đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất dưa hấu ở xã cẩm la – huyện kim thành – tỉnh hải dương - Pdf 14

Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế & ptnt

p
luận văn tốt nghiệp
đề tài:
Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất da hấu ở xã Cẩm La
huyện Kim Thành tỉnh Hải Dơng
Giáo viên hớng dẫn : Th.s nguyễn thị vang
Sinh viên thực hiện : phạm quang sơn
Lớp : KTb K49
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Hà Nội - 2008
Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và cha hề đợc sử dụng để bảo vệ trong
một khoá luận nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã đợc cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều đợc ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Sinh Viên
Phạm Quang Sơn
ii
Lời cảm ơn
Trứoc hết tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo
và các cán bộ công nhân viên trờng Đại học Nông nghiệp I Hà
Nội đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trờng.
Nhân dịp hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình, tôi xin chân

Dưa hấu là loại cây trồng thuộc họ Bầu Bí, một loại cây có vỏ cứng,
chứa nhiều nước. Dưa hấu rất đa dạng về hình dạng (dạng thuôn dài,
dạng oval, dạng trái tròn) và màu sắc (đỏ, hồng, vàng, cam, trắng) 12
Là loại cây có nguồn gốc vùng khí hậu nóng nên thích nghi với khí hậu
ấm áp, khô ráo, đầy đủ ánh sáng giúp trổ nhiều bông cái và cho trái chín
sớm, năng suất cao. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của dưa hấu
là 25 - 30 oC nên rất dễ trồng trong mùa nắng ở đồng bằng sông Hồng và
trong cả nước. Dưa hấu có dễ mọc sâu, chịu úng kém, chịu hạn khá nhất
là khi cây đã trổ bông, kết quả. Cây không yêu cầu đất một cách nghiêm
khác, chỉ cần chọn đất thoát nước tốt, cơ cấu nhẹ, tầng canh tác sâu,
không quá phèn. Các vùng đất đất cát gần biển, đất phù sa ven sông rất
lý tưởng để trồng dưa hấu, chỉ cần chú ý tưới nước và bón phân. Đất cát
pha tơi xốp, nhiệt độ cao dễ thoát nước có lợi cho bộ rễ phát triển, chất
lượng dưa tốt, chăm sóc đỡ tốn kém. Đất trồng dưa nên cao, thoáng
không bị bóng râm che, không bị gió bão, chịu được pH hơi phèn trong
phạm vị 5 - 7 12
Dưa hấu không nên liên canh, dễ thất bại vì cây bị bệnh nhiều như chạy
dây, nứt thân … 13
Là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn từ 55 - 60 ngày có thể
cho thu hoạch. Yêu cầu về hình dạng của sản phẩm tùy thuộc vào từng
giống dưa 13
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 16
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Cẩm La 16
iv
3.1.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội 17
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của xã Cẩm La trong sản xuất dưa
hấu 28
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Biểu 3.2: Tình hình sử dụng đất Nông nghiệp của xã Cẩm La 21
Biểu 3.3: Tình hình dân số và lao động của xã Cẩm La 23
Biểu 3.4: Cơ sở hạ tầng của xã Cẩm La năm 2007 26
Biểu 3.5: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 27
Biểu 4.1: Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng dưa hấu của xã Cẩm La. 38
Biểu 4.2: Diện tích, năng suất và sản lượng dưa hấu của các nhóm hộ điều tra
năm 2007 41
ở xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 43
Biểu 4.4: Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1 sào dưa hấu (360 m2) của
các nhóm hộ điều tra 45
ở xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 45
Biểu 4.5: Tình hình sản xuất dưa hấu của hộ nông dân theo mùa vụ năm 2007
47
Biểu 4.6: Chi phí sản xuất cho 1 sào dưa hấu (360 m2) theo mùa vụ ở xã Cẩm
La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 49
Biểu 4.7: Kết quả và hiệu quả sản xuất 1 sào dưa hấu (360 m2) theo mùa vụ ở
xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 50
Biểu 4.8: Tình hình chi phí sản xuất cho 1 sào dưa hấu (360 m2) theo giống
dưa ở xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 52
Biểu (4.9): Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1 sào dưa hấu theo giống ở
xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá năm 2007) 54
Biểu (4.10): Chi phí sản xuất cho 1 sào (360 m2) dưa Xuân và lúa Chiêm năm
2007 ở xã Cẩm La (Tính theo giá năm 2007) 56
Biểu (4.11): So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 57
Dưa Xuân và Lúa Chiêm ở xã Cẩm La năm 2007 (Tính theo giá 2007) 57
Biểu (4.12): Chi phí sản xuất cho 1 sào (360 m2) 59
Dưa Hè và Lúa Mùa sớm năm 2007 ở xã Cẩm La (Tính theo giá 2007) 59
Biểu (4.13): So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 61
Dưa Hè và Lúa Mùa sớm ở xã Cẩm La năm 2007 61
(Tính theo giá 2007) 61

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ T–I
Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt là một trong hai ngành sản xuất
chủ yếu và quan trọng. Trồng trọt cung cấp lương thực, thực phẩm cho con
người, cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến
lương thực thực phẩm, ngoài ra các sản phẩm phụ của ngành còn là thức ăn cho
phát triển chăn nuôi. Ngoài cây lúa thì cây rau màu ngắn ngày là một trong những
cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành ngành trồng
trọt nói riêng, là một mắt xích quan trọng trong các công thức luân canh cây trồng
ở nước ta.
Ở nước ta, có nhiều vùng có điều kiện rất thuận lợi về đất đai, khí hậu
… để cây dưa hấu sinh trưởng và phát triển.
Cây dưa hấu là loại cây vừa có giá trị về mặt y học, vừa có giá trị về
dinh dưỡng và giá trị về mặt kinh tế, do đó được sản xuất phổ biến và rộng rãi
ở những nơi có điều kiện thuận lợi ở nước ta. Do đặc thù của cây dưa hấu là
loại cây ngắn ngày (thời gian sinh trưởng từ 55 – 60 ngày) có thể trồng được
quanh năm, từ Bắc vào Nam, có thể phối hợp với nhiều loại cây trồng trong
công thức luân canh cây trồng trong vùng. Mặt khác, cây dưa hấu là loại cây
có thể thích hợp với nhiều loại đất khác nhau, thích hợp với các công thức
luân canh tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo công ăn việc làm, nâng
cao thu nhập cho người nông dân.
Cẩm La là một xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, là địa
phương có điều kiện về thời tiết, khí hậu, đất đai, lao động … rất thuận lợi
cho việc sản xuất cây dưa hấu. Tuy nhiên là xã nhỏ có diện tích đất nông
nghiệp ít, trong những năm gần đây đất sản xuất nông nghiệp của xã ngày
càng bị thu hẹp do phải nhường đất cho mục đích sử dụng khác. Người dân
nơi đây có thu nhập chính từ ngành trồng trọt, do đó việc tìm tòi, áp dụng
khoa học kỹ thuật, đưa những giống cây mới có giá trị kinh tế cao thích hợp
với việc thâm canh tăng vụ để nâng cao thu nhập trên diện tích đất sản xuất

4
PHẦN 2
TỔNG QUAN T–I LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ T–I
2.1.1 Những vấn đề chung về HQKT
2.1.1.1 Khái niệm về HQKT trong sản xuất nông nghiệp
HQKT là một chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của hoạt động sản
xuất kinh doanh, nội dung là so sánh kết quả đạt được với chi phí đã bỏ ra để
đạt được kết quả đó. HQKT còn là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế, nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế tức là tăng
cường trình độ tận dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động kinh tế. Đây là
đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội vì mục tiêu của sản xuất xã
hội là phát triển kinh tế xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật
chất, tinh thần của toàn xã hội với nguồn lực có giới hạn, nâng cao chất lượng
của hoạt động Kinh tế - Chính trị - Xã hội.
Từ năm 1878, Sapodonicop và nhiều nhà kinh tế, nhà khoa học đã bàn
về vấn đê HQKT song mãi đến năm 1910 mới có văn bản pháp quy để đánh
giá HQKT. Từ đó đến nay, khái niệm này đã và đang được quan tâm nghiên
cứu và là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Tổng quát về HQKT là so sánh kết quả đạt được với chi phí đã bỏ ra
để đạt được kết quả đó. Tuy nhiên khái niệm HQKT của các nhà kinh tế ở
nhiều nước và nhiều lĩnh vực có quan điểm nhìn nhận rất khác nhau. Ở đây
chúng tôi chỉ đưa ra một số quan điểm sau:
- Quan điểm 1: Xem xét HQKT trong trạng thái tĩnh.
HQKT được xác định bởi tỷ số giữa các kết quả đạt được và chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó, bao gồm cảc nhân tài và vật lực. Công thức:
H =
C
Q
5

C∆
: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Đây là cách đánh giá có ưu thế khi xem xét HQKT của đầu tư theo
chiều sâu hoặc trong vấn đề áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tức là
nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Hạn chế của nó là
không xem xét đến HQKT của tổng chi phí đã bỏ ra.
6
Như vậy, HQKT cần phải được xem xét một cách toàn diện, trên quan
điểm toàn diện. Có quan điểm cho rằng: Xem xét HQKT là không thể loại bỏ
mục tiêu về lợi ích xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ
Văn hoá – Xã hội của cộng đồng. Đây là quan điểm rất đúng đắn, phù hợp
với xu thế phát triển kinh tế trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Cùng với một số quan điểm của các tác giả Phạm Vân Đình, Đỗ Kim
Chung, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà,… đã phân biệt 3 khái niệm cơ bản
về HQKT, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ các nguồn lực, chỉ khi nào
đảm bảo cùng đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì mới đạt
được hiệu quả kinh tế.
+ Hiệu quả kỹ thuật: Là đơn vị số lượng sản phẩm có thể đạt được trên
một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sản xuất trong những điều kiện cụ
thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật
được áp dụng phổ biến trong Kinh tế Vĩ mô để xem xét việc sử dụng nguồn
lực cụ thể, nó chỉ ra rằng nếu một đơn vị nguồn lực được đưa vào sản xuất
đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào
bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệp, kỹ
năng của người nông dân, môi trường kinh tế xã hội mà trong đó kỹ thuật
được áp dụng.
+ Hiệu quả phân bổ: Chỉ tiêu trong các yếu tố giá sản phẩm, giá đầu
vào được tính để phản ánh giá trị thu thêm trên một đồng chi phí thêm về
đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật
có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra.

yếu tố đầu ra, là biểu hiện mối quan hệ của kết quả và hiệu quả sản xuất. Kết
quả là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội
dung tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Khi xác định HQKT không nên chỉ
8
quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối
(phép trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại
lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối. HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá
trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung - cầu.
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần.
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích được tạo
ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể nào, có
được chấp nhận hay không? Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố
đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp
là rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi
phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Việc đánh giá
phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp gắn bó giữa các yếu
tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết sức quan
trọng trong việc đánh giá HQKT. Tuỳ thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù
của ngành sản xuất khác nhau thì hiệu quả kinh tế được xem xét dưới góc độ
khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất. Xác định các yếu tố đầu
ra: Các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế
quốc dân, hàng hoá sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả
đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận… Xác định các yếu tố đầu vào:
Đó là những yếu tố chi phí về vật chất, công lao động, vốn…
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị
trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: Tính khấu hao,

10
lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối. Tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá về
kết quả sản xuất và tối thiểu hoá về chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn.
- Hiệu quả xã hội:
Phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội do
sản xuất mang lại, thông qua các chỉ tiêu như giải quyết công ăn việc làm,
bảo vệ môi trường, an ninh xã hội…
- Hiệu quả môi trường:
Đây là vấn đề bức bách nhất hiện nay, đã và đang được nhiều ngành,
nhà quản lỹ và nhà khoa học quan tâm. Hoạt động sản xuất được coi là hiệu
quả thì không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Nếu chỉ quan tâm đến
HQKT mà không quan tâm đến hiệu quả môi trường thì có thể sẽ gây ra
những tổn thất lớn hơn nhiều so với HQKT đạt được, bên cạnh đó việc khắc
phục rất khó khăn và tốn nhiều chi phí do hiệu quả môi trường được phân
tích bằng các chỉ tiêu định tính như: Bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo sự cân
bằng sinh thái, hạn chế xói mòn đất, hạn chế lũ lụt, tăng cường độ che phủ
đất…
 Căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế có thể chia ra:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn
bộ nền sản xuất xã hội.
- Hiệu quả kinh tế ngành.
- Hiệu quả kinh tế vùng, lãnh thổ.
- Hiệu quả kinh tế theo quy mô, tổ chức.
- Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật.
 Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương thức tác
động vào sản xuất, có thể chia ra:
- Hiệu quả sử dụng vốn.
- Hiệu quả sử dụng đất đai.
- Hiệu quả sử dụng lao động.
11

12
trổ bông, kết quả. Cây không yêu cầu đất một cách nghiêm khác, chỉ cần
chọn đất thoát nước tốt, cơ cấu nhẹ, tầng canh tác sâu, không quá phèn. Các
vùng đất đất cát gần biển, đất phù sa ven sông rất lý tưởng để trồng dưa hấu,
chỉ cần chú ý tưới nước và bón phân. Đất cát pha tơi xốp, nhiệt độ cao dễ
thoát nước có lợi cho bộ rễ phát triển, chất lượng dưa tốt, chăm sóc đỡ tốn
kém. Đất trồng dưa nên cao, thoáng không bị bóng râm che, không bị gió
bão, chịu được pH hơi phèn trong phạm vị 5 - 7.
Dưa hấu không nên liên canh, dễ thất bại vì cây bị bệnh nhiều như
chạy dây, nứt thân …
Là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn từ 55 - 60 ngày có thể cho
thu hoạch. Yêu cầu về hình dạng của sản phẩm tùy thuộc vào từng giống dưa.
Trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là đối với ngành trồng trọt có rất
nhiều khâu khác nhau, mỗi chủng loại cây trồng khác nhau đều có phương
pháp, đặc điểm sản xuất khác nhau ngoài những đặc điểm chung như: đất,
nước, khí hậu,… Sản xuất dưa hấu cũng vậy, ngoài những đặc điểm chung nó
còn có những đặc điểm, phương pháp sản xuất riêng nên khi đánh giá HQKT
cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng có như vậy mới đánh giá HQKT một cách
chính xác.
- Cây dưa hấu phải trải qua thời kỳ ươm giống trước khi đem ra trồng.
- Là loại cây đòi hỏi kỹ thuật sản xuất cao, đầu tư vốn công lao động
lớn như: Đất đai, phân bón, thuốc BVTV, nguồn nước tưới…
- Là sản phẩm tươi xanh của ngành sản xuất hàng hoá, hầu hết các sản
phẩm sau thu hoạch đều phải tung ra thị trường do đó thị trường quyết định
đến tồn tại và phát triển sản xuất dưa hấu.
Do đó, đánh giá HQKT sản xuất dưa hấu rất phong phú và đa dạng, ngoài
việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế nói chung thì phải chú ý đến các vấn đề sau:
- Đặc điểm, chu kỳ, thời vụ sản xuất dưa hấu.
- Áp dụng công thức luân canh.
13

trong huyện, nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng diện tích các loại cây
trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm dần diện tích các loại cây trồng
truyền thống của địa phương có năng suất không cao hoặc hiệu quả kinh tế
thấp.
Tại hai huyện này, cây dưa là cây truyền thống, hiện đang được đưa
vào làm cây mũi nhọn, nhiều biện pháp thâm canh, kinh nghiệm tốt xuất phát
từ người dân được Trạm khuyến nông của hai huyện và Trung tâm khuyến
nông của Tỉnh tổng kết để đưa vào qui trình khuyến cáo như kỹ thuật làm
bầu, làm luống mái dốc, thụ phấn nhân tạo bổ sung … để đảm bảo chất lượng
của dưa được tốt.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hiện bà con trồng dưa
đang gặp phải khó khăn lớn là hệ thống tưới tiêu tại vùng này đang xuống cấp
nghiêm trọng. Tình trạng trên rất cần được tỉnh, huyện nhanh chóng hỗ trợ,
tháo gỡ giúp vùng chuyên canh dưa hấu tiếp tục phát triển.
15
PHẦN 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA B–N V– PHƯƠNG PH–P NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA B–N NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Cẩm La
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Cẩm La là một xã nhỏ, nằm ở phía Đông Nam huyện Kim Thành - tỉnh
Hải Dương, có tổng diện tích tự nhiên là 290,0 ha với dân số là 3504 người
(năm 2007).
Phạm vi ranh giới của xã Cẩm La được xác định như sau:
- Phía Đông giáp xã An Hoà - huyện An Hải – thành phố Hải Phòng.
- Phía Tây giáp xã Bình Dân.
- Phía Bắc giáp xã Kim Tân.
- Phía Nam giáp 2 xã Đồng Gia và Tam Kỳ.
Xã Cẩm La cách trung tâm huyện lỵ Kim Thành 10.2 km, cách quốc lộ
5A 10.5 km, cách trung tâm thành phố Hải Dương 37 km và cách trung tâm

khí ẩm ướt độ ẩm trung bình từ 82 – 89 %, nhiệt độ trên 20
o
C. Từ tháng 5
trở đi có gió Nam và gió Đông Nam, độ ẩm tương đối thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp nhưng thực tế lại gặp một số khó khăn do lượng mưa phân bố
không đều lúc ít, lúc nhiều, lúc hạn hán nhưng lúc lại gặp lũ lụt. Điều này đòi
hỏi phải xây dựng hệ thống thuỷ lợi một cách hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
 Nông hoá thổ nhưỡng.
Xã Cẩm La nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, do vậy đất đai
của xã là loại đất phù sa, địa hình khá bằng phẳng, đất đai rất thích hợp với
các loại cây rau màu, đặc biệt là đối với cây dưa hấu.
3.1.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Cẩm La
Qua biểu (3.1) về tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã ta thấy
tổng diện tích tự nhiên của xã ổn định qua 3 năm từ 2005 đến 2007 là do
trong thời gian này không có sự điều chỉnh quy hoạch về đất đai của UBND
huyện Kim Thành.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 290,0 ha trong đó diện tích đất nông
nghiệp là 197,3 ha chiếm 68,034 % tổng diện tích đất tự nhiên và ổn định qua
3 năm. Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2005 của xã là 89,2 ha chiếm
30,759 % tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2006 là 90,0 ha chiếm 31,034 %,
năm 2007 là 90,4 ha chiếm 31,172 %. Như vậy diện tích đất phi nông nghiệp
của xã qua 3 năm có xu hướng tăng lên, bình quân mỗi năm tăng 0,670 %, sở
dĩ đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên là do sự gia tăng về dân số của
17
Biểu 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai ở xã Cẩm La
Chỉ tiêu ĐVT
2005 2006 2007 So sánh (%)
SL

0.110 0.112 0.108 101.36 96.72 99.01
4. BQ đất NN/hộ NN Ha/ hộ
0.226 0.228 0.224 100.92 98.52 99.43
(Nguồn: Ban Thống kê xã Cẩm La)
1
8
18
xã do vậy từ năm 2004 UBND xã Cẩm La đã có chính sách chuyển đổi một
số diện tích đất chưa sử dụng sang làm đất ở. Cụ thể, năm 2005 diện tích đất
ở là 25,1 ha chiếm 28,139 % tổng diện tích đất phi nông nghiệp, năm 2006 là
25,9 ha chiếm 28,778 %, năm 2007 là 26,3 ha chiếm 29,093 %.
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp không giảm nhưng do có sự gia tăng
về dân số nên diện tích đất nông nghiệp bình quân trên một nhân khẩu giảm
dần qua 3 năm. Năm 2005 là 573,38 m
2
/khẩu, năm 2006 là 568,10 m
2
/khẩu
đến năm 2007 còn 563.07 m
2
/khẩu, bình quân mỗi năm giảm 0.903 %. Tương
tự như vậy diện tích đất nông nghiệp bình quân trên 1 lao động cũng giảm qua
3 năm, năm 2005 là 997,47 m
2
, năm 2006 là 996,46 m
2
, năm 2007 là 961,03 m
2
,
bình quân mỗi năm giảm 1,844 %. Tuy nhiên sự biến động này không lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status