Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất bánh cáy tại làng nghề Nguyên Xá Đông Hưng Thái Bình. - Pdf 29

1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYN TRNG DUY Tờn ti:
Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất bánh cáy
tại làng nghề Nguyên Xá Đông Hng Thái Bình KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Kinh t Nụng nghip
Lp : K42A - KTNN
Khoa : KT - PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : ThS. Lnh Ngc Tỳ

Thỏi Nguyờn, nm 2014
2
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả kinh tế
sản xuất bánh cáy tại làng nghề Nguyên Xá Đông Hưng Thái Bình” là
khóa luận do chính bản thân tôi thực hiện và dựa trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và
dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS.Lành Ngọc Tú. Các số liệu bảng, biểu,
và những kết quả trong khóa luận là trung thực, các nhận xét, phương hướng
đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có. Một lần nữa em xin
khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên.
Thái nguyên, ngày tháng 6 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Trọng Duy 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế xã Nguyên Xá- Đông Hưng- Thái Bình năm
2013 32

Bảng 3.2: Số hộ SX và kinh doanh bánh cáy qua 3 năm (2011-2013) 33

Bảng 3.3: Cơ cấu loại hình sản xuất bánh cáy trong vòng 2 năm 2012
2013. 34

Bảng 3.4: Cơ sở vật chất của hộ sản xuất bánh cáy trong làng nghề. 35



5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NTM Nông thôn mới
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
CNH , HĐH Công nghiệp hóa , Hiện đại hóa
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
HTX Hợp tác xã
BHYT Bảo hiểm y tế
THCS Trung học cơ sở
BCH Ban chấp hành
HĐND Hội đồng nhân dân
SX Sản xuất
SL Số lượng
ĐVT Đơn vị tính
TP Thành phố
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
.đ Đơn vị tiền tệ việt nam đồng.
Cc Cơ cấu
6
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2

2.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 27
7
2.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ. 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3. Đánh giá chung tình hình kinh tế 32
3.2. Tìm hiểu thực trạng quá trình sản xuất kinh doanh bánh cáy tại địa phương
nghiên cứu 33
3.2.1. Quy mô sản xuất kinh doanh sản phẩm bánh cáy 33
3.2.2. Cơ sở vật chất của làng nghề 35
3.2.3. Thực trạng lao động sản xuất sản phẩm bánh cáy 37
3.2.5. Trình độ của chủ hộ 39
3.2.6. Tình hình vay vốn sản xuất bánh cáy 40
3.2.7. Số lượng sản phẩm được sản xuất ra 40
3.2.8. Thị trường đầu vào 41
3.2.9. Tình hình sản xuất cung cấp chế biến cho làng nghề 42
3.2.10. Thị trường đầu ra 44
3.2.11. Tình hình tiêu thụ sản phẩm bánh cáy của cả nước 45
3.2.12. Giá bán của sản phẩm trên thị trường 47
3.2.13. Lợi nhuận thu được của các hộ sản xuất bánh cáy tại xã Nguyên Xá -Đông
Hưng
3.2.14. Kỹ thuật, công nghệ trong làng nghề 49
3.2.15. Tình hình tổ chức kinh doanh 50
3.2.16. Tình hình môi trường trong làng nghề 50
3.3. Những tiềm năng, hạn chết, khó khăn của làng nghề 51
3.3.1. Tiềm năng của làng nghề 51
3.3.2. Những hạn chế khó khăn của làng nghề 52

Nguyên Xá là 1 xã thuộc huyện Đông Hưng hay còn gọi là Làng
Nguyễn. Cái tên làng Nguyễn là do cả làng này đều cùng 1 họ Nguyễn nên họ
gọi là làng Nguyễn. Bánh cáy có ý nghĩa - vài trò rất to lớn đối với việc phát
triển kinh tế ổn định đời sống của người dân trong xã. Bánh cáy được xác
định là mũi nhọn trong phát triển kinh tế tại xã. Tính đến 2013 có 350 hộ sản
xuất bánh cáy tại địa bàn xã. Bánh cáy có nhiều ưu thế nổi chội như, bánh cáy
tận dụng được nguyên liệu nông sản tại địa phương, giải quyết được đầu ra
cho nhiều loại nông sản khác.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả về sản xuất – chế biến và tiêu thụ
sản phẩm bánh cáy, chúng ta vẫn chưa khai thác hết vài trò, giá trị và thế mạnh
của sản phẩm bánh cáy. Mặc dù bánh cáy có thương hiệu và được rất nhiều
người tiêu dùng ưa chuộng nhưng bánh cáy chỉ đem lại một phần kinh tế nhỏ
cho các hộ sản xuất. Mặt khác, người sản xuất còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng
tập quán sản xuất truyền thống lạc hậu và chậm thích ứng với cơ chế kinh tế thị
2
trường, quá trình đầu tư còn chưa cân xứng, chưa khoa học. Do sản xuất thủ
công nên năng xuất sản xuất sản phẩm chưa cao, chi phí sản xuất giá thành lớn,
hiệu quả kinh tế chưa cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn kém.
Xuất phát từ vai trò vị trí và ý nghĩa to lớn của phát triển bánh cáy,
cũng như những hạn chế còn mắc phải trong quá trình sản xuất - chế biến và
tiêu thụ sản phẩm bánh cáy thì việc nghiên cứu khảo sát đánh giá thực trạng
và tiềm năng phát triển bánh cáy. Từ đó xây dựng hướng hoàn thiện hơn cho
sản phẩm bánh cáy một cách khách quan khoa học và chính xác là một yêu
cầu bức thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, lại vừa mang ý nghĩa thực tiễn. Vì
vậy, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất
bánh cáy tại làng nghề Nguyên Xá - Đông Hưng - Thái Bình”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu
quả kinh tế của xã Nguyên Xá – Đông Hưng – Thái Bình. Để từ đó đề xuất

có phương thức tác động phù hợp hơn.
1.3.3 Đóng góp mới của đề tài.
- Về đánh giá thực tiễn: trên cơ sở nguồn số liệu cập nhật và có chọn
lọc, khóa luận đã trình bày tổng quan thực trạng phát triển làng nghề sản xuất
bánh cáy tại xã Nguyên Xá – Đông Hưng Thái Bình thời kỳ 2011-2013 với
những đặc trưng cơ bản là đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất bánh cáy tại
làng nghề, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức đối với
phát triển làng nghề sản xuất bánh cáy trong những năm tới của vùng cũng
như chỉ rõ thuận lợi khó khăn của làng nghề sản xuất bánh cáy.
- Về đưa ra giải pháp: Dựa trên những kết quả mà đề tài nghiên cứu
được để đưa ra các giải pháp chung cho các làng nghề trong và ngoài tỉnh,
đồng thời đưa ra các giải pháp riêng cho làng nghề.
1.3.4 Bố cục đề tài
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Giải pháp phát triển bên vững làng nghề sản xuất bánh cáy.
Kết Luận
4
Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển
Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển.
Raaman Weitz cho rằng: “ Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục
làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội. [6]
Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm

xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán, có phường, có ông
trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm , có quy trình
công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt
hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng
hóa và có thể quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và tiến
tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Những làng nghề
ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào
lịch sử, và ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian. [6]
Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ
truyền thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ
công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề
nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên
sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình ” [6]
Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở
nông thôn Việt Nam.
Với khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng
nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu
tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao
gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối
liên kết kinh tế, xã hội văn hóa”. [6]
6
Theo quy định tạm thời của Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề
nông thôn (cơ quan trực thuộc Bộ nông nghiệp giao nhiệm vụ quản lý nhà
nước về lĩnh vực này) thì:
Làng nghề là làng (thôn ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông
nghiệp phát triển tớ mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập
quan trong của người dân trong làng. Về mặt định lượng, làng nghề là làng có
từ 35 – 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề có thể sống bằng
chính nguồn thu nhập từ ngành nghề (nghĩa là thu nhập từ ngành nghề chiếm
trên 50% thu nhập của các hộ) và giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên

mấy khó khăn so với nông dân các ngành thuần nông.
Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
trong làng nghề cũng thuận lợi hơn và gia tăng nhanh chóng hơn. DNVVN
trong làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp lớn- hiện
đại làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phi
tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp lớn hiện đại, là bước trung gian
chuyển tử nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn – hiện
đại và độ thị hóa. Sự chuyển dịch của làng nghề là một trong những hướng rất
quan trọng để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn mới theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ở những địa phương có nhiều làng nghề và ở các làng nghề phát
triển thường tỷ trọng GDP và lao động trong nông nghiệp, dịch vụ tăng lên
nhanh chóng trong tổng GDP và lao động ở nông thôn. Thu nhập từ các
hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập từ các hoạt động kinh tế của nông dân. Bình quân giá trị sản lượng
công nghiệp nông thôn chiếm khoảng 60% - 80% tổng giá trị sản lượng
công nghiệp của tỉnh.
1.1.2.3. Thu hút vốn nhàn rỗi
Tận dụng thời gian và lực lượng lao động nâng cao thu nhập thu hẹp
khoảng cách đời sống nông thôn và thành thị, hạn chế di dân tự do.
Khác với sản xuất công nghiệp với một số ngành khác, làng nghề
truyền thống không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần
công cụ dụng cụ, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tự
sản xuất hoặc chế tạo được. Hơn nữa, đặc điểm của sản xuất của làng nghề
8
truyền thông là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động ít nên rất phù hợp
với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình. Với
mức đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lời thế để các
làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản
xuất kinh doanh.

truyền. Trong quá trình CNH, Nhật Bản đã mở rộng mạng lưới công nghiệp
gia đình phân tấn ở nông thôn làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị. Vừa
duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản vừa mở ra các ngành
nghề mới, trước hết là các hoạt động dịch vụ kinh tế – kỹ thuật ở nông thôn,
huy động thêm lao động nông thôn vào các hoạt động kinh tế ngoài nông
nghiệp để nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, các làng nghề truyền
thống vẫn được duy trì và phát triển trong quá trình CNH. Đến cuối thế kỷ
XX, Nhật bản có 867 nghề TTCN ở nông thôn. Sản phẩm của nghề sơn mài
cổ truyền không chỉ phục vụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước
khác, kể cả Mỹ. Vào những năm 70, ở OITA đã có phong trào “mỗi thôn làng
một sản phẩm” nhằm phát triển ngành nghề cổ truyền ở nông thôn. Kết quả là
ngay từ đầu tiên, họ đã sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 358 triệu
USD, đến năm 1992 tăng lên 1,2 tỷ USD. Phong trào này đã nhanh chóng lan
rộng khắp nước Nhật.[6]
Trung Quốc: Vào những năm 50 của thế kỷ XX có khoảng 10 triệu thợ
thủ công. Sau khi nước cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, các đơn vị sản
xuất TTCN được chuyển sang hoạt động dưới hình thức HTX và nhiều
nguyên nhân khác, ngành nghề nông thôn dần bị mai một. Sau khi có chủ
trương cải cách và mở cửa, nhiều hộ gia đình có nghề TTCN tự liên kết để
xây dựng các xí nghiệp cá thể mà điển hình là xí nghiệp Hương Trấn ở Tô
Nam đã thu hút nhiều lao động ở nông thôn và tạo ra giá trị sản lượng tương
đối lớn; ở đây xí nghiệp hương trấn hoạt động công nghiệp chiếm 95% giá trị
sản lượng (chủ yếu công nghiệp nhẹ), 95% lao động là nông dân.
Từ khi cải cách đến nay, công nghiệp nông thôn Trung Quốc có sự phát
triển đáng kể. Những năm 1978 -1996. Giá trị sản lượng của các doanh
nghiệp nông thôn (trong đó có đóng góp không nhỏ từ các nghề TTCN) trong
nên kinh tế tăng từ 9,1% lên hơn 50%, giá trị kim ngạch xuất khẩu trong tổng
xuất khẩu tăng từ 9,2% lên 45%. Lao động làm việc trong các doanh nghiệp
10
nông thôn tăng 5 lần, đạt 130 triệu lao động, thu hút 28,4% lao động nông

11
mạnh các ngành thủ công địa phương, coi đây là chương trình lớn nhằm tạo
động lực xuất khẩu mới và giải quyết tình trạng dư thừa nhân công. Nhằm
xuất khẩu được nhiều mặt hàng thủ công. [6]
1.2.2. Kinh nghiệm về phát triển làng nghề ở một số nước châu á và một số
địa phương trong nước
1.2.2.1. Kinh nghiệm về phát triển làng nghề ở một số nước châu á và bài học
đối với Việt Nam
Không riêng gì Việt Nam mà nhiều nước châu Á, bên cạnh các trung
tâm công nghiệp lớn, sản xuất hiện đại vẫn chý ý duy trì và phát triển làng
nghề, làng nghề truyền thống.
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
Là một nước châu Á có nền nông nghiệp phát triển và loại bậc nhất thế
giới, tuy vậy, ở nhiều vùng đất nước, thị trấn, thị tứ, làng xã của Nhật Bản vẫn
tồn tại nhiều làng nghề với nhiều thủ công đa dạng, phong phú, như đan lát,
dệt chiếu, dệt lụa, may áo kimônô, các nghề thủ công mỹ nghệ, gồm sứ, sơn
mài, chế biến lương thực, thực phẩm,
Kinh nghiệm có ý nghĩa nổi trội trong phát triển làng nghề của Nhật là
phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được khởi xướng tại tỉnh Oita
Prefectare, vùng Hariamatra, năm 1979. Phong trào đã thành công trong việc
phát huy tính tự lực, sáng tạo của người dân trong khai thác sử dụng các
nguồn nhân lực ở địa phương để phát triển các làng nghề, đưa làng nghề thoát
khỏi cảnh nghèo đói. Từ thành công của phong trào này, có thể cho ta những
kinh nghiệm:
Một là, trên cơ sở thế mạnh của từ địa phương, lựa chọn sản xuất một
sản phẩm mang tính toàn cầu. Ở mỗi cộng đồng nông thôn, làng căn cứ vào
điều kiện kinh tế, tự nhiên của mình xây dựng dự án của quê hương. Sản
phẩm này không chỉ đơn giản là những vật lưu niệm cho khách du lịch hoăc
tiêu thụ ở thị trường địa phương mà phải đảm bảo có thương hiệu để tiêu thụ
trên thị trường thế giới.

- Phát hành giấy chứng nhận hàng công nghệ truyền thống đạt tiêu
chuẩn để người tiêu dùng an tâm khi mua hàng công nghệ truyền thống.
- Tở chức các hội thi, triển lãm, giới thiệu hàng công nghệ truyền thống
qua việc quản cáo ở báo chí, sách vở, áp phích,
13
- Xây dựng trung tâm thủ công truyền thống quốc gia để thông tin về
công nghệ truyền thống, tạo điều kiện cho người san xuất và người tiêu dùng
giao lưu với nhau, người tiêu dùng tiếp cận với hàng công nghệ truyền thốn
còn người sản xuất nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng.[5]
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Vốn là một nước có nhiều nghề thủ công lâu đời và nổi tiếng như đồ
gốm, đẹt tơ lụa, luyện kim, nghề làm giấy, , đầu thế kỷ XX, Trung Quốc có
khoảng 10 triệu thở thủ công làm việc trong các hộ gia đình, phường nghề và
làng nghề. Đến năm 1954, số người làm nghề tiểu thủ công nghiệp được tổ
chức hợp tác xã. Tới năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách, mở
cửa, công cuộc công nghiệp hóa nông thôn có sự chuyển biến mới, các hợp
tác xã tiểu thủ công nghiệp phát triển thành các xí nghiệp hương trấn. Đây là
xí nghiệp do nông dân địa phương góp vốn xây dựng tại xác thôn, xã, dưới
hai hình thức sở hữu tư nhân và tập thể. Ngành sản xuất ở các xí nghiệp
hương trấn chủ yếu là công nghiệp, ngoài ra còn các nghề khác như nông
nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại, dịch vụ. Xét về mặt bản chất, các xí
nghiệp hương trấn không mang đặc điểm như các làng nghề, đặc biệt là làng
nghề truyền thống ở nước ta sản phẩm làm ra không mang tính truyền thống
hay đặc thù của địa phương mà rất đa dạng, hình thức tổ chức chủ yếu là
doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ, công nhân trong xí nghiệp đa phần xuất
thân từ nông dân, giá cả lao động rẻ nên chi phí lao động trên đơn vị sản
phẩm thấp, do đó có khả năng cạnh tranh quốc tế đối với sản phẩm có hàm
lượng lao động cao. Mặt khác, các xí nghiệp hương trấn phần nhiều là doanh
nghiệp vừa và nhỏ nên dễ thay đổi phương hướng sản xuất, đổi mới công
nghệ, để nhanh chóng tạo ra sản phẩm thích ứng với nhu cầu thị trường.

cho lao động dư thừa ở nông thôn, tạo thị trường cầu rộng lớn giúp các xí
nghiệp hương trấn phát triển.
Bốn là, tăng độ minh bạch, bình đẳng, thông thoáng của các chính
sách như cải cách thuế năm 1994 đã tạo lập một hệ thống thuế thống nhất
giữa các hình thức sở hữu khác nhau trong xí nghiệp hương trấn. Kiểm soát
chặt chễ việc đánh thuế tùy tiện của chính quyền địa phương và ủy ban làng
với mục đích đưa thuế cao để tăng ngân sách địa phương. Mặt khác, chính
15
phủ đã quy định chính sách thuế khác nhau cho các vùng và các nghành nghề
khác nhau. Chẳng hạn, xí nghiệp mới thành lập được giảm thuế từ một đến ba
năm, các xí nghiệp tạo ra sản phẩm mới mà mang tính chưa có được miễn
thuế hai năm. Sản phẩm có giá trị toàn quốc được miễn thuế ba năm. Nếu
xuất khẩu được 1USD được hưởng 1-2 nhân dân tệ.
Năm là, để khắc phục tình trạng công nghệ lạc hậu và năng lực quản lý
yếu kém của các chủ doanh nghiệp trong xí nghiệp hương trấn, Ủy ban khoa học
và công nghệ Nhà nước đã thực hiện kế hoạch xây dựng những trung tâm công
nghệ phục vụ các xí nghiệp hương trấn. Nội dung của kế hoạch này là đầu tư vào
con người, đào tạo họ có đủ trình độ để áp dụng vào đổi mới công nghệ, hướng
dẫn các chủ doanh nghiệp quản lý có hiệu quả. Mặt khác, Nhà nước đã có chính
sách khuyến khích các hình thức hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân với các viện nghiên cứu của chính phủ, hoặc cho
phép xí nghiệp hương trấn thuê cán bộ khoa học của các viện nghiên cứu về giúp
xí nghiệp đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất.
Sáu là, để mở rộng thị trường, các xí nghiệp hương trấn đã thực hiện
liên kết với nông dân để hình thành các kênh tiêu thụ sản phẩm, sử dụng
thương mại điện tử để tìm hiểu thị trường quốc tế, cử các đoàn đi tìm hiểu thị
trường nước ngoài,
Bên cạnh những kinh nghiệm thành công, xí nghiệp hương trấn còn
bộc lộ một số hạn chế:
- Phát triển còn mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch, kế hoạch

bao gồm ủy ban quốc gia phụ trách dự án cùng 8 tiểu ban khác có trách nhiệm
điều phối chính sách và tiếp nhận các nguồn thông tin từ các tỉnh quận. Các
tiểu ban cấp tỉnh phụ trách quản lý nguồn ngân sách cấp cho địa phương thực
hiện dự án. Tiểu ban cấp quận phụ trách phân loại sản phẩm hỗ trợ cộng đồng
dân cư, thiết kế và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Các hội đồng làng trực tiếp
lựa chọn và phát triển sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đặc thù cho từng làng.
Cơ chế hoạt động của hội đồng làng linh hoạt, dân chủ, tạo điều kiện cho tất
các tổ chức, các nhân trong cộng đồng tham gia. Giữa hội đồng làng, tiểu ban
cấp quận và ủy ban quốc gia có mối liên kết chặt chẽ trong việc phát triển sản
phẩm, đảm bảo phản ánh được ý kiến người dân lên cơ quan lập chính sách
của chính phủ.
17
Hai là, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở phân loại đối tượng sản
xuất theo tiềm năng thị trường, chia ra: Nhóm có khả năng xuất khẩu, nhóm
tiêu thụ trong nước, nhóm thị trường ngoài nước, đồng thời thực hiện việc bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua luật pháp và hiệp định quyền sở hữu trí tuệ
có liên quan tới thương mại.
Ba là, xây dựng và ban hành các chính sách ưu tiên cho dự án, như ân
hạn nợ 3 năm cho người nông dân, lập quỹ một triệu bath cho từng làng nghề,
trong đó tổng vốn ngân sách cho các làng nghề là 70 tỷ bath, xây dựng mạng
internet để giúp cộng đồng dân cư sử dụng thương mại điện tử.
Bốn là, xác định các bước trong thực hiện dự án: Thứ nhất là quá trình
hướng nghiệp, lập kế hoạch và thiết lập các quan hệ trong cộng đồng. Thứ hai
là xác định các sản phẩm nổi bật. Thứ ba là phát triển sản phẩm, gồm chất
lượng và thiết kế sản phẩm. Bước bốn là phân phối, makettinh sản phẩm.
Bước cuối cùng là đánh giá dự án và hoạt động sau dự án. Gắn với việc triển
khai thực hiện từ bước, Chính phủ giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan
của chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, Hội đồng làng nhận từng
khâu công việc.
Năm là, xây dựng các trung tâm chuyên mua bán các sản phẩm của dự

Để có vốn đầu tư, bên cạnh nguồn vốn tự có (chiếm 70% -80% tổng số
vốn đầu tư của các làng nghề), các làng nghề Hà Tây đã huy động nguồn vốn
hỗ trợ từ các chương trình của Nhà Nước. Nguồn vốn này đến với các làng
nghề dưới nhiều hình thức gián tiếp như: Hàng năm tỉnh hỗ trợ kinh phí cho
đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là hệ thống cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường,
trạm ; ngoài ra, các làng nghề còn được tỉnh hỗ trợ vốn từ các chương trình
của Nhà nước như: chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình quốc gia
giải quyết việc làm, hỗ trợ khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn và
làng nghề (tổ chức các lớp truyền nghề, nhân cấy nghề, đào tạo nghề cho
người lao động) Tuy nhiên, nguồn vốn này thường nhỏ, khó tiếp cận và
không thường xuyên, đối tượng trực tiếp hưởng nguồn vốn này chủ yếu là các
làng nghề có hộ nghèo cần giải quyết việc làm, còn đối với những làng nghề
đã phát triển thì vốn này chẳng đáng là bao. Do đó, người dân đã tìm đến
nguồn vốn vay. Vốn vay tin dụng đang trở thành một nguồn vốn qua trọng đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status