ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HIỂU
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI CHIM BỒ CÂU
TẠI XÃ ĐỨC HOÀ, HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Mạnh Hà
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Mạnh Hà
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của Thầy giáo: TS.Nguyễn Mạnh Hà.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa
hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ rơ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Hiểu
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
đã tạo mọi điều kiện để em nghiên cứu và thực hiện khóa luận này.
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm
4. Bố cục của khóa luận 4
Chương 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Khái niệm và bản chất của HQKT 5
1.1.2. Bản chất của HQKT 11
1.1.3.Phân loại HQKT 13
1.1.4. Hệ thống chỉ tiêu về HQKT 14
1.2. Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu tại một số địa phương 16
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng và nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu 18
1.2.3. Nhóm nhân tố kỹ thuật 20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 22
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 22
2.2. Nội dung nghiên cứu 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 23
2.3.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 24
2.3.3. Phương pháp chuyên gia 24
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKT chăn nuôi chim bồ câu 24
2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ của chăn nuôi 24
2.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình kết quả chăn nuôi của hộ 25
2.4.3. Nh
ững chỉ tiêu phản ánh HQKT nuôi chim bồ câu 26
2.4.4. Đánh giá chung về hiệu quả xã hội 27
Chương 3 28
4.3.2. Đối với hộ nông dân nuôi chim bồ câu 63
K
ẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa
đ : Đồng
ĐVT : Đơn vị tính
GO : Tổng giá trị sản xuất
GO/IC : Giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí trung gian
GO/LĐ : Giá trị sản xuất trên 1 công lao động
HQKT : Hiệu quả kinh tế
HQSXKD : Hiệu quả sản xuất kinh doanh
HTX : Hợp tác xã
IC : Chi phí trung gian
LĐ : Công lao động
MI : Thu nhập hỗn hợp
MI/IC : Thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí trung gian
Pr : Lợi nhuận
Pr/IC : Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí trung gian
Pr/TC : Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí
SXKD : Sản xuất kinh doanh
T.A hỗn hợp : Thức ăn hỗn hợp
TC : Tổng chi phí
Tổng CP LĐ : Tổng chi phí lao động
tr.đ : Triệu đồng
chim bồ câu 51
Bảng 3.15: So sánh hiệu quả sử dụng lao động giữa hộ chăn nuôi chim
bồ câu với chăn nuôi gà, lợn 52DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành của xã Đức Hòa năm 2013 35
Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu đàn chim bồ câu tại xã Đức Hòa 39
năm 2011 – 2013 39
Hình 3.3: Sơ đồ tiêu thụ chim bồ câu thương phẩm xã Đức Hòa 43
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng
nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng
họ và theo phạm vi làng, xã. Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá
mạnh mẽ nhưng vẫn còn gần 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm
việc ở nông thôn.
Cùng với xu thế phát triển nông nghiệp hàng hoá hội nhập một yêu cầu
bức thiết với nền nông nghiệp nước ta cần phải đa dạng các sản phẩm nông
nghiệp, thay đổi cơ cấu vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng các vật nuôi có hiệu
quả kinh tế (HQKT) cao, để làm sao cùng với diện tích đó nhưng có thể mang
lại HQKT gấp rất nhiều lần. Do đó, ngành chăn nuôi không thể thiếu việc
nhiều bệnh. Thịt chim bồ câu có tên thuốc là cáp điểu nhục là một vị thuốc bổ
dưỡng quý, có vị mặn, tính bình, hơi ấm, không độc, có tác dụng bổ ngũ tạng,
tăng cường khí huyết, mạnh dương, trừ cam tích, kích thích tiêu hoá. Thịt bồ
câu thích hợp với thể tạng người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em, dùng dưới dạng
nấu cháo chim ăn nóng ngon và bổ.
Chính từ yêu cầu đó việc phát triển nuôi chim bồ câu nhằm phát huy lợi thế
so sánh của từng vùng đang nhận được sự quan tâm chú trọng đặc biệt của các
địa phương. Đức Hòa là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Dân số xã là
8.200 người (hơn 1750 hộ gia đình) đang sinh sống. Xã có diện tích là 717 ha,
trong đó đất nông nghiệp chiếm 431ha. Tuy nhiên, để chim bồ câu được thị
trường chấp nhận và có thương hiệu thực sự thì không đơn giản, đồng thời vẫn
chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng hiệu quả kinh tế còn chưa cao.
So với tiềm năng của địa phương, thì việc chăn nuôi, kinh doanh chim
bồ câu còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém. Quy mô chăn nuôi chưa được mở
rộng, chủ yếu là chăn nuôi theo hộ gia đình, giá cả còn thấp, thay đổi thường
xuyên. Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính nhỏ lẻ 3
thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính. Chưa áp dụng khoa học – kĩ thuật
chưa hiệu quả, dẫn tới HQKT chưa cao.
Chính vì vậy tôi đã lựa chọn khóa luận nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả
kinh tế nuôi chim bồ câu tại xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội” với
mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh giá đúng thực trạng, HQKT và thấy
rơ được các tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển chăn nuôi chim bồ
câu hợp lý mang lại HQKT cao hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đánh giá HQKT nuôi chim bồ câu trên cơ sở thực tiễn tại
xã Đức Hòa, Sóc Sơn, Hà Nội. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Chương 4: Các giải pháp và kiến nghị nâng cao HQKT nuôi chim bồ câu.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm và bản chất của HQKT
- Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, phổ biến trong cách nói của mọi người:
“Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả”. [12]
- Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế nó là
“Mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch
vụ, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kĩ thuật hoặc theo chi
phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng
như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như
Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh
phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa có sự
thống nhất quan điểm về hiệu hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các nhà kinh tế
và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh
do điều kiện lịch sử và góc độ nghiên cứu là không giống nhau.
- “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu
trong tiêu thụ hàng hóa”[2].Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng
của kết quả đạt được như: tốc độ tăng của doanh thu, của lợn nhuận. Như vậy
hiệu quả đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ
tiêu ấy. Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với các điều kiện ngày
nay. Kết quả sản xuất có thể tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản
xuất (đầu vào của quá trình sản xuất). Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết
quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu
quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau.
- “Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà xã hội
hoặc thu nhập quốc dân” [2]. Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, theo quan
điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng giá trị tổng sản
lượng là một. Nhìn trên một góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống
như quan điểm trên. Nó cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá
trị tổng sản lượng đó. Nếu tốc độ của chi phí sản xuất được các nguồn lực 7
được huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng thì sao.
Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả so sánh. Với
mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có mức hiệu quả khác nhau của một năm
nghiên cứu.
- “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một
loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một
nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”
cập toàn bộ phần tham gia đầu vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Xét trên
quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ
mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập. sản
xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” giảm
đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới
kết quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả
tổng hợp của toàn bộ phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chưa đầy
đủ, thiếu chính xác.
- “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [3]. Quan điểm này cho rằng, nói đến
hậu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh
sau khi đã trừ chi phí. Nó được tính bằng các chi phí và lời lãi. Và cũng nhiều
tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đợn vị sản phẩm hay giá trị
sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay
mức sinh lời của đông vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình
sản xuất kinh doanh.
- “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế)
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt
được mục tiêu xác định”. [10]
Công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh:
H =
(1.2) 9
Trong đó:
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh.
K: Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí cố định (FC)
+ Chi phí một yếu tố đầu vào nào đó như đất đai, lao động,
vốn,…
Tùy từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn cách biểu hiện K và C sao cho
phù hợp.
Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả
kinh tế: [4]
- Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh,
chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất
quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn
giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao
nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa
đáp ứng đầy đủ được.
- Thứ hai, nó không tính yếu tố thời gian tính toán hiệu quả kinh tế theo
quan điểm này thường chưa tính đủ và chính xác.
- Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai
phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố
tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả.
Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không
chỉ đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả mà còn
cả các yếu tố khác nữa. Và có những phần thu lợi hoặc những khoản khác
nữa. Và có những phần thu lợi hoặc nhưng khoản chi phí lúc đầu không hoặc
khó lượng hóa được nhưng nó là những con số không phải là nhỏ thì lại
không được phản ánh ở cách tính này. [4] 11
1.1.2. Bản chất của HQKT
- HQSXKD phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh,
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, vốn,
một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại
lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là
HQSXKD là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trước tiên,
HQSXKD phản ánh việc thực hiện mục tiêu của hộ đạt được ở trình độ nào.
Nhưng xem xét HQKT không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân
tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao HQSXKD. Từ đó có thể có các
giải pháp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với
chi phí về nhân lực, vật lực và vốn ít hơn. Như vậy, nhiều lúc người ta sử
dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp
khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến tới
mục tiêu cần đạt kết quả.
Như đã đề cập trên, bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả
của lao động xã hội, được so sánh giữa chất lượng, kết quả thu được với
lượng hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn hiệu quả hoạt động kinh doanh là
tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có. Hiệu quả
kinh doanh chỉ có thể đạt được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất
lượng công tác. Để đạt hiệu quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi hộ kinh
doanh không những nắm chắc các tiềm năng và tiềm ẩn về lao động, vốn, kĩ
thuật…mà còn phải nắm vững tình hình cung cầu hàng hóa trên thị trường,
đối thủ cạnh tranh,…hiểu được thế mạnh, thế yếu của hộ để khai thác hết mọi
tiềm năng hiện có, tận dụng những cơ hội vàng của thị trường, ngoài ra
nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ bản chất và các quan điểm đánh giá
HQSXKD. Từ việc đánh giá đúng hiệu quả, cho phép hộ phát hiện khả năng
và tìm đúng biện pháp để nâng cao HQSXKD. 13
Hiệu quả kinh tế là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội. Nếu HQKT
giảm tức là hộ mất đi khả năng cạnh tranh, thiếu sức sống và trở thành gánh
nặng cho nhà nước. Vì thế, hộ không thể đạt được mục tiêu xã hội.
+ Hiệu quả xã hội: là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía
cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho xã hội như tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội,…
+ Hiệu quả môi trường: thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ
che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí,…
Trong các loại hiệu quả kinh tế là quan trọng nhất nhưng không thể bỏ
qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Vì vậy khi nói tới hiệu quả kinh
tế, người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
- Theo phạm vi, hiệu quả kinh tế chia ra:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
+ Hiệu quả kinh tế ngành, tính riêng từng ngành: trồng trọt, chăn nuôi,
và hẹp hơn.
+ Hiệu quả kinh tế vùng: tính cho từng vùng.
+ Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, các yếu tố đầu vào.
1.1.4. Hệ thống chỉ tiêu về HQKT
* Nguyên tắc khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu về HQKT
- Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và
phương pháp xác định tính toán.
- Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát
chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung.
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ của chủ hộ chăn nuôi chim bồ
câu. Xét về mặt nội dung HQKT có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu
vào và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết
quả kinh tế phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, còn HQKT là tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi 15
phí bỏ ra để có kết quả đó (là mối quan hệ so sánh giữ kết quả và chi phí của
tăng (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI); Lợi nhuận (Pr); Phần tăng lên của kết quả
(
∆
Q).
- K có thể biểu hiện là: Tổng chi phí sản xuất (TC); Chi phí cố định
(FC); Chi phí biến đổi (VC); Chi phí trung gian (IC); Chi phí lao động (LĐ);
Phần tăng lên của chi phí (
∆
K).
Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu
trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện
cụ thể nhất định vận dụng cho thích hợp. Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh
doanh là việc làm hết sức phức tạp, vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ,
chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ tiêu trên, cần quan tâm đến một số
chỉ tiêu khác như:
Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích,
đánh giá HQKT mà phải chú ý đến hiệu quả xã hội,…Đồng thời phải chú ý 16
đến hiệu quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, đa dạng
hóa sinh học, bảo vệ nguồn nước,…Trên cơ sở phát triển một nền nông
nghiệp bền vững.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả nuôi chim bồ câu tại một số địa phương
1.2.1.1. Ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Tỉnh Bắc Giang có rất nhiều mô hình phát triển kinh tế cho thu nhập
cao đến cả trăm triệu đồng/năm, tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động.
Nhưng, có một mô hình ít người làm mà lại cho thu nhập cao, với chi phí
thấp, ít tốn công, đó là mô hình nuôi chim bồ câu.