ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MẠC VĂN TÙNG Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT "RƯỢU THÓC"
TẠI XÃ LĂNG CAN, HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Khóa học : 2009 - 2013
Thái Nguyên - 2014
Thái Nguyên - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ môn học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện khóa luận này
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Sinh viên Mạc Văn Tùng
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, khoa Kinh tế - Phát triển nông thôn, thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ
Nguyễn Mạnh Hà, tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất "rượu thóc" tại xã Lăng Can, huyện
Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang”.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ-
Nguyễn Mạnh Hà đã trực tiếp hướng dẫn thực hiện đề tài này. Đồng thời tôi
cũng nhận được sự giúp đỡ của UBND huyện Lâm Bình, các ban ngành đoàn
thể của huyện, đặc biệt là UBND xã Lăng Can, phòng Thống Kê, phòng Kinh
tế - Hạ tầng huyện.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo đã giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi cũng xin bày tỏ lời biết ơn sâu
1.2.3. Vai trò của lúa gạo trong nền kinh tế Việt Nam 12
1.3. Rượu và vai trò của rượu trong đời sống nhân dân 13
1.3.1. Nguồn gốc rượu 13
1.3.2. Vai trò của rượu trong đời sống nhân dân 14
1.4. Tình hình nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ rượu 15
1.4.1. Thành phần và quy trình sản xuất rượu thóc 15
1.4.1.1. Giới thiệu về men lá 15
1.4.1.2. Thành phần của rượu thóc 17
1.4.1.3. Quy trình sản xuất rượu thóc 18
1.4.1.4. Đánh giá chất lượng rượu thóc 19
1.4.2. Tình hình tiêu thụ rượu thóc tại xã Lăng Can 19
1.4.3 . Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu trên thế giới 20
1.4.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu ở Việt Nam 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Phạm vi nghiên cứu 24
2.3. Nội Dung nghiên cứu 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu 24
2.4.2. Phương pháp điều tra 25
2.4.3. Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội Xã Lăng Can 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1.1. Vị trí địa lý 28
3.1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng 28
3.1.1.3. Khí hậu, thủy văn 32
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 33
3.1.2.1. Dân số và lao động 33
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất của xã giai đoạn 2011-2013 37
Bảng 3.4: Số hộ tham gia sản xuất rượu và tổng số lít rượu được sản xuất ra
tại xã Lăng Can những năm gần đây 42
Bảng 3.5: Tình hình nhân lực của nhóm hộ sản xuất rượu thóc và nhóm hộ
sản xuất rượu gạo 43
Bảng 3.6: Chi phí sản xuất và sản lượng thu được của các hộ sản xuất rượu
thóc trên địa bàn nghiên cứu 44
Bảng 3.7: Sô lượng lít rượu của nhóm hộ nghiên cứu 45
Bảng 3.8: Giá cả về lợn và thức ăn chăn nuôi lợn trên địa bàn nghiên cứu 47
Bảng 3.9: Bảng chi phí chăn nuôi lợn có bổ sung và không bổ sung bỗng
rượu 48
Bảng 3.10: Tổng chi phí sản xuất rượu gạo của nhóm hộ nghiên cứu 49
Bảng 3.11: So sánh hiệu quả kinh tế của nhóm hộ sản xuất rượu thóc và nhóm
hộ sản xuất rượu gạo trong năm 2013 50
Bảng 3.12: So sánh lợi nhuận giữa rượu thóc vào rượu gạo 51
DANH MỤC VIẾT TẮT
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
DN : Doanh nghiệp
ĐVT : Đơn vị tính
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
(Food and Agriculture Organization of the United
Nations)
GO : Tổng giá trị sản xuất
HTX : Hợp tác xã
IC : Chi phí trung gian
Kg : Kilogram
Lđ : Lao động
MI : Kết quả cuối cùng
nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang đầu tư
phát triển ngành sản xuất rượu.
Ở nước ta, nghề nấu rượu đã có từ lâu đời trong dân gian. Ở miền núi
đồng bào dân tộc dùng thóc, gạo, ngô, sắn, nấu chín rồi cho lên men, men
này được lấy từ lá cây cho lên men thuần khiết. Ở một số nơi khác, người ta
nuôi cấy và phát triển nấm men, nấm mốc trong thiên nhiên trên môi trường
thích hợp (gạo, và một số vị thuốc bắc) để lên men rượu từ nguyên liệu tinh
bột đã được nấu chín. Vì vậy nguồn nguyên liệu trong sản xuất rượu đã góp
2
phần tạo nên nét đặc trung cho từng vùng là một trong những yếu tố tạo nên
giá trị truyền thống và đặc sắc cho sản phẩm của vùng đó, chẳng hạn như
rượu làng Vân (Bắc Ninh), rượu Tây Nguyên, Rượu Bầu Đá (Bình Định),
rượu ngô Na Hang (Tuyên Quang) Tất cả đều làm theo kinh nghiệm cha
truyền con nối.
Việc nấu rượu truyền thống nếu thực hiện đúng thì rượu làm ra uống rất
ngon, vị đâm và êm dịu, say mà không cảm thấy xốc hay đau đầu. Tuy nhiên
rượu truyền thống chưa được hưởng lợi nhiều từ các nghiên cứu khoa học,
thực trạng sản xuất rượu truyền thống ở một số địa phương của nước ta vần
còn là một điều bất cập, chất lượng sản phẩm chưa ổn định, chưa đạt tiêu
chuẩn để xuất khẩu, thương hiệu chưa được nhiều người biết đến Mặt khác,
xu hướng trên thế giới là tiến hành công nghiệp hóa các sản phẩm truyền
thống và quảng cáo hình ảnh thương hiệu của mình đến khắp nơi.
Riêng trường hợp rượu thóc, rượu ngô là sản phẩm độc đáo của người
Tày, người Mông Miền Bắc nước ta là những trường hợp rất đáng lưu ý. Bởi
vì đây à dòng “rượu gốc” với những nguyên liệu, men và quy trình trưng cất
đặc trưng như một bí quyết công nghệ. Rượu thóc được làm từ hạt thóc, và
men lá đặc trưng của đồng bào. Lúa là một cây sản xuất nông nghiệp phổ biến
và là nguồn thu nhập chính của người dân nông thôn, nên có thể nói nguồn
nguyên liệu là phong phú và có số lượng lớn, dễ kiếm. Tuy nhiên hiện nay
rượu thóc chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho đồng bào nói chung 4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường tận dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ
cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản
xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng
tăng.
Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra
nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả theo quan điểm của Các Mác (Karl Marx) đó là việc “tiết
kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật
hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất
lao động hay tăng hiệu quả”. "Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao
động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã
hội". [2]
Vận dụng quan điểm của Các Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho
rằng “hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản
phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu
của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội”. [2]
Khi bàn về khái niệm hiệu quả, cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về
hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh
quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh
1.1.2. Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật
tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế. Tuy nhiên, kết quả
của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng
thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con
người. Những kết quả đạt được đó là: nâng cao cuộc sống, giải quyết công ăn
việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã
hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho
nhân dân tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội.
Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh
tế xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không
thể có được. Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá
nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu
đến lợi ích và hiệu quả chung. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại
chúng để có kết luận chính xác.
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù:
Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội. Ba phạm
trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại
lẫn nhau.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh
quan hệ so sánh tương đối (phép chia) mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh
tuyệt đối (phép trừ) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ
giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối.
7
Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng
thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị
- Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng
- Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý.
1.1.3. Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá
hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi
thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định
lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển
kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau.
Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả
năng thoả mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật
chất sản xuất ra.
Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh
giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao
động bỏ ra.
1.1.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế
Thực chất hiệu quả kinh tế là việc nâng cao năng suất lao động xã hội
và tiết kiệm lao động xã hội. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của từng
đơn vị cần xác định những vấn đề sau:
9
Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh được đánh giá là có đạt hay không?
Tăng hay giảm? Thấp hay cao? Cần phải so sánh mức thực tế đạt được với một
mốc nào đó. Tuỳ theo mục đích đánh giá và điều kiện tài liệu cho phép người ta
có thể sử dụng một mốc hoặc kết hợp các mốc so sánh sau đây:
- Mức hiệu quả theo thiết kế hoặc tiềm năng. Mức tiềm năng của từng
thời kỳ có thể cao hoặc thấp hơn mức thiết kế ban đầu.
- Mức kế hoạch hay định mức.
thuật, mức đầu tư thâm canh, loại hình sản xuất hay tổ chức sản xuất.
1.2. Vai trò của lúa gạo trong nền kinh tế
1.2.1. Vai trò chung của lúa gạo
Trên thế giới, cây lúa được hơn 250 triệu nông dân trồng, là lương thực
chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông
dân. Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 -
200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á , khoảng 10 kg/ người/ năm tại
các nước châu Mỹ.[11]
Ở Việt Nam, dân số trên 90 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa
gạo làm lương thực chính.[11]
Sản phẩm chính của cây lúa:
Sản phẩm chính của cây lúa là gạo làm lương thực. Từ gạo có thể nấu
cơm, chế biến thành các loại món ăn khác như bánh đa nem, phở, bánh
đa,bánh chưng, bún, rượu, từ thóc có thể nấu rượu thóc. Ngoài ra còn bánh
rán, bánh tét, bánh giò và hàng chục loại thực phẩm khác từ gạo.
Sản phẩm phụ của cây lúa
- Tấm: sản xuất tinh bột, rượu cồn, Axêtôn, phấn mịn và thuốc chữa
bệnh.
11
- Cám : Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vitamine B1 để
chữa bệnh tê phù, chế tạo sơn cao cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng.
- Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng,
vật liệu độn cho phân chuồng, hoặc làm chất đốt.
- Rơm rạ: được sử dụng cho công nghệ sản suất giầy, các tông xây
dựng, đồ gia dụng( thừng, chão, mũ, giầy dép), hoặc làm thức ăn cho gia súc,
sản xuất nấm
Như vậy, ngoài hạt lúa là bộ phận chính làm lương thực, tất cả các bộ
phận khác của cây lúa đều được con người sử dụng phục vụ cho nhu cầu cần
thiết, thậm chí bộ phận rễ lúa còn nằm trong đất sau khi thu hoạch cũng được
cày bừa vùi lấp làm cho đất tơi xốp, được vi sinh vật phân giải thành nguồn
trong đời sống kinh tế quốc tế.
1.2.3. Vai trò của lúa gạo trong nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa
nước cổ xưa nhất thế giới. Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương
thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước. Dân số nước ta đến
tính đến nay là hơn 90 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn chiếm gần
80% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm 72% lực lượng lao
động cả nước. Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ
phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc
dân.[10]
Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích
canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng
cây lương thực. Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó
lúa giữ vị trí độc tôn, gần 85% diện tích lương thực.[10]
13
Như vậy bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hút
nguồn lực đất đai cũng lại khẳng định rõ vai trò của lúa gạo trong nền kinh tế
quốc dân.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vai trò,
vị trí của lúa gạo Việt Nam: Lúa gạo đóng vai trò quyết định vấn đề cung cấp
lương thực cho cả nước và chi phối sâu sắc sự phát triển kinh tế quốc dân. Từ
đó, Chính phủ đã đề ra các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và lúa
gạo nói riêng, như: chính sách đầu tư vật chất kỹ thuật thích đáng về thuỷ lợi,
giống lúa, thâm canh, quảng canh lúa qua từng thời kỳ. Lúa gạo đã được đưa
vào 2 trong 3 chương trình kinh tế lớn của quốc gia (như văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc tháng 12/1986 đã nêu). Nhờ đó, từ năm 1989 đến nay kim
ngạch xuất khẩu gạo đã không ngừng tăng, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn
góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Cũng do
thực hiện thực hiện chương trình lương thực, Việt Nam đã biến từ nước nhập
lương thực hàng năm khoảng 1 triệu tấn thành nước xuất khẩu 3- 4 triệu tấn
Rượu vang đỏ được con người sử dụng từ thời Hy Lạp cổ đại trong các
bữa ăn sáng và tiệc rượu ban đêm. Từ thế kỷ thứ I trước Công Nguyên, rượu
vang cũng được người dân La Mã dùng trong các bữa ăn. Tuy nhiên, người
Hy Lạp và người La Mã đều pha loãng rượu vang với nước. Trong khoảng từ
thế kỷ VIII - IX các nhà giả kim thuật đạo Hồi đã chưng cất rượu mạnh từ
rượu vang. Rượu được dùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày cũng như
trong y học thời đó. Rượu mạnh bắt đầu gia nhập vào Châu Âu khoảng giữa
thế kỷ XII và gia tăng số lượng từ giữa thế kỷ XIV. Số lượng người và số
lượng rượu mà nhân loại sử dụng trên thế giới khá nhiều, chỉ đứng sau cà phê.
1.3.2. Vai trò của rượu trong đời sống nhân dân
Rượu là một trong các loại thực phẩm lâu đời nhất gắn liền với đời
sống sinh hoạt, văn hóa tâm linh của cộng đồng ở mọi thời đại và các giai
đoạn phát triển khác nhau của con người. Rượu đã trở thành một nhu cầu, là
một tập quán trong giao tiếp xã hội, một hiện vật trong đời sống lễ nghi của
15
con người, những lễ hội, những dịp tân quan, kết hôn, tang tế, lễ nghĩa, hiếu
hỉ đều cần đến rượu.
Những nguyên nhân về xã hội, ví dụ như cần thảo luận về những dự án
làm ăn, những điều tế nhị có thể dễ dàng thảo luận và thống nhất ý kiến khi
ngồi quanh bàn rượu. Ngoài ra nam giới thường uống rượu vì rượu là biểu
tượng đặc trưng cho nam tính: "Nam vô tửu như kỳ vô phong".
Đối với sức khỏe, nếu sử dụng rượu đảm bảo chất lượng, đúng liều
lượng thì sẽ mang lại những lợi ích nhất định kể cả rượu trắng, rượu màu và
rượu thuốc. Người xưa cho rằng rượu có tác dụng khai vị, kích thích ăn ngon
và rượu thuốc có tác dụng hoạt huyết, gây hưng phấn thần kinh, điều chỉnh
âm dương khí huyết. Rượu còn là một dung môi rất tốt, có thể hòa tan rất
nhiều thành phần của dược liệu khó tan trong nước. Vì vậy rượu ngâm thuốc
có công hiệu cao hơn thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Uống rượu là một ý thích con người, nhưng trước tiên nó là một sinh
hoạt văn hóa, phương tiện giao tiếp, một sinh hoạt giữa người và người, như
Cách lên men men lá:
1. Trước tiên ta đem những lá cây, củ, quả, hái được, đã phơi khô đem
trộn đều với gạo (gạo nếp hoặc gạo tẻ đều được ), 2 thành phần này phải được
trộn đều với nhau, rồi sau đó đem hỗn hợp này ra xay xát, nghiền thành bột
nhỏ như bột cám.
2. Đun một nồi nước sôi rồi để nguội, đem nước sôi đã được để nguội
này trộn với hỗn hợp trên đã được nghiền nhỏ vụn, trộn 2 thành phần với
nhau sao cho vừa đủ để nặn thành 1 hình tròn có kích thước bằng 1 quả trứng
gà, sau khi đã nặn ta chọc thủng 1 lỗ nhỏ trên đầu quả men mục đích là để quả
men có thể khô nhanh hơn.
Chú ý: để 1 ít hỗn hợp bột gạo với lá cây đã được xay vụn nhỏ lại để
dùng cho bước 4.