LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp tôi đã được sự giúp
đỡ của các cá nhân và tập thể rất nhiều để hoàn thành khóa học cũng như báo cáo tốt
nghiệp một cách tốt nhất Nhân đây tôi xin có lời cảm ơn tới mọi người.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, các cô giáo trong Khoa
KT&PT trường Đại học Kinh Tế Huế cùng toàn thể các thầy cô giáo trực tiếp tham gia
giảng dạy và tận tình giúp đỡ tôi trong 4 năm học vừa qua.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn Th.Sĩ Bùi Dũng Thể – giáo viên Khoa Kinh tế và Phát
triển đã hết lòng nhiệt tình giúp đỡ tôi suốt thời gian thựuc tập và hoàn thành chuyên
đề tốt nghiệp đại học
Qua đây tôi xin cảm ơn tất cả cán bộ UBND xã Thạch Mỹ, các hộ nông dân đã
giúp đỡ rất nhiều và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nội dung nghiên cứu của
mình trong suốt thời gian thực tập vừa qua. Tôi rất biết ơn gia đình và bạn bè đã luôn
khuyến khích tôi trong quá trình học tập và rèn luyện .
Tôi xin hứa sẽ đem hết những kiến thức được học trong thời gian qua góp phần
nhỏ bé của mình vào sự nhiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn của địa
phương, từ đó xây dựng đất nước phát triển và phồn vinh.
Nhưng do điều kiện và bản thân có hạn nên nội dung đề tài sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô
giáo, các cán bộ lãnh đạo xã và bà con nông dân trong địa phương để nội dung đề tài
đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực tập
Phan Trọng Khánh
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
1
Xã Thạch Mỹ là một trong những xã sản xuất lạc trọng điểm của huyện Lộc Hà.
Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong đó hướng dẫn sản xuất lạc được chú trong là
một giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân
trong vùng.
Là một xã nghèo của tĩnh Hà Tĩnh, thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, với thời tiết
27
Bảng 11: Kết quả sản xuất lạc của các hộ điều tra vụ Đông Xuân năm 2012 28
Bảng 12: Hiệu quả sản xuất lạc vụ Đông Xuân năm 2012 của các hộ điều tra 29
Bảng 13: Phân bố các nhân tố ảnh hưởng theo năng suất……………… 29
Bảng 14 : Tình hình tiêu thụ lạc các hộ điều tra xã Thạch Mỹ vụ Đông Xuân
2012
32
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVT Đơn vị tính
UBND Ủy ban nhân dân
NLN Nông lâm ngư
CN-TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
DV-TM Dịch vụ thương mại
HTX NN Hợp tác xã nông nghiệp
TLSX Tư liệu sản xuất
BQNK Bình quân nhân khẩu
BQLĐ Bình quân lao động
BQC Bình quân cộng
BVTV Bảo vệ thực vật
KHKT Khoa học kĩ thuật
3
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây trồng là nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng đáp ứng nhu cầu
về đời sống và sinh hoạt của con người. Từ những nhu cầu về lương thực, thực phẩm
hàng ngày, may mặc cho đến thức ăn để chăn nuôi gia súc, gia cầm và nguyên liệu cho
sản xuất công nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì yêu cầu của con
người về các loại nông sản phẩm ngày càng cao, không chỉ về số lượng mà còn về chất
lượng, về hình thức mẫu mã, về sự đa dạng và những tiêu chuẩn khác. Chính điều này
đã đặt ra cho con người những nhận thức mới, nhận thức về sản xuất ra những sản
trong thời gian tới trên địa bàn nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
- Đối tượng nghiên cứu: Người dân trồng lạc ở xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà,
tỉnh Hà Tĩnh.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn xã Thạch Mỹ.
- Về thời gian: Số liệu thu thập tính từ năm 2010-2012, đánh giá hiệu quả sản
xuất lạc vụ Đông Xuân năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Để nghiên cứu đề tài số mẫu nghiên cứu được chọn đại diện cho các hộ nông
dân trong xã Thạch Mỹ - huyện Lộc Hà- tỉnh Hà Tĩnh có sử dụng đất canh tác ở xã
phân theo 3 nhóm hộ khá, trung bình, nghèo theo tỉ lệ phân loại hộ ở xã là: 40 hộ. Tuy
nhiên có một mẫu không đủ độ tin cậy nên ở đây tôi chỉ xét 39 hộ.
• Phương pháp thu thập thông tin
- Số liệu thông tin thứ cấp: Là số liệu, tài liệu thu thập tại UBND huyện Lộc Hà
và UBND xã Thạch Mỹ.
- Số liệu thông tin sơ cấp:Là những thôn tin, số liệu thu thập từ các nguồn điều tra,
phỏng vấn điều tra trực tiếp các hộ nông dân.
• Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
• Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp thống kê so sánh
- Phương pháp phân tích kinh tế
• Một số phương pháp khác
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo.
- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân.
- Phương pháp khảo sát thực địa.
- Phương pháp dự báo.
5. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
một đồng chi phí trung gian bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.
7
• Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): Chỉ tiêu này cho biết
một đồng chi phí trung gian bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
• Giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất (VA/GO): Chỉ tiêu này cho biết trong
một đồng giá trị sản xuất thu được có bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
8
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Nguồn gốc, xuất xứ cây lạc
Lạc, còn được gọi là đậu phộng (danh pháp khoa học: Arachis hypogaea), là
một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn gốc tại Nam Mỹ. Lạc là cây thực
phẩm, cây có dầu quan trọng. Trong số các loại cây hạt có dầu trồng hàng năm trên thế
giới, lạc đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng. Hiện có
hơn một trăm nước trồng lạc. Châu Á đứng hàng đầu thế giới về diện tích trồng lạc
cũng như sản lượng, tiếp theo là châu Phi, Bắc Mỹ rồi đến Nam Mỹ. Hiện nay châu Á
và vùng Bắc Mỹ có chiều hướng mở rộng diện tích trồng lạc hơn các vùng khác.
Trong số 25 nước trồng lạc ở châu Á, Việt Nam đứng hàng thứ năm, lạc là một
trong các loại cây xuất khẩu thu ngoại tệ của nước ta.
1.1.2. Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây lạc
1.1.2.1. Giá trị thực phẩm
Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Lạc là nguồn thức ăn giầu
về dầu lipit và prôtêin, thành phần sinh hoá của lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào
giống, vào sự biến động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả,
các yếu tố không bình thường như: Sâu bệnh hại, và phương pháp phân tích khác nhau
cũng ảnh hưởng đến thành phần sinh hoá của hạt lạc.
Dầu trong hạt lạc
Dầu lạc là một hỗn hợp glixêrít,bao gồm 80% a xít béo không no và 20% a xít
béo no. Thành phần a xít béo trong dầu lạc thay đổi tuỳ theo giống và điều kiện trồng
khả năng cố định đạm (N) của nó. Chính nhờ có khả năng này mà hàm lượng của
prôtêin ở hạt và các bộ phận khác của cây cao hơn nhiều loại cây trồng khác. Cũng
nhờ khả năng cố định đạm, sau khi thu hoạch thành phần hóa tính của đất trồng được
cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được
tăng cường có lợi đối với cây trồng sau.
1.1.2.3. Giá trị trong công nghiệp
Lạc phục vụ cho công nghiệp ép dầu, dầu lạc được dùng làm thực phẩm và chế
biến dùng cho các ngành công nghiệp khác như (chất dẻo, xi mực in, dầu diesel, làm
dung môi cho thuốc bảo vệ thực vật ), ngoài ra khô dầu lạc còn được dùng làm thức
ăn cho người và chăn nuôi gia súc và gia cầm. Khô dầu lạc, đậu tương dùng chế biến
thành đạm gồm 3 nhóm(bột, bột mịn, thô, đạm cô đặc), khô dầu lạc, đỗ tương có thể
chế biến thành hơn 300 sản phẩm khác nhau phục vụ cho các ngành thực phẩm, trên
300 loại sản phẩm công nông nghiệp.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất lạc
1.1.3.1. Đất đai
Lạc có khả năng thích ứng lớn đối với các loại đất khác nhau. Có thể nói lạc là
loại cây trồng không có yêu cầu nghiêm khắc đối với các đặc tính của đất. Các loại đất
từ đất cát nhẹ đến đất sét nặng đều có thể trồng lạc được. Nhưng đối với cây lạc phù
hợp với các loại đất cát pha, nhẹ, xốp, sáng màu. Đất trồng lạc tốt nhất là các chân đất
thoát nước tốt, kết cấu xốp và mịn, chưa bị rửa trôi màu.
Lạc phát triển tốt trên các chân đất có phản ứng trung tính, tốt nhất là độ pH của
đất không thấp dưới 6. Nếu đất chua, pH dưới 5 thì cần phải bón vôi. Lạc chịu được
đất mặn vừa, ưa thích chân đất có chất vôi.
Lạc sinh trưởng và phát triển tốt trên đất sạch cỏ. Đặc biệt yêu cầu đất sạch cỏ
vào lúc mới mọc.
1.1.3.2. Nhiệt độ
Lạc là loài cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, phát triển thích hợp trong điều
kiện khí hậu ấm áp. Hiện nay cây lạc được gieo trồng và đã thích nghi với điều kiện ở
nhiều vùng á nhiệt đới và cả ôn đới. Vì vậy, đã có những giống lạc chịu được nhiệt độ
11
kiện cụ thể của từng nơi trồng lạc.
1.1.3.6. Dinh dưỡng khoáng
Lạc yêu cầu thấp về dinh dưỡng khoáng, do đó lạc không đáp ứng với lượng phân
khoáng cao. Bón từ 75- 150kg/ha, trong đó chủ yếu là lân (P) coi như là đủ đối với cây lạc.
• Vai trò và sự hấp thu Nitơ : Nitơ là thành phần của axít amin, yếu tố để
tạo nên prôtêin, nếu thiếu N cây sinh trưởng kém, lá vàng, chất khô tích luỹ bị giảm,
số quả và trọng lượng quả đều giảm, nhất là thiếu ở thời kỳ sing trưởng cuối. Thiếu N
nghiêm trọng dẫn tới cây ngừng phát triển quả và hạt.
• Vai trò hấp thu của Lân : Thiếu P bộ phận rễ kém phát triển, hoạt động
cố định N giảm. Ngoài những vai trò sinh lý bình thường đối với lạc, P còn đóng vai
12
trò đối với sự cố định N và sự tổng hợp lipít ở hạt trong thời kỳ chín, kéo dài thời kỳ ra
hoa và tăng tỷ lệ hoa có ích.
• Vai trò và sự hấp thu Kali : K tham gia chủ yếu vào các hoạt động
chuyển hoá chất ở cây. Thiếu K thân chuyển thành màu đỏ sẫm và lá chuyển màu xanh
nhạt. Tác hại lớn nhất của thiếu K là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N
giảm, tỷ lệ 1 quả tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm rõ dệt.
Ngoài ra, một số nguyên tố vi lượng khác như Fe, Cu, Zu, cũng đóng vai trò rất
quan trọng đối với năng suất lạc.
1.1.3.7. Vôi
Lạc rất cần vôi. Khi thiếu vôi, cây lạc có nhiều quả không có hạt. Vôi giúp cho
lạc huy động được kali, làm cho quả chắc, hạt đầy. Trên các chân đất chua được bón
vôi thì quả chắc tăng lên, tỷ lệ quả lép ít đi.
1.1.3.8. Thị trường và giá cả tiêu thụ
Giá cả và thị trường tiêu thụ là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lạc của
người nông dân. Hiện nay, người nông dân sản xuất và bán sản phẩm thường bị tư
thương ép giá, giá bán trên thị trường cao nhưng người dân lại bán với mức giá thấp,
vì vậy việc tiêu thụ còn gặp khó khăn. Mặt khác, giá các yếu tố đầu vào như giống,
phân bón … ngày càng tăng cao, thời tiết ngày càng khắc nghiệt làm cho lợi ích của
người sản xuất có phần suy giảm.
Indonesia 1,25 3,63
Thế giới 34,43 100,00
(Nguồn: Thống Kê từ FAOSTAT)
Sở dĩ các nước này đạt năng suất lạc lớn nhất là nhờ áp dụng rộng rãi trong sản
xuất các giống lạc cải tiến và áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh, sử
dụng các máy móc hiện đại để làm đất. Các biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được áp
dụng là: cày sâu, bón phân cân đối, gieo dày hợp lý, phòng trừ dịch hại và áp dụng kỹ
thuật phủ nilông.
1.2.2. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Lạc là cây truyền thống của người nông dân Việt Nam, là loại cây công nghiệp
ngắn ngày quan trọng hàng đầu, khả năng thích ứng rộng và được trồng nhiều vụ trong
năm, lạc được sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ở nước ta lạc
được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam tỉnh nào cũng có. Tuy vậy, cho đến nay
nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của cây lạc trong nông nghiệp cũng như trong
đời sống của nhân dân ta chưa thật đúng mức vì vậy mà diện tích, sản lượng, năng suất
14
trồng lạc ở nước ta trong những năm gần đây tăng lên không đáng kể điều đó được thể
hiện qua bảng 2 về tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam qua 3 năm (2009-2011).
Bảng 2: Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam qua 3 năm (2009-2011)
Chỉ tiêu ĐVT 2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
+/- % +/- %
Diện tích Nghìn ha 245,0 231,4 223,7 -13,6 -5,45 -7,7 -3,33
Năng suất Tạ/ha 20,85 21,05 20,82 0,20 0,96 -0,23 -1,09
Sản lượng Nghìn tấn 510,9 487,2 465,9 -23,7 -4,64 -21,3 -4,37
(Nguồn Tổng Cục Thống Kê 2012)
Theo dõi sản lượng lạc qua 3 năm (2009-2011) chúng ta thấy sản lượng và diện
tích lạc đều giảm. Năm 2009 là 510,9 nghìn tấn, nhưng giảm nhanh xuống còn 487,2
nghìn tấn năm 2010 và năm 2011 chỉ còn 465,9 nghìn tấn. Sản lượng lạc giảm là do
diện tích trồng lạc của nước ta 3 năm gần đây giảm. Từ 245 nghìn ha giảm xuống còn
223,7 nghìn ha sau 2 năm. Việc diện tích giảm là do nước ta đang là một nước công
chuyển sang trồng các loại cây trồng khác, nguyên nhân khác nữa là do gặp điều kiện
thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh nhiều nhất là sâu cuốn lá ảnh hưởng đến sản
lượng của toàn tỉnh.
Diện tích, sản lượng thay đổi làm cho năng suất lạc qua 3 năm (2009-2011)
cũng có nhiều biến động. Nhìn chung là giảm tương tự 2 chỉ tiêu trên, điều này cũng
dễ hiểu là do diện tích, sản lượng giảm làm cho năng suất giảm, bên cạnh đó là do năm
2011 gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh nhiều làm ảnh hưởng đến
năng suất lạc.
Hà Tĩnh vẫn còn là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, kinh tế chậm phát
triển, cơ cấu kinh tế lạc hậu, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, tốc độ phát triển kinh tế
chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của một tỉnh đồng bằng có điều kiện phát
triển kinh tế toàn diện.
1.2.4. Tình hình sản xuất lạc huyện Lộc Hà
Là huyện đồng bằng ven biển, có diện tích tự nhiên 11.830 ha, dân số hơn 8,3
vạn người. Là một huyện thuộc vùng chiêm trũng, có địa hình thuộc vùng bán sơn địa
rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là rất thích hợp với các loại
cây trồng như: lúa, màu, rau, cây công nghiệp ngắn ngày trong đó có cây lạc.
16
Tính riêng năm 2010, trên toàn huyện, diện tích trồng lạc là 1600 ha, với sản
lượng đạt xấp xỉ 4000 tấn, chiếm 10% của toàn tỉnh , tương ứng với 10% diện tích
trồng lạc của tỉnh. Tuy diện tích trồng lạc năm 2012 không thay đổi nhiều so với năm
2007 nhưng sản lượng và năng suất thì có giảm , giảm từ 2,48 tạ/ ha xuống còn 2,2
tạ/ha . nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết khắc nghiệt rét đậm rét hại kéo dài làm anh
hưởng đến năng suất lạc của các hộ dân.
Bảng 4: Tình hình sản xuất lạc ở huyện Lộc hà qua 3 năm (2010-2012)
Chỉ tiêu ĐVT 2010 2011 2012
Diện tích Ha 1600 1650 1570
Năng suất Tạ/ha 2,5 2,48 2,2
Sản lượng Tạ 4000 4100 3500
(Nguồn: UBND huyện)
mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm
18
sau. Yếu tố khí hậu của xã Thạch Mỹ nhìn chung thuận lợi để phát triển đa dạng các
loại cây trồng vật nuôi. Một số yếu tố bất lợi như nắng lắm, mưa nhiều, gió lào , rét
đậm, bão luc cũng ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghệp và đặc biệt là cây
lạc.
2.1.2 Đặc điểm văn hoá – xã hội
Tổng số lao động toàn xã có 3778 lao động trong độ tuổi (chiếm 51% dân số);
lao động có việc làm thường xuyên chiếm 80% lao động trong độ tuổi; 20% lao động
đi làm các nghề như xây dựng, làm trong các công ty doanh nghiệp, dịch vụ thương
mại, xuất nhập khẩu lao động trong và ngoài nước. Lao động phân theo các ngành
nghề của xã như sau:
NLN nghiệp chiếm 58,84% lao động trong độ tuổi(2232 lao động)
CN-TTCN và các ngành nghề khác là 1297 người, chiếm 33,8% lao động .
DV-TM có 258 lao động , chiếm 6,8%.
Thạch Mỹ trước đây gồm 5 làng: Báo Ân, Đại Yên, Hạ Ân, Hựu Ninh, Vịnh
Lộc, sau khi hợp nhất toàn xã được chia thành 15 thôn, làng Bắc Yên có 42 hộ giáo
dân với 240 nhân khẩu. Với các nghề truyền thống như: làm hương, làm chổi.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung trong giai đoạn 2005-2010 phát triển với tốc
độ bình quân 8-9% /năm. Năm 2012 tổng giá trị sản xuất trong các ngành kinh tế là
128,54 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế của các ngành đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành
dịch vụ, thương mại và TTCN- làng nghề. So sánh giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế của xã từ năm 2005 với 2010, cơ cấu giá trị của ngành nông lâm ngư nghiệp giảm
15,68%, cơ cấu giá trị ngành TTCN- làng nghề tăng 6,12%, cơ cấu dịch vụ thương mại
tăng 9,56%. Năm 2012 thu nhập bình quân đầu người đạt 9,6 triệu đồng/người/ năm.
Bình quân lương thực đầu người đạt 216kg/ người / năm. Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao,
15,2%. Về tổ chức sản xuất xã Thạch Mỹ có 1 HTX NN làm ăn kém hiệu quả.
2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn sản xuất lạc trên địa bàn xã Thạch Mỹ
nghèo dinh dưỡng, nên phải đầu tư nhiều để cải tạo độ phì của đất. Nguồn nước tưới
khu vực phía Bắc của xã còn thiếu, nhất là về mùa khô. Xã còn thiếu các công trình
20
đầu mối để chủ động nguồn nước tưới, nhất là vào mùa khô nên hạn chế mở rộng diện
tích 2 vụ và tăng cây trồng hằng năm
Hình thức tổ chức sản xuất HTXNN kém hiệu quả. Lực lượng lao động chủ yếu
thủ công, dụng cụ thô sơ, năng suất thấp. Tỷ lệ lao động được đào tạo có chứng chỉ
chưa cao, những người lao động có trình độ cao trong các ngành kinh tế của xã rất hạn
chế, đòi hỏi phải chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế sang lĩnh vực phi nông nghiệp, tới
năm 2020 lao động nông nghiệp phải giảm còn 35%. Đây cũng là thách thức không
nhỏ với xã Thạch Mỹ.
Đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp- nông thôn.
2.2 HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LẠC VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 Ở XÃ THẠCH
MỸ, HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
2.2.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất lạc của xã Thạch Mỹ 2010-2012
Thạch Mỹ là một xã nghèo thuộc tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích sản xuất nông
nghiệp chiếm 70% tổng diện tích đất, điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp,
trong đó có cây lạc. Riêng năm qua, sản lượng lạc của xã là 2530 tạ. Để rõ hơn tình
hình sản xuất lạc của địa bàn xã, ta xét bảng sau:
Bảng 5 . Tình hình sản xuất lạc của xã Thạch Mỹ giai đoạn 2010-2012
Chỉ tiêu ĐVT 2010 2011 2012
Sản lượng Tạ 2645 2808 2530
Diện tích Ha 115 117 115
Năng suất Tạ/ha 23 24 22
(Nguồn: Ban Thống Kê Xã)
Qua bảng trên, ta thấy diện tích và sản lượng của lạc qua 3 năm gần đây có
nhiều biến động, tuy nhiên không đáng kể. diện tích trồng lạc của xã giảm. Năm 2010
và 2012 xã có diện tích gieo trồng đều bằng 115 ha, tuy nhiên sản lượng năm 2010 có
cao hơn năm 2012 là 23 ta/ha, cao hơn 1 tạ. Nhìn chung qua 3 năm thì năm 2011 là xã
sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, năng suất có thể giảm bởi vì đối với cây
lạc đòi hỏi phải gieo trồng kịp thời vụ và phải đầu tư chăm sóc, bảo vệ.
Đồng thời trình độ văn hóa của chủ hộ cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả sản
xuất bởi nó thể hiện sự hiểu biết, sự tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật và cách thức
vận dụng nó vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi.
Lao động dồi dào nhưng trình độ lao động chưa cao. Trình độ văn hóa của các
hộ ở đây hầu hết đều ở mức trung bình, trình độ văn hóa bình quân của chủ hộ là
22
7,61/12. Do ở đây đa số là những người làm nông nghiệp còn trẻ có trình độ học vấn
lớp 7, 10, 12 nên dễ tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm cách thức làm ăn giỏi trong và ngoài
xã, tham gia nhiều lớp tập huấn khuyến nông từ đó đưa ra quyết định sản xuất đúng
đắn đem lại hiệu quả kinh tế cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản
xuất lạc nói riêng.
Độ tuổi cũng nói lên được kinh nghiệm thực tế trong quá trình sản xuất. Vì lạc
là cây trồng được nhân ta ưa chuộng và trồng từ bao đời nay nên người dân ở đây có
nhiều kinh nghiệm trồng lạc từ xa xưa truyền lại. Độ tuổi bình quân là 47,35 tuổi, đây
là một điều kiện rất thuận lợi cho việc trồng lạc nhưng bên cạnh đó nó cũng có những
hạn chế do đa số là những người có độ tuổi cao nên vẫn còn theo phong tục lạc hậu,
bảo thủ, không chịu đổi mới áp dụng tiến bộ khoa học–kỹ thuật nó cũng là một trong
những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến năng suất lạc.
2.2.2.2. Tình hình trang bị TLSX các hộ điều tra
Sản xuất nông nghiệp là một ngành có vị trí rất quan trọng vì nước ta là một
nước nông nghiệp đa số người dân sống bằng nghề nông. Để sản xuất nông nghiệp
mang lại hiệu quả kinh tế cao thì cũng đòi hỏi mức độ đầu tư về trang bị kỹ thuật của
người nông dân.
Bảng 7: Tình hình trang bị kĩ thuật của các hộ điều tra(BQ/ hộ)
Chỉ tiêu ĐVT
BQC
SỐ LƯỢNG Giá trị (1000đ)
1. Trâu bò cày kéo Con 0,949 1.4205,128
suất cao để giảm sức lao động cho con người, dùng thời gian đó vào các hoạt động
truyền thống trên địa bàn nhằm nâng cao thu nhập cho người dân.
2.2.2.3. Tình hình sử dụng giống lạc vụ Đông Xuân của các hộ điều tra
Giống là một yếu tố đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả
sản xuất lạc. Thực tế sản xuất nông nghiệp cho thấy một giống tốt cần có đủ ba điều
kiện: cho năng suất cao, chất lượng nông sản tốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh
cao. Vì vậy, để đạt hiệu quả kinh tế cao trong trồng lạc cần chọn lựa giống thích hợp
với điều kiện cụ thể của từng nơi.
Bảng 8: Tình hình sử dụng giống lạc vụ Đông Xuân của các hộ điều tra 2012
Chỉ tiêu ĐVT Giống cao sản Giống L14 L26
Diện tích Sào 14 46 41
24
Cơ cấu % 13,86 45,54 40,59
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Trên địa bàn điều tra tôi thấy các hộ nông dân đa số sử dụng giống lạc do đa số
hộ thấy được tầm quan trọng của giống lạc cho năng suất cao, chống chịu được với
thời tiết khắc nghiệt, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.
Như vậy giống lạc L14 và L26 cho năng suất cao, trồng được nhiều vụ trong
năm, trồng được trên nhiều loại đất khác nhau và khả năng chống chịu khá với các
bệnh đốm nâu, đốm đen, rỉ sắt, chống chịu trung bình với bệnh héo xanh vi khuẩn, khả
năng chống đổ tốt nên được gieo trồng trên diện tích rộng. Với 46 sào giống L14 và 41
sào L26, còn lại 14 sào giống lạc Cao Sản.
Lựa chọn giống tốt, thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, điều kiện sản xuất
ở từng vùng, cho từng loại đất, đồng thời bảo quản tốt hạt giống đảm bảo hạt giống
đem gieo có tỷ lệ nảy mầm cao, mọc đều, mầm mọc khỏe là yêu cầu quan trọng hàng
đầu trong việc trồng lạc đạt năng suất và hiệu quả cao mà các viện nghiên cứu, trại
giống đang tìm hiểu và lai tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của người dân.
2.2.3 Kết quả và hiệu quả sản xuất lạc vụ Đông Xuân năm 2012 của các hộ điều
tra
2.2.3.1 Chi phí sản xuất của các hộ điều tra