTC.
Với giống tôm POST ở nuôi QCCT thì BQ/hộ là: 4420.00 (ng.đ) và BQ/ha
là: 3570,92 (ng.đ) còn ở nuôi BTC thì BQ/hộ là: 5450,00 (ng.đ) và BQ/ha
là: 5777,39 (ng.đ).
Với giống tôm 1/2 thì BQ/hộ là: 5836,00 (ng.đ) và BQ/ha là:
4595,28 (ng.đ) đối với nuôi QCCT trong khi nuôi BTC là: 7875,00 (ng.đ)
của BQ/hộ và 6847,83 (ng.đ) của BQ/ha.
19
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Với loại giống khác thì BQ/hộ là: 4900,00 (ng.đ) và BQ/ha là:
3500,00 (ng.đ) với nuôi QCCT còn nuôi BTC thì BQ/hộ là: 7770,00 (ng.đ)
và 8633,33 (ng.đ) là BQ/ha.
Qua đó cho thấy rằng với diện tích nhỏ việc áp dụng kỹ thuật vào nuôi tôm
với mật độ lớn đã nâng cao được sản lượng tôm nuôi.
2.4.1.2 Chi phí thức ăn
Bảng 10: Chi phí thức ăn của các hộ điều tra vụ ĐX năm 2009

Chỉ tiêu
QCCT BTC
1000đ/Hộ 1000đ/Ha 1000đ/Hộ 1000đ/Ha
TĂ Tươi 5979,76 4713,77 6494,44 6523,44
TĂ CN 8442,86 6655,41 14983,33 15050,22
TĂ Khác 144,05 113,55 92,33 92,75
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Thức ăn có vai trò không nhỏ trong quá trình nuôi tôm, nó quyết
định tới năng suất cũng như chất lượng tôm. Với vai trò không thể thiếu đó,
người dân biết tận dụng các nguồn thức ăn tự có hay đầu tư thức ăn công

2. Công vệ sinh
ao nuôi
1944,29 1532,66 2648,89 2660,71
Công GĐ 1072,38 84,35 1326,67 1332,59
Công thuê 871,90 68,31 1322,22 1328,13
3. Công chăm sóc 7641,19 6023,46 8577,78 8616,07
Công GĐ 5390,71 4249,44 4594,44 4614,96
Công thuê 2250,48 1774,02 3983,33 4001,12
4. Công thu
hoạch
1979,05 1560,06 2410,56 2421,32
Công GĐ 1059,05 83,83 1038,33 1042,97
Công thuê 920,00 725,23 1372,22 1378,35
(Nguồn : Số liệu điều tra)
Trước một vụ nuôi mới thì để đảm cho một vụ nuôi mới có kết quả
cao thì khâu đầu tiên là phải nạo vét ao nuôi, đây là một khâu quan trọng và
nó cũng đòi hỏi phải đầu tư nhiều cả về công sức lẫn tiền bạc. Và tuỳ thuộc
vào hình thức nuôi mà mức độ đầu tư chi phí cho khâu này là khác nhau.
Ta cũng có thể thấy nuôi theo hình thức BTC đòi hỏi chi phí cho nạo vét ao
hồ là lớn hơn so với chi phí nạo vét ao với hình thức nuôi QCCT. Nuôi
theo hình thức BTC công nạo vét BQ/hộ là 3694,44 nghìn đồng và BQ/ha
là 3710,94 nghìn đồng, lớn hơn so với hình thức nuôi QCCT chỉ tốn
3056,67 nghìn đồng/hộ, 2409,53 nghìn đồng/ha. Trong đó công lao động
gia đình có và lao động thuê cũng khác nhau ở các hình thức. Nhìn chung
nuôi theo hình thức BTC chi phí công lao động lớn hơn do phải chú trọng
cẩn thận hơn trong việc nạo vét ao.
Chi phí cho công vệ sinh ao nuôi cũng rất lớn ở nuôi QCCT thì
BQ/hộ là1944,29nghìn đồng và BQ/ha là 1532,66 nghìn đồng, nuôi theo
hình thức BTC thì BQ/hộ là 2648,89 nghìn đồng và BQ/ha là 2660,71
nghìn đồng. Với nuôi theo hình thức BTC tuy diện tích nhỏ hơn nhưng chi

33519,89 77,22 55579,91 79,01
1. Giống 4051,80 12,09 6274,55 11,29
2. Thức ăn 11482,73 34,26 21666,41 38,98
3. Thuê LĐ 4444,07 13,26 8300,78 14,93
4. Phòng bệnh 1400,15 4,18 3750,00 6,75
5. Chi phí tu bổ 3716,22 11,09 3292,41 5,92
6. Chi phí nhiên
liệu
2235,36 6,67 2120,54 3,82
7. Trả lãi vay 70,95 0,21 130,58 0,23
8. Chí phí khác 6118,62 18,25 10044,64 18,07
II. Chi phí tự có 7081,64 16,31 9108,26 12,95
III. KHTSCĐ 2806,03 6,46 5656,29 8,04
(Nguồn : Số liệu điều tra)
Trong những năm gần đây, kết quả nuôi tôm của các hộ trong xã
theo chiều hướng đi xuống. Để tìm hiểu nguyên nhân tại sao chúng ta đi
tìm hiểu chi phi sản xuất của các hộ điều tra.
Qua bảng số liệu ta thấy chi phí sản xuất của 2 hình thức có sự chênh
lệch nhưng không đáng kể, nhưng xét về tổng thể thì có sự chênh lệch khá
lớn. Ở hình thức BTC, diện tích chỉ là 8,96 ha nhưng chi phí sản xuất của
các hộ nuôi đầu tư lên tới 70344,91 nghìn đồng/ha. Chi phí sản xuất của
hình thức QCCT là 43407,57 nghìn đồng/ha, trong đó diện tích là 26,64 ha.
Trong chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại chi phí như chi phí trung
gian, chi phí tự có, chi phí KHTSCĐ. Ở 2 hình thức nuôi, chi phí trung gian
chiếm tỷ trọng cao nhất. Hình thức QCCT, chi phí trung gian chiếm
77,22% trong tổng chi phí sản xuất và ở hình thức BTC là 79,01%. Như
vậy việc sử dụng chi phí trung gian hợp lý góp phần không nhỏ trong việc
nâng cao hiệu quả nuôi tôm và phân tích chi phí trung gian của từng hình
thức, so sánh chi phí trung gian giữa 2 hình thức sẽ góp phần trả lời chính
22

8300,78 nghìn đồng, chiếm 14,93% trong tổng chi phí trung gian cao hơn
QCCT là 3856,71 nghìn đồng. Điều này cho thấy các hộ BTC đã chú trọng
hơn trong đầu tư công lao động chăm sóc nuôi tôm.
Chi phí phòng bệnh của hình thức BTC là 3750,00 nghìn đồng chiếm
6,75% trong tổng chi phí trung gian, cao hơn hình thức QCCT, hình thức
này chỉ chiếm 4,18%. Điều này cho thấy ở hình thức BTC hộ nuôi đã chú
trọng đến phòng dịch bệnh cho tôm hơn. Chi phí tu bổ ao hồ ở hình thức
BTC là 3292,41 nghìn đồng, chiếm 5,92% trong tổng chi phí trung gian. So
với hình thức QCCT (11,09%) thì thấp nhưng số tiền bỏ ra so với QCCT
cũng gần bằng nhau. Chi phí nhiên liệu là 2120,54 nghìn đồng, chiếm
3,82% trong tổng chi phí trung gian. Trả lãi vay 130,58 nghìn đồng chiếm
0,23% trong tổng chi phí trung gian. Chi phí khác cũng chiếm tỷ trọng khá
trong tổng chi phí trung gian chiếm 18,07% tương ứng 10044,64 nghìn
đồng.
23
Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú
Chi phí tự có qua bảng số liệu ta thấy ở hình thức QCCT chiếm
16,31% trong tổng chi phí tương ứng 7081,64 nghìn đồng, chiếm tỷ lệ
trong tổng chi phí cao hơn so với hình thức BTC. Hình thức BTC là
12,95% trong tổng chi phí tương ứng 9108,26 nghìn đồng.
Về chỉ tiêu KHTSCĐ qua bảng số liệu ta thấy: Chi phí KHTSCĐ của
các hộ nuôi BTC chiếm 8,04% trong tổng chi phí ứng với 5656,29 nghìn
đồng cao hơn QCCT, ở hình thức này chỉ chiếm 6,64% ứng với 2806,03
nghìn đồng. Điều này có thể giải thích do ở hình thức nuôi BTC các hộ đã
chú trọng tới đầu tư máy móc thiết bị như: máy bơm nước, máy sục khí
( chiếm tỷ lệ không lớn) và các ngư cụ khác đồng thời công tác chuẩn bị ao
trong vụ đầu tương đối tốt.
Nhìn chung qua phân tích chi phí sản xuất và chi phí trung gian của
các hộ ở 2 hình thức cho thấy, các hộ nuôi BTC mức đầu tư cao hơn so với
QCCT. Sự chênh lệch mức đầu tư giữa 2 hình thức này hoàn toàn phù hợp

26 - 35 150
36 - 45 120
46 - 60 100
>60 75
(Nguôn : Thu thập số liệu địa phương)
Giá là một trong những nhân tố quyết định tới hiệu quả của các hộ
nuôi tôm, trong vụ đông xuân năm 2009 giá tôm rất được giá đó là điều
kiện rất thuận lợi cho hộ nuôi tôm có thể tăng mức đầu tư để có hiệu quả
nhất.
Qua bảng chúng ta có thể thấy với lượng <25(con/kg) giá tôm lên tới
170(ng.đ/kg) tuy nhiên sản lượng của các hộ nuôi là không nhiều. Ở mức
>60(con/kg) ở những năm trước thì giá chỉ là 45-50(ng.đ/kg) trong khi năm
nay lại là 75(ng.đ/kg). Ở các mức sản lượng khác giá cũng khá cao so với
các năm trước.
Tại sao lại có hiện tượng này?
Đây chính là điều bất cập trong khâu tiêu thụ tôm, khi mất mùa thì giá tôm
lên rất cao trong khi năm được mùa thì các tư thương lại ép giá làm cho giá
tôm thấp xuống làm ảnh hưởng tới hiệu quả nuôi của các hộ. Vấn đề đặt ra
ở đây là có lên có một chính sách hỗ trợ giá cho các hộ nuôi tôm?
2.4.2.3 Kết quả và hiệu của nuôi tôm của các hộ điều tra
Bảng 15: Kết quả & hiệu quả nuôi (Tính cho 1Ha)
chỉ tiêu ĐVT QCCT BTC
Năng suất kg/ha 422,71 597,21
Tổng giá trị sản
xuất (GO) 1000đ/ha 43095,91 70697,54
Giá trị gia tăng
(VA) 1000đ/ha 9576,02 15117,63
Thu nhập hỗn hợp
(MI) 1000đ/ha 6769,98 9461,35
Lợi nhuận kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status