Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tại xã phú lương, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 39

Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sản xuất nông nghiệp bên cạnh thu được sản phẩm chính như lúa gạo, còn tạo
ra một khối lượng rất lớn sản phẩm phụ nhưng giá trị rất thấp. Nhiều nước đã có nhiều
phương pháp để tăng giá trị nguồn phụ phẩm này bằng cách tận dụng nó làm phân
bón, làm chất độn trong chăn nuôi...nhưng vẫn chưa tận dụng hết giá trị của nguồn

uế

phụ phẩm này. Hiện nay, ở một số nước như: Trung Quốc, Inđônêsia, Thái Lan đã tận
dụng nguồn phụ phẩm này để sản xuất nấm rơm mang lại giá trị rất cao, vừa tăng thu

H

nhập cho người nông dân, vừa cung cấp nguồn thực phẩm quý cho con người.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi đế sản xuất nấm đặc biệt là nấm rơm vì

tế

hàng năm có một lượng phụ phẩm nông nghiệp rất lớn như rơm rạ, trấu…lại có khí

h

hậu thuận lợi cho cây nấm phát triển. Hiện nay, nấm rơm được trồng ở nhiều tỉnh

in




Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
- Đánh giá thực trạng sản xuất nấm rơm của các nông hộ ở xã Phú Lương
- Phân tích kết quả và hiệu quả sản xuất nấm rơm của các nông hộ điều tra ở xã
Phú Lương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sản xuất

Các hộ sản xuất nấm rơm ở xã Phú Lương.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu

tế

Phạm vi nghiên cứu:

H

Đối tượng nghiên cứu:

uế

nấm rơm ở xã Phú Lương trong thời gian tới.

+ Phạm vi không gian: Do giới hạn về thời gian cũng như kinh nghiệm thực tế

hộ sản xuất nấm rơm ở 3 thôn Vĩnh Lưu, Lê Xá Đông và Đông B ở xã Phú Lương theo
phương pháp ngẫu nhiên, trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân sản xuất nấm
rơm theo mẫu câu hỏi đã được chuẩn bị sẳn.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn các hộ, các cán bộ trong xã
Phú Lương.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Tổng hợp và phân tích các số liệu thu
thập và điều tra được

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

2


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế
Ngày nay, trong bất kỳ một lĩnh vực sản xuất nào người ta điều luôn quan tâm
đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất đó. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh

uế

tế phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất, đo lường trình độ quản lý, trình độ tổ
chức đồng thời là cơ sở tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Mọi nổ lực trong

H

ại

nhất định. Đó là nhân lực, vật lực, tư liệu sản xuất, vốn…Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh
tế là tối đa hoá đầu ra với một lượng đầu vào nhất định và tối thiểu hoá chi phí với một
lượng đầu ra nhất định. Các học giả trên đều cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trù
kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối. Điều
đó có nghĩa là khi tiến hành xem xét việc sử dụng các yếu tố nguồn lực phục vụ sản
xuất chúng ta phải tính đến cả hai yếu tố hiện vật và giá trị.
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí
đầu vào hay nguồn lực được sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về nguồn lực
hay công nghệ áp dụng. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

3


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại them
bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
Hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả về giá) là chỉ tiêu hiệu quả trong
đó cả yếu tố giá sản phẩm và giá các yếu tố đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị
sản phẩm thu thêm được trên một đồng chi phí về đầu vào hay nguồn lực được sử
dụng. Thực chất của hiệu quả phân phối là hiệu quả kỹ thuật có tính đến giá của các
yếu tố đầu vào, giá sản phẩm bán ra. Hay nói cách khác, trên cơ sở giá cả các yếu tố

uế

đơn vị sản phẩm.

H = Q/C

Trong đó:

Đ
ại

H: Là hiệu quả kinh tế

Q: Là khối lượng sản phẩm thu được
C: Là chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả quá trình sản

xuất kinh doanh nhất định, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao
nhiêu kết quả. Trên cơ sở đó người ta đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các đơn vị sản
xuất với nhau, giữa các ngành sản phẩm khác nhau và giữa các thời kỳ khác nhau.
- Phương pháp 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả tăng
thêm với chi phí tăng thêm, nghĩa là nếu tăng thêm một đơn vị chi phí sẽ tăng thêm
bao nhiêu đơn vị kết quả thu được

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

4


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

được cái giá phải trả cho quy mô của kết quả. Sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu trên là
phương pháp tốt nhất khi đánh giá hiệu quả kinh tế.

h

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất nấm

in

- Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và

cK

dịch vụ được sáng tạo ra trong nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là
một năm. Do đặc điểm của ngành sản xuất nấm rơm hiện nay sản xuất ra chủ yếu để

họ

tiêu thụ nên tổng giá trị sản xuất cũng chính là doanh thu của hộ.
GO =

n

 Pi *Qi
i 1

Đ
ại

Trong đó:

∑VA = ∑GO - ∑IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần còn lại của giá trị gia tăng sau khi trừ đi
khấu hao và thuế.
∑MI = ∑VA - Khấu hao - Thuế

uế

- Năng suất: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị diện tích gieo trồng trong một
lứa sản xuất được bao nhiêu nấm. Do đặc điểm sản xuất nấm rơm của các hộ điều tra

H

được tiến hành trong vòm, một vòm có thể sản xuất nhiều lứa nấm nên chúng ta tính
năng suất là:

tế

N = Q/S
Trong đó:
: Năng suất

Q

: Sản lượng

S

: Diện tích (số lứa nấm)

cK


6


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

Là một thực vật thân mềm, cây nấm có 3 phần: Phần bao gốc, phần cuống nấm
và phần mũ nấm. Trong đó, bao gốc có chức năng là chống tia tử ngoại của mặt trời,
ngăn cản sự phá hoại của côn trùng, giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ
quan bên trong. Do đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít.
Cuống nấm có vai trò là đưa mũ nấm lên cao để phát tán bao tử đi xa, vận chuyển chất
dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm. Khi bào tử đã chín thì vai trò vận chuyển chất
dinh dưỡng không còn nữa. Mũ nấm là hệ sợi tơ đan chéo vào nhau, rất giàu chất dinh

1.1.3.2 Giá trị dinh dưỡng của cây nấm

uế

dưỡng dự trữ, giữ vai trò sinh sản.

H

Nấm rơm còn gọi là bình cô, lan hoa cô, macô,... là một trong những loại nấm
ăn được sử dụng rộng rãi có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng prôtêin cao (2,66 -

tế

5,05%) và 19 acid amin (trong đó có 8 loại acid amin không thay thế), không làm tăng

Trồng nấm là một trong một trong nghành nghề có hiệu quả kinh tế nhất. Với
một diện tích rất nhỏ có thể tận dụng đất trong vườn do đó không mất nhiều diện tích
đất cho sản xuất, vòng vốn đầu tư quay vòng nhanh, chi phí nguyên vật liệu rẻ (chủ
yếu là tận dụng phế phẩm của nông, lâm nghiệp), và có thể tận dụng được lao động

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

7


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

trong nhà từ người già đến trẻ em nhưng vẫn cho năng suất cao. Thị trường tiêu thụ
rộng lớn với giá cả dao động theo mùa cụ thể: mùa Đông giá có thể từ 50 - 70.000
đ/kg có lúc lên tới trên 100.000 đ/kg; mùa Xuân , mùa Hạ và mùa Thu dao động từ 30
- 40.000 đ/kg. Nó mang lại một nguồn thu nhập đáng kể cho người dân ngoài thu
nhập chính từ lúa.
1.1.3.4 Giá trị xã hội
Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn: Do đặc điểm của sản xuất nông

uế

nghiệp có tính thời vụ cao, cho nên sẽ có một bộ phận lớn lao động nông thôn không
có việc làm lúc trái vụ. Nghề trồng nấm không những giúp giải quyết việc làm cho lao

H

động nông thôn lúc nông nhàn mà còn tận dụng tối đa nguồn lao động gia đình như

trấu... biến các phụ phẩm giá trị thấp này thành nguồn nguyên liệu sản xuất ra sản
phẩm có giá trị cao. Góp phần làm sạch môi trường ở nông thôn.
1.1.3.6 Kỹ thuật trồng nấm
 Yêu cầu về điều kiện sinh thái của nấm rơm:
- Dinh dưỡng: Nấm rơm là một loại nấm hoại sinh. Dinh dưỡng cần thiết cho
chúng là hợp chất cacbon, nitơ và muối vô cơ. Trong rơm, rạ, bã mía, cám trấu, vỏ
lạc,...có một nguồn cacbon và nitơ tự nhiên rất lớn có thể tận dụng để trồng nấm rơm.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ cho sợi nấm sinh trưởng là 20 - 40oC, nhiệt độ thích hợp
cho sự hình thành quả thể là 32 - 38oC, bào tử nảy mầm ở 40oC.

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

8


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

- Độ ẩm: Độ ẩm dinh dưỡng là 70%, độ ẩm không khí là 80%. Khi quả thể phát
triển thì yêu cầu độ ẩm không khí là 85 - 90%.
- Không khí: Nấm rơm sinh trưởng yêu cầu đủ ôxy, khí CO2 vượt quá 1% ức
chế hình thành quả thể.
- Độ chua: Yêu cầu pH từ 5 - 8 thích hợp nhất là 7,0 - 7,5.
 Các hình thức trồng nấm rơm:
Nấm rơm có thể được trồng dưới nhiều hình thức khác nhau như : như trồng

uế

nấm trong nhà vòm, trồng nấm trong khuôn gỗ, trồng nấm trên đất.


Đ
ại

ảnh hưởng thời tiết. Đồng thời tiết kiệm được 50% lượng rơm so với cách truyền
thống), ít tốn công chăm sóc, chất lượng nấm thương phẩm cao, giảm chi phí trong quá
trình sản xuất, năng suất tăng gấp 2/3 lần.
- Trồng nấm trong khuôn gỗ: Cho rơm rạ khô vào bể nước vôi, ngâm no

nước rồi vớt ra, để ráo 5-10 phút, sau đó chất lên kệ, dựng cọc thông khí ở giữa. Chất
đến khi cọc thông khí còn 0,3-0,5m là được. Dùng tấm bạt quấn quanh đống ủ, chừa
một khoảng trống trên cùng. Nếu trời mưa che cọc thông khí để tránh nước mưa chảy
vào đống ủ. Sau khi ủ 3-4 ngày thì đảo nguyên liệu.
Đảo từ ngoài vào trong và trong ra ngoài. Sau đó 3-4 ngày, đảo lại lần 2. Sau 34 ngày có thể đưa ra cấy. Xử lý nhà nuôi trồng bằng nước vôi đặc hoặc phooc môn

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

9


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

0,5%. Lấy rơm đã ủ ra để nguội, kiểm tra độ ẩm bằng ẩm kế, hoặc nắm chặt một nắm,
thấy nước rỉ ra kẽ tay là được. Nếu rơm ướt phải phơi cho ráo, khô; tưới thêm nước
bằng bình phun sương. Cho rơm vào khuôn, nén vừa chặt và cấy giống theo từng lớp,
mỗi lớp dày 10-12cm, 3 lớp dưới thì cấy xung quanh thành khuôn, cách khuôn 3-5 cm.
Lớp trên cùng cấy toàn bộ bề mặt, rồi phủ một lớp rơm cuối cùng khoảng 1cm. Sau đó
dùng rơm khô (loại rơm không ủ) phủ lên một lớp áo dày 3-5 cm. Trung bình, mỗi mô


họ

lúc mới cấy là được.

- Trồng nấm trên đất: Là hình thức trồng nấm cũng thường xuyên được sử

Đ
ại

dụng ở một số quốc gia có điều kiện khí hậu mát mẻ. Hình thức này có nhiều ưu điểm
là đỡ tốn công làm vòm che, giảm thời gian sản xuất. Tuy nhiên, hình thức này chỉ áp
dụng được với những quốc gia có điều kiện tự nhiên thích hợp cho nấm rơm mà không
áp dụng được với những quốc gia có khí hậu khắc nghiệt. Sau khi làm và xử lý đất,
người ta vãi rơm lên, tưới nước và giữ cho nhiệt độ luôn ổn định sau đó cấy giống nấm
lên và thực hiện quy trình chăm sóc bình thường.
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất cây nấm
- Kỷ thuật trồng và kinh nghiệm quản lý: Kỹ thuật trồng nấm có ảnh hưởng rất
lớn việc nấm có mọc hay không, do đó người trồng phải được đào tạo kỹ thuật hoặc
học hỏi kinh nghiệm từ các hộ trồng nấm thành công. Chủ hộ cần học hỏi kinh nghiệm

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

10


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế


người dân. Vì kỹ thuật trồng nấm có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả trồng nấm. Phát

cK

triển nghề trồng nấm ra nhiều địa phương. Bên cạnh đó nhà nước cần tìm thị trường
tiêu thụ nhằm nâng cao giá trị của cây nấm, hổ trợ vốn, miễn thuế…
- Thị trường tiêu thụ: Vừa là yếu tố vừa là điều kiện đối với sự phát triển của

họ

nghề trồng nấm. Bởi lẽ, các loại sản phẩm nông nghiệp như nấm sau khi thu hoạch
không thể để lâu trong môi trường tự nhiên, thời vụ thu hoạch tập trung, trong khi các hộ

Đ
ại

nông dân không có biện pháp gì để bảo quản hoặc nếu có thì cũng chỉ là những kỹ thuật sấy
thô sơ thông thường thì sẽ gây ra tình trạng kém phẩm chất cũng như bị ép giá.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu khá thuận lợi cho cây nấm phát triển. Nấm
có thể phù hợp với nhiều địa phương trong cả nước. Hiện nay, nấm rơm được phát
triển mạnh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi có khí hậu thuận lợi và là vựa lúa
của cả nước. Theo Nguyễn Hữu Đống (2002) cho biết trồng nấm được xem là một
nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong khi đó, Việt Nam là một nước gắn liền với
nền văn minh lúa, với lượng rơm rạ 20 - 30 triệu tấn/năm cho ra 2 triệu tấn nấm tươi,

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

11


sách và mô hình trồng nấm phổ biến cho bà con nông dân. Loại nấm được trồng chủ

in

yếu là nấm rơm, bên cạnh đó còn trồng một số loại nấm có giá tri kinh tế cao như nấm
linh chi, nấm sò…

cK

Thừa Thiên Huế là một tỉnh có số lượng người theo Phật giáo khá đông cho nên
vào các ngày rằm, ngày lễ, nấm là món ăn không thể thiếu đối với những người ăn

họ

chay. Du lịch cũng là một thế mạnh rất lớn của tỉnh, nấm cũng được nhiều nhà hàng ,
khách sạn lựa chọn vào món ăn trong thực đơn để phục vụ khách du lịch. Bên cạnh đó,
nấm rơm rất được người dân không những ở Huế mà còn ở các tỉnh thành phố khác

Đ
ại

như Đà Nẵng, Quảng trị ưa chuộng trong các bữa ăn hàng ngày. Đó là một thị trường
tiềm năng rất lớn cho nghề trồng nấm ở Thừa Thiên Huế phát triển.
Để phục vụ cho việc sản xuất nấm rơm của người dân trong Tỉnh gặp nhiều

thuận lợi hơn, hiện nay Thừa Thiên Huế cũng đã có sự quan tâm cho nghề trồng nấm.
Đã có cơ sở sản xuất nấm rơm meo giống tại Huế như cơ sở sản xuất meo giống ở
Hương Thủy, ở Phú Vang, .... Tỉnh đã có các dự án nhằm đưa công nghệ chế biến vào
sản xuất để đa dạng hóa sản phẩm như: Dự án sản xuất nấm rơm đóng hộp, dự án sấy


tế

Huyện cũng có chương trình cụ thể để hỗ trợ cho các hộ sản xuất nấm rơm như
tổ chức các lớp tập huấn giúp bà con có thêm kiến thức trồng nấm có hiệu quả hơn.

in

nói chung và nấm rơm nói riêng.

h

Huyện cũng hỗ trợ thêm kinh phí cho HTX Phú Lương I để xây dựng thương hiệu nấm

cK

Huyện đã có đầu tư thêm máy sấy và có cơ sở sản xuất meo giống để phục vụ
cho bà con nhưng hiệu quả còn chưa cao. Các hộ gia đình vẫn phải đi thu mua meo
giống từ nơi khác như Đà Nẵng, Sài Gòn,... nên chất lượng meo giống vẫn chưa được đảm

họ

bảo. Thêm vào đó, sản phẩm nấm rơm làm ra chủ yếu bán cho tư thương đầu mối Đông Ba,
chợ Dâu, ... rồi mới đưa ra thị trường nên nhiều khi bị ép giá so với giá thị trường.

Đ
ại

Việc phát triển nghề trồng nấm trên địa bàn huyện đã góp phần rất lớn trong
việc giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho bà con nông dân, đời sống của người


H

- Mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm sau. Đỉnh
mưa dịch chuyển trong 4 tháng là từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng 11 có lượng

tế

mưa nhiều nhất chiếm tới 30% lượng mưa cả năm.

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm là 85 - 86% trong đó độ ẩm cao nhất là 89%

h

vào tháng 9, 10, 11 còn độ ẩm thấp nhất là 76%. Như ta thấy độ ẩm của xã Phú Lương

in

khá cao rất thích hợp cho cây nấm sinh trưởng và phát triển.

196 ngày.

cK

- Số giờ nắng trung bình năm: 2.075 h/năm và số ngày nắng trong năm là

- Gió bão: Xã Phú Lương chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa chính đó là gió

họ


ý nghĩa cho sản xuất nông nghiệp và thực tế đã được nông dân khai thác một cách khá
triệt để vào sản xuất hoa màu, lương thực cũng như các cây công nghiệp ngắn ngày
hàng năm bởi những đặc điểm khá ưu việt: tỷ lệ đạm mùn từ trung bình đến khá, thành
phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, dễ thoát nước, địa hình bằng, tập trung. Đất biến
đổi do trồng lúa là loại đất được hình thành do sản phẩm phong hóa đá mẹ khác nhau,
được nhân dân cải tạo lâu đời nên hình thành các chân ruộng để sản xuất nông nghiệp.

uế

Loại đất này được phân bố ở hầu hết các vùng trong xã.
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

H

1.4.2.1 Tình hình sử dụng đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, điều

tế

này thể hiện đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động. Xã Phú Lương
là chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên việc sử dụng đất đai hợp lý là một vấn đề hết sức

h

quan trọng. Theo thống kê đất đai ngày 01/01/2010 xã Phú Lương có tổng diện tích tự

in

nhiên 1788,49 ha được chia làm 7 nhóm đất chính sau: đất nông nghiệp: 1.280,49 ha


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

Xá Tây với tổng trị giá 37 triệu đồng, đầu tư mua máy bơm tưới vùng Tam Bảo Lê Xá
Tây tổng trị giá 45 triệu đồng.
- HTXNN Phú Lương 2: Xây dựng trạm bơm tưới vùng Đông B tổng trị giá 180
triệu đồng, hoàn thành 6 cây cầu tạm phục vụ giao thông nội đồng với tổng chi phí 12 triệu
đồng, kết hợp thủy lợi và đổ sỏi cấp phối phục vụ giao thông nội đồng với tổng chi phí
274,356 triệu đồng, xây dựng tuyến đê bao cách ly tổng kinh phí 697 triệu đồng.
- HTXNN Phú Lương 3: Đầu tư 173,304 triệu đồng để sửa chữa 24m kênh
mương và tiến hành thực hiện đào đắp thủy lợi với tổng chi phí 53,266 triệu đồng.

uế

- Trường mần non: Đầu tư 45 triệu đồng để xây dựng sửa chửa các bếp ăn và các cơ
sở lẻ và chi 19,78 triệu đồng để mua sắm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ học tập.

H

- Trường TH Phú Lương 1: Xây dựng nhà để xe cho học sinh, tổng chi phí 13 triệu
đồng. Đầu tư 23,99 triệu đồng để sửa chữa các phòng học và trang thiết bị của trường.

tế

- Trường TH Phú Lương 2: Được sự quan tâm của nhà nước cấp trên đầu tư
mua 69 triệu đồng để mua 10 máy vi tính để phục vụ dạy và học, chi 2 triệu đồng để

h

phương, cùng với sự nổ lực vương lên khắc phục mọi khó khăn của toàn thể cán bộ và
nhân dân trong toàn xã; nên năm 2010 tình hình kinh tế - xã hội của xã tiếp tục tăng
trưởng, các hoạt động kinh tế xã hội chuyển biến tích cực và an ninh chính trị trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn được đảm bảo ổn định.

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

16


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

Bảng 1: Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của xã năm 2010
STT

Chỉ tiêu chủ yếu

Kế hoạch

Thực hiện

Tỷ lệ(
%)

Về kinh tế

1.


Năng suất ( tạ/ ha)

61

61,89

101,4

5.

Lương thực có hạt bình quân đầu người

6.

Sản xuất lúa giống (ha)

7.

Thu ngân sách ( đồng)

II.

Về văn hóa xã hội

1.

Tỷ lệ hộ dùng điện (%)

2.


90

uế

I.

100

100

90

90

100

1,1

0, 901

-0,19

1,3

1,392

+0,092

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (%)


8

1

12,5

9.

Xóa nhà tạm( cái)

7

7

100

10.

Làng đạt chuẩn văn hóa ( làng)

6

4

66,6

Đ
ại

họ

chăm bón và thu hoạch đảm bảo đúng thời gian và tiến độ.
Đối với màu và cây công nghiệp ngắn ngày thực hiện 9 ha đạt 100% kế hoạch;
chủ yếu là trồng tại các vùng đất các bạch xa, ở khu vực này đát đai thiếu màu mở nên
sản xuất gặp nhiều khó khăn
- Chăn nuôi: Trong năm Ủy ban nhân dân xã đã tăng cường công tác chỉ đạo
đội ngủ cán bộ thú y thực hiện nghiêm túc kế hoạch của UBNN huyện về công tác
kiểm tra vệ sinh chuồng trại, tiêm phòng các loại vắc xin với 03 đợt như sau: lở mồn

uế

long móng, dịch tai xanh, dịch tả…Nhờ vậy năm qua tình hình các loại dịch bệnh các
loại gia súc và gia cầm trên địa bàn xã không còn trường hợp nào xảy ra.

H

- Lâm nghiệp: Để hưởng ứng phong trào trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ.
Trong năm, UBNN xã đã trồng được 7000 cây tràm để phủ xanh trên các tuyến đường

tế

của xã và phân tán trong hộ dân, nhưng do thời tiết nóng, việc chăm sóc cây của các
thôn, hộ nông dân chưa đảm bảo, mặt khác do giống cây khong phù hợp với tình hình

h

địa phương nên tỷ lệ sống chỉ khoảng 50%.

in

Về thương mại và dịch vụ: Nhìn chung tình hình phát triển các loại hình dịch

18


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

có hiệu quả; đây là điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động tuyên truyền các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận nhân dân. Tổ chức tốt lễ kỷ niệm 35 năm
ngày giải phóng quê hương Phú Lương ( 26/3/1975 – 26/3/2010) và các ngày lễ trọng
đại của Đất nước.
Ban chỉ đạo “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” xã phối hợp với
đoàn phúc tra làng văn hóa Huyện đã tiến hành phúc tra 06 làng còn lại và đã được
UBNN huyện công nhận 4/6 làng đạt chuẩn văn hóa, đạt 66%. Đến nay toàn xã có 8
làng và 4 cơ quan đạt chuẩn văn hóa.

uế

Giáo dục: Năm học 2009 – 2010 huy động được 570 học sinh tiểu học đến
trường, kết thúc năm học có 175 học sinh giỏi chiếm 30,7%; học sinh tiên tiến có 200

H

chiếm 35% và 6 học sinh rèn luyện trong hè chiếm 1%. Số học sinh còn lại là học sinh
trung bình, toàn xã có 2 em học sinh giỏi cấp huyện và 2 em học sinh giỏi cấp tỉnh.

tế

Công tác y tế - dân số kế hoạch hóa gia đình: Thực hiện tốt công tác chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tổ chức khám và điều trị bệnh tại trạm, trong năm

hiện chủ trương của cấp trên về triển khai tổng điều tra hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn
toàn xã giai đoạn 2010 – 2015 nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá tổng thể về phát triển kinh tế
cũng như việc phục vụ xây dựng các giải pháp kinh tế xã hội cho từng năm.

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

19


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

CHƯƠNG II:
CHI PHÍ, KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NẤM RƠM TẠI XÃ
PHÚ LƯƠNG, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Khái quát tình hình sản xuất nấm trên địa bàn nghiên cứu
Phú Lương là một xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, với diện tích gieo trồng
năm 2010 là 2241,67 ha, trong đó diện tích trồng lúa là 2232,67 ha. Hàng năm, người

uế

dân ở đây chỉ sản xuất hai vụ lúa đó là vụ Hè Thu và vụ Đông Xuân còn phần lớn thời

H

gian còn lại là nhàn rổi. Người dân không có việc làm ổn định, phần lớn tham gia vào
các nghành nghề phụ như chăn nuôi và các nghành nghề truyền thống khác nhưng thu

tế

không nhiều. Sản phẩm làm ra rất dễ tiêu thụ, được thương lái tới mua tại nhà nên
người dân không phải mất công tìm đầu ra cho nấm rơm. Hiện nay, sản phẩm nấm rơm
trên địa bàn xã không những được tiêu thụ ở các chợ trong tỉnh mà còn được tiêu thụ ở
các tỉnh lân cận như Đà Nẵng, Quảng Trị. Đây là tín hiệu đáng mừng cho người trồng
nấm trên đại bàn xã có thể tìm được nhiều thị trường tiêu thụ mới và mở rộng quy mô
sản xuất.

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

20


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

Nhận thấy tầm quan trọng và lợi ích của nghành nghề mới này UBNN xã Phú
Lương đã có nhiều chính sách hổ trợ nhằm tạo điều kiện để phát triển nghề trồng nấm
trên địa bàn xã. Xã đã mở lớp đào tạo kỹ thuật trồng nấm nhằm nâng cao hiệu quả
trồng nấm rơm cho bà con và hướng dẫn kỷ thuật trồng nhiều loại nấm có giá trị cao
như nấm linh chi, nấm sò… thu hút nhiều người dân tham gia. Ngoài ra, xã còn xây
dựng cơ sở sản xuất meo giống nhằm cung cấp meo giống trên địa bàn, tuy nhiên số
lượng meo giống cung cấp còn nhiều hạn chế, không đủ đáp ứng nhu cầu trồng nấm tại

uế

địa phương, người dân phải tìm các cơ sở sản xuất khác như ở Đà Nẵng.
Bảng 2: Tình hình sản xuất nấm rơm trên địa bàn xã Phú Lương năm 2010
Tổng số vòm



Tổng

tế

1,768

212

1,752

8

1,000

10

10

1,000

15

15

1,000

40

41


cK

Lương Lộc

họ

Giang Tây

H

Số hộ trồng nấm

in

Thôn

(Nguồn: thống kê xã Phú Lương)

Dựa vào số liệu ở bảng 3, chúng ta có thể thấy nghề trồng nấm có mặt tại tất cả

các thôn trên địa bàn xã, tuy nhiên lại phân bố không đồng đều và có sự chênh lệch lớn
giữa các thôn trên địa bàn xã. Sản xuất nấm rơm chủ yếu tại ba thôn Lê Xá Đông,
Vĩnh Lưu và Đông B.Trong đó, nhiều nhất là thôn Vĩnh Lưu với 160 hộ trồng nấm với
283 vòm, tiếp theo là Lê Xá Đông với 146 hộ với 264 vòm và Đông B với 121 hộ với
212 vòm. Tuy nhiên bình quân vòm trên hộ lớn nhất là thôn Lê Xá Đông với mật độ
1,808 vòm. Kết quả ở trên là do nghề trồng nấm xuất hiện sớm nhất ở ba thôn trên nên

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN



h

động sản xuất của hộ gia đình. Kết quả và hiệu quả của mọi quá trình sản suất tốt hay

in

xấu điều do số lượng và chất lượng lao động quyết định.

cK

Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra ở xã Phú Lương được thể
hiện qua bảng 3. Qua bảng ta thấy, với tổng số hộ điều tra là 45 hộ, bình quân nhân
khẩu/hộ là 5,57 nhân khẩu, điều này cho thấy đây là một lực lượng khá đông, khá dồi

họ

dào cho hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như là hoạt động sản xuất nấm rơm.
Bình quân lao động/ hộ là 2,20 lao động, đây là lực lượng lao động góp phần nuôi

Đ
ại

sống gia đình. Lực lượng lao động này tham gia vào mọi quá trình sản xuất của hộ
trong đó có sản xuất nấm rơm, phần lớn ở các hộ lao động này bao gồm hai vợ chồng
và một số gia đình có thêm con cái. Tuy nhiên lao động sản xuất nấm rơm không đòi
hỏi phức tạp cho nên một số gia đình tận dụng thêm lao động như: trẻ em, người ngoài
tuổi lao động để làm phụ giúp thêm. Bên cạnh đó một số hộ cũng thuê thêm lao động
bên ngoài chủ yếu là vào công đạp rơm.
Tuổi bình quân của các chủ hộ điều tra là 48,73 tuổi, đây là một độ tuổi khá cao


Lao động

2,20

5. Bq tuổi chủ hộ

Tuổi

48,73

6. Trình độ văn hóa bq chủ hộ

Lớp

6,64

7. Bq số năm kinh nghiệm sản

Năm

9,08

uế

Chỉ tiêu

H

xuất nấm của chủ hộ

Bình quân số năm sản xuất nấm của nông hộ là 9,08 năm, điều này cho thấy
nghề trồng nấm đã có mặt ở đây đã khá lâu. Các hộ trồng nấm ở đây đã tích lũy được
nhiều kinh nghiệm cho nên sản lượng và chất lượng nấm ở đây khá cao. Con số này
cũng cho thấy nghề trồng nấm là một nghành nghề phù hợp với tình hình thực tế của
địa phương xã Phú Lương và sẽ được người dân ở đây tiếp tục phát triển.
2.2.2 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là một yếu tố không kém phần quan trọng không thể thiếu
trong sản xuất. Nó góp một phần quyết định trong kết quả và hiệu quả sản xuất qua
mức độ đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ. Hoạt động hiệu quả hay không tùy thuộc
vào mức độ đầu tư hợp lý hay không, tư liệu sản xuất có đầy đủ để phục vụ cho quá

SVTH: Trần Đình Phô – Lớp: K41A KTNN

23


Chuyên đề tốt nghiệp

Đại học Kinh tế

trình sản xuất hay là không.
Mức độ đầu tư của các tư liệu sản xuất thể hiện ở bảng 4. Nhìn chung mức độ
trang bị tư liệu sản xuất của nông hộ là không nhiều. Nguyên nhân là do hình thức sản
xuất còn mang tính tự phát, chưa có hình thức sản xuất ở quy mô lớn. Hơn nửa, sản
xuất nấm rất đơn giản không đòi hỏi trang bị nhiều tư liệu sản xuất phức tạp.
Bảng 4: Tình hình tư liệu sản xuất của nông hộ
Số lượng

Máy bơm nước bq/hộ



( Nguồn: Số liệu điều tra )

h

Các hộ sản xuất nấm rơm hầu như chỉ dùng 1 một máy bơm nước để sản xuất

in

và phục vụ sản xuất nấm và các hoạt động khác của gia đình, sử dụng 1,24 bình phun
thuốc cho nấm. Đây là những tư liệu sản xuất cơ bản nhất của sản xuất nấm rơm.

cK

Bình quân khuôn đạp/hộ là 2,42 cái, số lượng khuôn đạp khác nhau ở các hộ
tùy vào quy mô sản xuất của hộ.

họ

Bình quân xe rùa/hộ là 1,13 chiếc đây là một con số không nhiều, tại vì sản xuất
nấm rơm không đòi hỏi vận chuyển năng nhọc, có thể tận dụng các công cụ nông
nghiệp khác trong gia đình để vận chuyển rơm rạ.

Đ
ại

Như vậy, sản xuất nấm rơm không đòi hỏi đầu tư nhiều tư liệu sản xuất phức

tạp, tồn nhiều chi phí mà ngược lại chỉ cần những tư liệu sản xuất đơn giản, giá trị
thấp. Tận dụng các dụng cụ sản xuất nông nghiệp khác để sản xuất nhằm làm giảm chi


Mùa

Cả

xuân

hạ

thu

đông

năm

Lứa

2,13

3,2

2,75

Ngày

26,4

25,15

Kg


26,17

43,98

64,18

(Nguồn: Số liệu điều tra)

in

Số lứa bình quân/hộ là khác nhau gữa các mùa trong năm (ở đây mùa được tính

cK

theo âm lịch: mùa xuân là từ tháng 1- 3, mùa hạ từ tháng 4- 6, mùa thu từ tháng 7- 9,
mùa đông từ tháng 10- 12). Số lứa bình quân trong cả năm là 10,33 lứa nhưng có sự

họ

khác nhau giữa các mùa trong năm. Mùa xuân là 2,13 lứa là vì do đón tết âm lịch nên
người dân chỉ trồng nấm trong hai tháng 2 và 3 nên số lứa trồng thấp. Số lứa mùa hạ là
3,2 lứa là do mùa hạ nhiệt độ cao thuận lợi cho cây nấm sinh trưởng và phát triển thời

Đ
ại

gian trồng được rút ngắn lại nên có thể tăng số lứa trồng lên. Mùa thu số lứa trồng là
2,75, còn lại là mùa đông với 2,24 lứa. Vào mùa đông thời tiết khắc nghiệt sản lượng
nấm thu được trên một lứa cũng không cao nên số lứa bình quân/hộ thấp. Tuy nhiên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status