đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ca cao của các hộ nhận khoán thuộc công ty tnhh mtv cà phê buôn hồ, thị xã buôn hồ, tỉnh đắk lắk - Pdf 14

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
SẢN XUẤT CA CAO CỦA CÁC HỘ NHẬN KHOÁN
THUỘC CÔNG TY TNHH MTV CÀ PHÊ BUÔN HỒ
THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Hoàng Triệu Huy Phạm Thị Thu Hà
Lớp: K44-KTNN
Huế, 5/2014
Khóa luận tốt nghiệp đại học
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
ĐVT : Đơn vị tính
BQ : Bình quân
BQC : Bình quân chung
GO : Giá trị sản xuất
VA : Giá trị gia tăng
IC : Chi phí trung gian
BVTV : Bảo vệ thực vật
KTCB : Kiến thiết cơ bản
TKKD : Thời kỳ kinh doanh
GTHT : Giá trị hiện tại
CP : Chi phí
DT : Doanh thu
LN : Lợi nhuận
MỤC LỤC

• Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đánh giá thực trạng, tiềm năng và hiệu quả kinh tế từ
việc trồng ca cao của các hộ nhận khoán. Đề xuất những phương hướng và giải pháp
4
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
4
Khóa luận tốt nghiệp đại học
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cao su theo hình thức khoán trên địa bàn Công ty
TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
• Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu: Kết quả diện tích trồng cao su và tổng sản lượng thu
được của các hộ nhận khoán ở các đội sản xuất. Ngoài ra còn sử dụng các thông tin
liên quan từ Internet.
• Trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp: Điều tra phỏng vấn, các
phương pháp phân tích, chuyên gia chuyên khảo.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là: Những hộ nhận khoán của hai đội sản xuất cây ca
cao của Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk trong
thời gian từ năm 2005 – 2013.
• Các kết quả nghiên cứu đạt được:
- Phản ánh được thực trạng, tiềm năng từ các hộ nhận khoán của Công ty TNHH MTV
cà phê Buôn Hồ đem lại cho 64 hộ nhận khoán trồng ca cao.
- Đánh giá được kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ nhận khoán được điều tra
- Tìm ra một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất cũng như năng suất
sản xuất của các hộ nhận khoán được điều tra.
- Đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các hộ
nhận khoán thuộc Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
5
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
5
Khóa luận tốt nghiệp đại học
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài

Khóa luận tốt nghiệp đại học
cây ca cao có thể trồng được trên nhiều nền đất, không đòi hỏi đầu tư quá cao, nhất là
tưới nước. Phát triển cây ca cao phù hợp với xu thế đa dạng hóa cây trồng tạo ra nền
nông nghiệp đa dạng, bền vững, tận dụng mọi tiềm năng đất đai, lao động.
Tại Đắk Lắk, cây ca cao có mặt từ khá sớm nhưng mãi đến năm 2007, khi dự án phát
triển ca cao bền vững tại các nông hộ được triển khai thì cây ca cao mới thực sự có chỗ
đứng trên vùng đất Tây Nguyên. Và cũng từ đó, sản lượng cũng như chất lượng ca cao Đắk
Lắk được tăng lên, góp phần đưa giá trị hạt ca cao của Việt Nam vượt qua Indonesia, và
được xếp vào nhóm nước có chất lượng sản phẩm cao như Brazil, Ghana, Bờ Biển Ngà. Đã
có rất nhiều hộ nông dân trồng thành công cây ca cao đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Cùng hòa nhập với sự phát triển chung trong sản xuất ca cao trên địa bàn tỉnh,
Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích cà phê già
cỗi, năng suất kém sang cây ca cao và tiếp tục giao khoán đến từng hộ gia đình. Việc
giao khoán cho từng hộ thúc đẩy sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất cũng
như tinh thần cho người dân. Tuy nhiên trước tình hình khủng hoảng kinh tế, lạm phát
tăng cao dẫn đến giá cả lên xuống thất thường, biến đổi khí hậu toàn cầu… là những
nguyên nhân xấu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất ca cao. Vì vậy việc, đánh giá hiệu
quả đầu tư và hiệu quả sản xuất của các hộ nhận khoán ca cao tại Công ty TNHH MTV
cà phê Buôn Hồ là rất cần thiết. Để từ đó có thể tìm ra được những giải pháp nhằm phát
triển hình thức nhận khoán tới hộ một cách thích hợp, bền vững và hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ca
cao của các hộ nhận khoán thuộc Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ, thị xã Buôn
Hồ, tỉnh Đắk Lắk”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Đánh giá thực trạng, tiềm năng để phát triển cây ca cao theo phương thức khoán tới
các hộ thuộc Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng ca cao của các hộ nhận khoán ở Công ty
TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ca cao
trên địa bàn Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.

Y= A. X
1
α1
. X
2
α2
. X
3
α3
. X
4
α4
. X
5
α5
. X
6

α6
e
α7.D
Lôgarit hóa 2 vế ta có phương trình:
LnY= LnA + α
1
X
1
+ α
2
X
2

Khóa luận tốt nghiệp đại học
X6: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật (1000đ/ha)
X7: Hệ số biến giả vùng (D)
D=1: Đội I
D=2: Đội II
Và một số phương pháp khác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất ca cao của các hộ nhận
khoán trên địa bàn nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Không gian
Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung phản ánh
tình hình sản xuất ca cao của hơn 60 hộ nhận khoán thuộc đội 1 và đội 2 – Công ty
TNHH MTV cà phê Buôn Hồ, là hai đội chuyên sản xuất ca cao của công ty.
4.2.2. Thời gian
Qua khảo sát thực tế, số liệu được sử dụng để phân tích thực trạng sản xuất ca
cao của hộ từ năm 2005 – 2013 và số liệu sơ cấp năm 2013.
9
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
9
Khóa luận tốt nghiệp đại học
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Tổng quan về cây ca cao
1.1.1.1. Nguồn gốc của cây ca cao
Cây ca cao (Theobroma cacao) thuộc về thứ (genus) Theobroma cacao L., và họ
(family) sterculiaceae. Thứ theobroma bao gồm hơn 20 loài (species), trong đó chỉ có

Mong muốn phát triển trồng cây ca cao tương tự như cây cà phê không thành.
Chương trình nghiên cứu giống ca cao của nhà nước được bắt đầu thực hiện từ
năm 2000. Đến năm 2002, tổ chức Success Alliance có dự án phát triển cây ca cao mà
khởi đầu từ tỉnh Bến Tre, sau đó là các tỉnh Tiền Giang, Bình Phước, Bà Rịa Vũng
Tàu, Đắk Lắk. Đến nay, 01 bộ giống ca cao gồm 8 dòng thương mại đã được công
nhận để nhân giống phục vụ sản xuất.
Tương lai của cây ca cao ở đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây
Nguyên rất hứa hẹn, có thể từ một quốc gia vô tiếng tăm về sản xuất hạt ca cao, Việt
Nam có thể bước lên thành một cường quốc xuất khẩu hạt ca cao trên thế giới, như đã
thành công với cây cà phê Robusta.
1.1.1.2. Đặc điểm của cây ca cao
Ca cao là loài cây thân gỗ nhỏ có thể cao đến 10 – 20 m nếu mọc tự nhiên trong
rừng. Trong sản xuất do trồng mật độ cao và khống chế sự phát triển thông qua tỉa
cành nên cây thường có chiều cao trung bình khoảng 5 – 7 m, đường kính thân 10 – 18
cm. Ca cao sinh trưởng tốt dưới bóng che, do đó có thể trồng xen với một số loài cây
kinh tế khác. Thời kỳ kinh doanh hiệu quả có thể kéo dài từ 25 – 40 năm.
Hoa ca cao nhỏ, có đường kính khoảng 10 – 15 mm, hoa có 5 cánh trổ thành từng
chùm nhỏ trên gỗ cũ, trên thân và cũng như trên những cành hoặc trên những nhánh ở
chỗ lá đã rụng. Nụ hoa bắt đầu nở vào buổi chiều và nở hết vào buổi sáng hôm sau.
Chỉ một phần rất nhỏ trong số các hoa nở sẽ đậu thành trái, mà nhân tố chính cho việc
thụ phấn là những con ruồi nhỏ Ceratopoginidae.
Thời gian phát triển của quả từ khi kết trái đến chín thường trong khoảng 5- 6
tháng. Ngoài ra, quả non hình thành trên cây ca cao không chín hết được, một số lớn
thường khô héo và rụng khỏi cây.
Quả ca cao có chiều dài 10 - 30 cm, đường kính 7 - 9 cm. Quả có thể cân nặng từ
200 – 1000 g. Tuỳ theo từng loài, hình dạng của quả thay đổi nhiều từ hình cầu, hình
dài và nhọn, hình trứng hoặc hình ống. Màu sắc của quả khá đa dạng, có loại trái màu
xanh, loại màu vàng và loại màu đỏ.
11
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà

1.1.3. Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế
1.1.3.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
12
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
12
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Khi bàn về khái niệm hiệu quả kinh tế, GS.TS Ngô Đình Giao cho rằng: “hiệu quả
kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước”. Theo tác giả Hồ Vinh Đào thì:
“hiệu quả kinh tế còn gọi là “hiệu ích kinh tế” so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao
trong hoạt động kinh tế (bao gồm lao động vật hóa và lao động sống) với thành quả có
ích đạt được”. Còn tiến sỹ Nguyễn Tiến Mạnh: “hiệu quả kinh tế là một phạm trù hiệu
quả khách quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác
định”.
Hiện nay, có nhiều nhà nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp như
Farele (1957), Chultz (1967), Rizzo (1979), Ellis(1993), Đỗ Kim Chung (1997), Phạm
Vân Đình (1997). Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra những định nghĩa khác nhau, nhưng
phương diện khác nhau về hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, họ đều thống nhất là phải phân
biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả
kinh tế.
Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm đạt được trên một đơn vị chi phí đầu
vào hay nguồn lực sử dụng sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ
sử dụng vào nông nghiệp. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem
lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá
đầu vào được đưa vào tính toán để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị
chi phí thêm về đầu vào. Bản chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính
đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra
Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả yếu tố hiện vật và yếu tố giá trị đều tính

kinh tế cao thì để tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ.
1.1.3.3. Các chỉ tiêu phân tích
+ Tổng Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ do lao động
sản xuất xã hội tạo ra trong một kỳ nhất định, thông thường là một năm.
Công thức tính: GO = P x Q
Trong đó: P: giá bán/kg hạt ca cao
Q: sản lượng hạt ca cao
+ Chi phí
• Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất bao gồm: chi phí
vật chất và chi phí thuê ngoài (thuê lao động).
• Chi phí đầu tư cơ bản bình quân một ha: là toàn bộ các khoản chi phí cho khai
hoang, trồng và chăm sóc vườn cây ca cao từ khi bắt đầu cho đến năm đầu tiên cho
sản phẩm.
14
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
14
Khóa luận tốt nghiệp đại học
• Tổng chi phí sản xuất (TC): là toàn bộ các hao phí về vật chất, dịch vụ và lao động đã
đầu tư cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong chu kỳ sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (VA): là phần giá trị còn lại của giá trị sản xuất sau khi đã trừ
đi chi phí trung gian.
Công thức tính: VA = GO - IC
• Giá trị gia tăng tạo ra trên doanh thu (VA/GO): cho biết cứ một đồng doanh thu thu
được sẽ tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
• Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC): cho biết cứ một đồng chi phí trung
gian bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
• Chỉ tiêu (GO/IC): Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra thu
được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.
+ Chỉ tiêu lợi nhuận
• Lợi nhuận: Là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh: là một khoản tiền

i i
NPV B C
r r
= =
= −
+ +
∑ ∑
Trong đó:
n: Số năm của chu kỳ kinh doanh
i: Năm kinh doanh thứ i
B
i
: Giá trị thu nhập ròng của dự án tại năm i
15
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
15
Khóa luận tốt nghiệp đại học
C
i
: Vốn đầu tư thực hiện tại năm i
r: Lãi suất tính toán
+ Suất hoàn vốn nội bộ (IRR): Là mức lãi suất tính toán mà ứng với lãi suất này
thì thu nhập của dự án vừa đủ hoàn vốn đầu tư. Có thể nói cách khác: Suất hoàn vốn
nội bộ là lãi suất tính toán mà ứng với nó giá trị hiện tại ròng NPV bằng 0.
Công thức tính:
Trong đó: r
1
là mức lãi suất tính toán
r
2

Nigeria 240 235 225
Others 220 113 83
America 561 13.0% 650 15.9% 618 15.7%
Brazil 200 220 185
16
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
16
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Ecuador 161 193 192
Others 201 237 240
Asia & Oceania 526 12.2% 510 12.5% 500 12.7%
Indonesia 440 440 420
Papua New Guinea 48 39 41
Others 39 32 39
World total 4312 100.0% 4080 100.0% 3931 100.0%
(Nguồn: Tổ chức ca cao quốc tế ICCO)
Biểu đồ 1: Sản lượng ca cao các khu vực
Nguồn: Tổ chức ca cao thế giới, 2013
Cây ca cao cũng như cà phê có sản lượng biến động theo chu kì 2 niên vụ, biên
độ biến động không cao, trong thời gian dài thì sản lượng ca cao có xu hướng tăng. Từ
năm 2002 trở lại đây, so sánh liên hoàn thì niên vụ 2010/11 có mức sản lượng và mức
biến động cao nhất, sản lượng tăng thêm 18.5% so với vụ trước. Niên vụ 2006/07 sản
lượng sụt giảm mạnh nhất, giảm 9.9% so với niên vụ 2005/06.
Trong niên vụ tới dự đoán sản lượng ca cao sẽ sụt giảm, cầu ca cao vượt cung
khoảng 94 nghìn tấn. Côte d’lvoire (Bờ Biển Ngà) là nước có sản lượng ca cao lớn
nhất thế giới, niên vụ 2013 quốc gia đóng góp 1445 nghìn tấn chiếm 36.76% sản lượng
ca cao cho thế giới, đứng thứ 2 là Ghana, thứ 3 là Indonesia. Niên vụ 2013 sản lượng
ca cao của Indonesia đạt 420 nghìn tấn chiếm 10.68% sản lượng ca cao toàn thế giới
và đứng đầu châu Á về sản xuất ca cao.
Nhận thấy tiềm năng của cây ca cao, thời gian qua nước ta đã quan tâm hỗ trợ,

Tuy nhiên, dù đã có trên chục năm nghiên cứu và vận động, diện tích và sản
lượng ca cao của nước ta vẫn chưa tiến triển như mong đợi. Theo Cục Trồng trọt thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến cuối năm 2013 cả nước chỉ có
chừng 22.000 héc ta ca cao và cho sản lượng chừng 6.500 tấn hạt. Sản lượng thấp do
ca cao nước ta chỉ trồng xen canh trong các vườn điều, cao su tại Đắk Lắk hay dưới
tán dừa ở Bến Tre.
Trước đây, trong thời gian từ cuối năm 2011 kéo dài sang năm 2012, giá kỳ hạn
ca cao tại Mỹ có lúc dưới 2.000 đô la/tấn, diện tích ca cao giảm nhẹ, đặc biệt tại các
nhà vườn ở Đắk Lắk.
Tại một hội nghị cuối năm 2013, ngành ca cao đã đặt chỉ tiêu nâng sản lượng lên
15.000 tấn hạt cho năm 2020. Chỉ tiêu này được xem là một cố gắng lớn, nhưng với
chừng ấy, so ra ca cao Việt Nam trong vòng năm, sáu năm tới vẫn thua sản lượng của
Bờ biển Ngà gấp cả trăm lần hiện nay.
Dù vậy, ngành ca cao thế giới vẫn kiên nhẫn chờ Việt Nam. Đã có nhiều nước và
tổ chức quốc tế hỗ trợ nông dân nước ta trồng và tăng nhanh diện tích cũng như sản
lượng ca cao dưới nhiều hình thức: chọn giống, hỗ trợ kỹ thuật, phương pháp chế biến,
quản lý chuỗi cung ứng ca cao với hy vọng ngành ca cao Việt Nam lên ngôi như đã
từng xảy ra tại các ngành nông sản khác.
Không đơn giản như các loại nông sản khác, yêu cầu chất lượng xuất khẩu của ca
cao thông qua quá trình lên men rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia
ca cao trong nước, đây lại là khâu yếu nhất của nước ta vì sản lượng đã nhỏ, kỹ thuật
chưa rành rọt, ai cũng đòi tự lên men riêng tại nhà. Chính vì vậy, khi lên men không
thành công, hao hụt sau thu hoạch gây tổn thất trong xuất khẩu khá lớn.
Viễn cảnh thị trường và giá cả ca cao phía trước rất rộng và đầy hứa hẹn. Tuy
chưa thế soán ngôi được từ tay các nước xuất khẩu ca cao tốp đầu hiện nay, cây ca cao
cũng đáng được quan tâm vì vốn đầu tư ban đầu ít, chăm sóc không nặng nhọc và đặc
biệt, cây ca cao có thể là lối ra hợp lý nhất trong việc đa dạng hóa sản phẩm nông sản
và thị trường hiện nay.
Diện tích ca cao đang dần được mở rộng, cây ca cao thay dần các diện tích cây
trồng kém hiệu quả. Nhờ đặc tính chịu bóng cây ca cao được đưa trồng xen trong các

lên men, đến cuối tháng 2/2014, giá ca cao tăng mạnh tại các sàn kỳ hạn và cả trên thị
trường nội địa. Riêng giá hạt ca cao lên men ngày 25-2 vừa qua tại tỉnh Đắk Lắk đang
ở mức mức 56.500 đồng/kg, thấp đôi chút so với 57.200 đồng/kg cách đây hai tuần.
Nếu như thời giá hiện tại của cà phê loại 2,5% đen vỡ chừng 38.000 đồng/kg, giá ca
20
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
20
Khóa luận tốt nghiệp đại học
cao vẫn cao hơn gần 20.000 đồng/kg. Đây là một tín hiệu tốt cho người dân sản xuất
ca cao trên địa bàn. Trước đó, từ cuối năm 2012 tới giữa năm 2013, giá ca cao thấp,
chỉ đạt từ 35.000 – 38.000đ/kg hạt khô nên người dân đã vội đốn bỏ ca cao để chuyển
sang cây trồng khác có thu nhập hấp dẫn hơn. Giá ca cao thấp suốt một thời gian dài
gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất của các nông hộ trồng ca cao.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đắk Lắk, toàn tỉnh hiện có trên
2.500 ha cây ca cao, trong đó có 965 ha đã đưa vào kinh doanh cho thu hoạch, với
năng suất bình quân 15 tạ hạt khô/ha. Diện tích ca cao này tập trung nhiều nhất trên
địa bàn các huyện Lăk, Ea Kar, Cư Kuin, Krông Bông.
Tại Đắk Lắk, ca cao là loại cây phát triển sau, đầu ra xuất khẩu chưa được ổn
định như cà phê, tiêu và hạt điều… nên mỗi khi giá có biến động bất lợi, ca cao
thường là cây bị nông dân “bỏ rơi” trước tiên.
1.2.2.2. Tình hình sản xuất ca cao tại Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
a. Điều kiện sản xuất ca cao tại Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ.
+ Vị trí địa lý.
Công ty TNHH MTV cà phê Buôn Hồ trực thuộc Thị xã Buôn Hồ, nằm ở phía
Đông Bắc của thành phố Buôn Ma Thuột, cách trung tâm tỉnh lỵ 40 km, chạy dọc theo
Quốc lộ 14, phía đông giáp huyện Krông Năng, EaKar; phía tây giáp huyện Cư
M’Gar; phía nam giáp huyện Krông Pắc; phía bắc giáp huyện Krông Búk. Thị xã Buôn
Hồ là đơn vị có quy mô và vị trí quan trọng thứ hai của tỉnh Đắk Lắk (sau thành phố
Buôn Ma Thuột).
Diện tích ca cao của Công ty cà phê Buôn Hồ tương đối tập trung, nằm trong

khác tại vùng Tây Nguyên.
Nguồn nước phục vụ sản xuất ca cao của công ty chủ yếu lấy từ suối Rossi và
một số hồ chứa nhỏ được xây dựng từ các hợp thủy trong vùng. So với các đơn vị sản
xuất kinh doanh cây cà phê khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thì Công ty cà phê Buôn
Hồ không phải là đơn vị có điều kiện thuận lợi về nguồn nước tưới.
b. Tình hình sản xuất ca cao của Công ty.
Giai đoạn 1996 - 2006, công ty TNHH MTV Buôn Hồ gặp nhiều khó khăn thách
thức khi mà giá cà phê liên tục hạ dẫn đến giá thành sản xuất cao hơn so với giá bán.
Sản xuất gặp nhiều thiên tai, sâu bệnh kéo dài, việc đầu tư cho cà phê gặp rất nhiều khó
khăn. Đứng trước tình hình đó, năm 2005, công ty đã mạnh dạn chuyển đổi và đưa cây
ca cao vào sản xuất thay thể cho diện tích cà phê già cỗi từ thời Pháp thuộc, thực hiện đa
dạng hoá cây trồng để phát triển sản xuất bền vững, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Căn cứ vào điều kiện đất đai và sinh thái trong vùng, công ty đã bố trí lại sản
xuất, chuyển một phần diện tích cà phê vối (Robusta) già cỗi kém hiệu quả sang trồng
các loại cây khác. Qua 8 năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, công ty đã phát triển được
hơn 140ha ca cao, 20ha cà phê chè Catimor trên vùng đất trước đây trồng cà phê vối
22
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
22
Khóa luận tốt nghiệp đại học
và trên 50ha sầu riêng trồng xen trong vườn cà phê kinh doanh. Hiện nay, diện tích cà
phê vối kinh doanh còn lại trên 800ha. Nhờ đầu tư thâm canh tốt, toàn bộ diện tích các
loại cây trồng trên đều sinh trưởng và phát triển.
Qua thực tế sản xuất cho thấy cây ca cao dễ trồng, công chăm bón không nhiều,
tưới ít nước, hoặc không cần nước trong mùa khô nên giảm được chi phí đầu tư. Thời
gian gần đây, giá ca cao tăng đáng kể, sản phẩm dễ tiêu thụ nên công ty có hướng tiếp
tục mở rộng diện tích ca cao. Dự kiến từ nay đến năm 2015, công ty sẽ tiếp tục thay
thế số diện tích cà phê vối già cỗi, trồng thêm trên 50ha ca cao. Toàn bộ giống ca cao
đều do Viện Khoa học kỹ thuật nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cung cấp, chất lượng
tốt. Hiện nay, công ty đã đưa trên 70ha ca cao vào kinh doanh với năng suất đạt từ 1

khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng và tăng năng suất cà
phê, năng suất trung bình từ 1tấn/ ha lên đến 3tấn/ha. Những năm gần đây công ty thực
hiện đa dạng hóa cây trồng, chuyển một số diện tích cà phê già cỗi sản xuất kém hiệu
quả sang trồng cây ca cao và trồng xen cây sầu riêng trong các vườn cà phê kinh
doanh. Quá trình xây dựng và phát triển của công ty có thể chia thành 4 giai đoạn.
Giai đoạn 1976 – 1986: Khai hoang để mở rộng diện tích cà phê, ngoài ra phải
quản lí xã hội. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng bảo vệ chính quyền cơ sở, xây
dựng mối quan hệ giữa đồng bào dân tộc tại chỗ với những công nhân mới nhập cư.
Giai đoạn 1986 – 1996: Thực hiện đổi mới cơ chế quản lí, áp dụng hình thức giao
khoán theo chủ trương của Đảng và nhà nước. Từ phương án khoán thưởng sang
khoán gọn sau đó đến khoán tổng hợp như hiện nay.
Giai đoạn 1996 – 2006: Giai đoạn này công ty phải đối mặt nhiều khó khăn thách
thức. Giá cà phê hạ, giá thành sản xuất cao hơn so với giá bán. Sản xuất gặp nhiều
thiên tai, sâu bệnh kéo dài, việc đầu tư cho cà phê gặp nhiều khó khăn. Tình hình an
ninh chính trị trên địa bàn diễn biến phức tạp. Thực hiện đa dạng sản xuất, bắt đầu đưa
ca cao và sầu riêng vào trồng.
Giai đoạn 2006 – 2011: Phát huy nội lực, giữ vững đà phát triển Trong giai
đoạn này công ty chịu anh hưởng lớn của sự suy thoái kinh tế trong nước và quốc tế.
Trải qua quá trình phát triển hơn 35 năm hiện nay công ty đã phát triển diện tích
cà phê lên gấp 3.46 lần, năng suất tăng gấp 3 lần, sản lượng thu từ 300 tấn cà phê nhân
lên 4,000 tấn nhân mỗi năm tăng 13.3 lần.
Quá trình hơn 35 năm xây dựng và phát triển của công ty là kết quả của sự vận
động vận dụng có sáng tạo đường lối chính sách, kinh tế đổi mới của Đảng và Nhà
nước ta và sự phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên chức, người
lao động toàn công ty đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua Huân chương Lao
động hạng 2 và 3 của Chủ tịch nước, 6 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng cho
các tập thể và cá nhân. Đã có 15 tập thể và 60 cá nhân được tặng bằng khen của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 10 tập thể và cá nhân được Ủy ban nhân dân
24
GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà

GVHD: TS. Hoàng Triệu Huy SVTH: Phạm Thị Thu Hà
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status