`
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU THỊ TUYẾN Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ BẢN NGOẠI, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2011 - 2013KHÓA LUẬN TỐT NGIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014
`
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
bè, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Cô giáo Th.s Đặng Thị Bích
Huệ, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Đánh giá hiệu quả kinh tế cây
chè trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2011 - 2013.”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, cùng
tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường. Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo
hướng dẫn Th.s Đặng Thị Bích Huệ đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi hoàn
thành bản khóa luận tốt nghiệp. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban
lãnh đạo, cán bộ UBND xã Bản Ngoại, đặc biệt là bà con nhân dân xã Bản
Ngoại đã cung cấp những số liệu cần thiết và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
việc thu thập số liệu phục vụ cho bản khóa luận này.
Đây cũng là lần đầu tiên thực hiện một đề tài nghiên cứu. Vì vậy đề tài
còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý từ thầy cô giáo, các bạn
sinh viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong suốt
thời gian vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Chu Thị Tuyến
`
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang
Bảng 3.1. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất của xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011
- 2013 28
Bảng 3.2. Diện tích chè xã Bản Ngoại giai đoạn 2011 – 2013 32
Bảng 3.3. Năng suất, sản lượng chè kinh doanh trên địa bàn xã Bản Ngoại
giai đoạn 2011 - 2013 34
Bảng 3.4.Tình hình nhân lực sản xuất chè các hộ điều tra năm 2013 35
Bảng 3.5. Phương tiện phục vụ sản xuất chè của các hộ điều tra 36
Bảng 3.6. Diện tích đất trồng chè của các hộ điều tra 37
Bảng 3.7. Diện tích trồng mới và trồng cải tạo chè năm 2013 38
Bảng 3.8. Chi phí bình quân sản xuất chè của các hộ điều tra năm 2013 41
Bảng 3.9. Thu nhập từ chè của các hộ điều tra 43
Bảng 3.10. Kết quả sản xuất của hộ điều tra 43
Bảng 3.11. Gía bán và sản lượng chè khô trung bình của các hộ điều tra năm
2013 44
Bảng 3.12. Hiệu quả sản xuất các giống chè cuả các hộ điều tra năm 2014 46
`
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
4. Bố cục khoá luận 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 24
2.4.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 27
3.1. Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Bản Ngoại 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.1.1. Vị trí địa lý 27
3.1.1.2. Đặc điểm về địa hình: 27
3.1.1.3. Đặc điểm khí hậu 27
3.1.1.4. Thuỷ văn 27
3.1.1.5. Nguồn tài nguyên 28
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.2.1. Dân số, lao động 30
3.1.2.2. Dân tộc, tôn giáo 30
`
3.1.2.3. Y tế, văn hoá, giáo dục 30
3.1.2.4. Cơ sở hạ tầng 31
3.2. Thực trạng phát triển sản xuất chè của xã Bản Ngoại 32
3.2.1. Tình hình sản xất chè tại xã Bản Ngoại. 32
3.2.2. Nằng suất, sản lượng 33
3.3. Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 35
3.3.1. Đặc điểm chung của hộ trồng chè. 35
3.3.1.1. Nguồn nhân lực của hộ 35
3.3.1.2. Phương tiện sản xuất chè của hộ 36
3.3.1.3. Nguồn sản xuất của hộ 37
3.3.1.4. Tình hình trồng mới và trồng cải tạo chè của các hộ trồng chè
38
3.3.1.5. Thực trạng tiêu thụ chè ở xã Bản Ngoại 39
3.4. Phân tích hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện
Đại Từ 40
3.4.1. Tình hình sản xuất của các hộ trồng chè 40
núi. Riêng với tỉnh Thái Nguyên cây chè đã góp phần làm giàu cho nhiều
thành phần kinh tế, đặc biệt là chủ cơ sở nhỏ và các doanh nghiệp. Ngành chè
Thái Nguyên đã giải quyết việc làm cho 66.000 hộ nông dân, sản lượng chè
khô thu được hàng năm đạt 16.000 tấn, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng
năm đạt 4,2 - 4,8 triệu USD [1].
Việt Nam được đánh giá là nước có ngành sản xuất chè truyền thống
với nhiều vùng chè đặc sản nổi tiếng. Sản lượng chè hàng năm đạt 577 nghìn
tấn chè thô. Chè Việt Nam đã được xuất sang 107 thị trường trên thế giới,
trong đó có 68 thị trường thuộc các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn xuất khẩu chủ yếu là
chè bán thành phẩm với chất lượng ở mức trung bình. Câu hỏi mà ngành chè
đang quan tâm nhất hiện nay là làm sao quy hoạch tốt nguồn nguyên liệu,
nâng cao chất lượng chè phục vụ xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh, khẳng
định được thương hiệu chè Việt Nam trên thị trường thế giới. Hiện nay tham
gia chế biến và tiêu thụ chè tại Thái Nguyên có các thành phần kinh tế: Công
ty TNHH, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình. Trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên có 29 doanh nghiệp, trong đó có 8 doanh nghiệp nhà
nước, 2 công ty cổ phần, còn lại là các doanh nghiệp tư nhân, công ty liên
doanh phân bố trong các huyện trong tỉnh, 2 công ty cổ phần, còn lại là các
doanh nghiệp tư nhân.
Tuy vậy nguồn chè cung cấp để sản xuất thì vẫn còn rất hạn chế về chất
lượng, mẫu mã dẫn tới giá thành của chè xuất khẩu của Việt Nam nói chung và
Thái Nguyên nói riêng có giá thấp hơn 25 - 50% so với giá thị trường thế giới.
2`
Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định,
cải thiện đời sống kinh tế văn hoá xã hội , tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận
lao động dư thừa nhất là ở vùng nông thôn. Mặt khác cây chè có chu kỳ kinh tế
dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30-40
năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ còn kéo dài hơn.
Bản Ngoại là một xã sản xuất nông lâm nghiệp là chính trong sản xuất
các ban nghành đưa ra phương hướng để phát huy thế mạnh, khắc phục điểm
yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả kinh tế của cây chè và chất lượng cuộc sống của người dân.
4. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm có 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Dự kiến kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè
trên địa bàn xã Bản Ngoại- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên
4`
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Tầm quan trọng của cấy chè đối vơi đời sống con người
Chè là loại cây trồng 1 lần nhưng có thể thu hoạch nhiều lần: từ 30 đến
50 năm. Trồng và thâm canh từ đầu, liên tục trong 3 năm cây chè được đưa
vào giai đoạn thu hoạch do có tính ổn định về năng suất mang lại lợi ích kinh
tế cao. Ngoài ra cây chè là cây cần nhiều lao động trong việc trồng và thu
hoạch. Từ búp chè hay các phần khác của cây chè mà người ta chế tạo ra các
sản phẩm khác nhau như: chè tươi, chè túi lọc, chè xanh, chè đen, chè vàng
Các kết quả nghiên cứu khảo cổ kết hợp với tra cứu sử sách của Việt
Nam và Trung Quốc đều cho thấy rằng tuy Trung Quốc được xem là nơi
truyền bá việc uống trà, nhưng cây chè lại là cây bản địa của Việt Nam, có thể
gọi Việt Nam là một trong những quê hương của chè cây chè cổ, điều này
trong nước hiện nay cũng đòi hỏi về chất lượng cây chè ngày càng cao. Phát
triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ giúp tăng thu nhập cho người nông dân tại
một số vùng miền núi do cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kỹ thuật thô sơ. Ngoài
ra còn có tác dụng phủ xanh đồi trọc bảo vệ sinh thái môi trường. Lực lượng
lao động dồi dào, nhân dân ta lại có kinh nghiệm khéo léo trong thu hoạch
góp phần tạo được việc làm cho phần đông người lao động chưa có việc làm.
Do đó việc phát triển ngành chè trong những năm tới là rất khả thi.
1.1.2. Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh sử dụng nguồn nhân lực, vật
lực để đạt được hiệu quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một
phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế. Nâng cao chất
lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn
trong một hoạt động kinh tế. đây đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã
hội, do nhu cầu vật chất ngày càng cao.
6`
* Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt
động kinh tế được xác định bằng công thức:
Hiệu quả kinh tế = kết quả thu được – chi phí bỏ ra.
(H) = (Q) - (C)
Quan điểm này không còn phù hợp nữa, vì nếu cùng một kết quả sản
xuất như nhau nhưng khác nhau về chi phi sản xuất sẽ khác nhau về hiệu quả.
Không phản ánh đúng mục tiêu của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận và
tối thiểu hóa chi phí.
* Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ
tăng trưởng sản xuất hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ
tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng
phí. Một nền kinh tế là có hiệu quả khi nó nằm trên giới hạn năng lực sản xuất
đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của kinh tế, sự chênh lệch giữa
sản lượng tiềm năng thực tế (sản lượng cao nhất có thể đạt được trong điều
Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng
nhất có thể lại rất khó xác định giá trị nào đào thải và chi phí sửa chữa nên
việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ tiêu hiệu quả
có tính chất tương đối.
Do sự biến đổi không ngừng của thị trường nên việc xác định chi phí cố
định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối.
Một số yếu tố đâu vào rất khó lượng hóa (thông tin, tuyên truyền, cơ sở
hạ tầng…) nên không thể tính toán một cách chính xác.
8`
* Đối với yếu tố đầu ra:
Yếu tố đầu ra của hoạt động sản xuất của người dân chính là kết quả
của quá trình sản xuất đó là các sản phẩm nông nghiệp, những lợi ích từ hoạt
động sản xuất kinh tế.
Phần lớn những kết quả sản xuất ra là có thể lượng hóa được một cách
cụ thể nhưng vẫn có những yếu tố không thể lượng hóa được: Bảo vệ môi
trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh là phải đạt được
hiệu quả tối đa chi phí và chi phí tối thiểu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng chi
phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực bao gồm cả chi phí cơ hội,
cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương hướng
kinh doanh tối đa nhất, các mặt hàng sản suất có hiệu quả cao hơn.
1.1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
* Giá trị sản xuất (GO):
Là toàn bộ giá trị tính bằng tiền thu được của các loại sản phẩm trên
một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất.
- Công thức tính: GO = ∑Q
i
x P
i
.
MI = VA – (A+T)
Trong đó:
+ A: là giá trị khấu hao tài sản cố định.
+ T: là tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp.
* Lợi nhuận: (Pr)
Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp sau khi thanh toán toàn bộ số
tiền công lao động trong một chu kỳ sản xuất trên một đơn vị diện tích.
- Công thức tính:
Pr =MI – P x L
Trong đó
+ P: là Giá trị thuê một ngày công lao động
+ L: là số công lao động sử dụng trong một chu kỳ sản xuất.
10`
1.1.3. Đặc điểm, yêu cầu về điều kiện sinh thái và vai trò của cây chè trong
cuộc sống
1.1.3.1. Đặc điểm của cây chè
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis có lá và chồi được sử
dụng để sản xuất thức uống. Cây chè có thân thẳng , tròn, phân nhánh liên tục.
Thân, cành, bộ lá tạo thành tán cây chè, để mọc tự nhiên có dạng vòm đều. Lá
mọc ra từ các mấu, chồi mọc ra từ nách lá. Theo chức năng thì chồi có hai
loại: chồi dinh dưỡng mọc ra lá và chồi sinh thực mọc ra nụ, hoa, quả. Theo vị
trí trên cành, chồi có 3 loại là chồi ngọn, chồi nách và chồi ngủ. Lá chè có 3
loại: lá vảy ốc ( rất nhỏ và cứng, mọc ở điểm sinh trưởng), lá cá nhỏ ( phát
triển không đầy đủ, kích thước nhỏ, hình thuôn, có ít hoặc không có), tiếp
theo là lá thật ( mới mọc là lá non, tiếp theo là các lá bánh tẻ rồi đến lá già tuỳ
theo trình độ sinh trưởng).
Hoa và quả cây của cây chè: Hoa bắt đầu nở trên cây chè 2 – 3 tuổi, từ
chồi sinh thực ở nách lá, hoa lưỡng tính, tràng có 5 – 9 cánh màu trắng hay
phớt hồng. Quả chè có hình tròn hay hình tam giác tuỳ vào số hạt bên trong,
vỏ quả màu xanh, khi chín có màu nâu rồi nứt ra. Hạt chè có vỏ sảnh màu
hợp là vào khoảng 85%. Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có
quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và thu hoạch chè dài hay ngắn
ngày. Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp.
* Điều kiện nhiệt độ, không khí
Để sinh trưởng và phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt
nhất định. Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè phát triển bình thường là
12,5
0
C và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 – 23
0
C . Chè yêu cầu lượng tích
nhiệt hàng năm 3.500 – 4.000
0
C. DDộ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm
thấp việc tích luỹ tanin. Cây chè quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng
tán xạ. Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thây đổi tuỳ theo tuổi cây
và giống.
12`
Chè là loại cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp cũng thay đổi theo hàm
lượng CO
2
có trong không khí. Hàm lượng CO
2
trong không khí tăng lên đến
0,1 – 0,2% thì cường độ quang hợp tăng lên rất rõ rệt. Không khí lưu thông
tạo thành gió. Gió nhẹ và có mưa có lợi cho sự sinh trưởng của chè vì nó có
tác dụng điều hoà cân bằng nước của cây [5].
1.1.3.3. Vai trò của cây chè trong cuộc sống.
* Gía trị y học
Do chứa các chất chống ôxy hoá nên chè giúp làm chậm đi sự già cỗi
đạt 134.000 tấn với kim ngạch đạt 179,5 triệu USD, tăng 28,4% về
lượng và tăng 22,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008.[15]
*Gía trị môi trường
Chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực, nó là loại
cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du miền núi. Chính vì vậy chè
không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà cũng góp phần cải thiện môi trường, phủ
xanh đất trống đồi núi trọc. Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức
nông – lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp
phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững.[4]
1.1.3.4. Các chỉ tiêu đánh giá năng suất cây chè
* Chỉ tiêu diện tích trồng chè
Để xác định được tiềm năng phát triển sản xuất chè ở địa phương
trước hết phải xác định được chỉ tiêu về diện tích chè ( bao gồm tổng diện
tích, diện tích kinh doanh, diện tích trồng mới). Từ đó biết được thực tế diện
tích hiện có và diện tích còn khả năng mở rộng sản xuất.
* Chỉ tiêu về năng suất
Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, bởi muốn đánh giá được thực
trạng sản xuất của một địa phương hay một cơ sở sản xuất kinh doanh thì
người ta xem xét đến năng suất cây trồng. Như vậy, tìm hiểu được năng suất
14`
thực tế của cây chè ở địa phương, thông qua đó có biện pháp đầu tư thích hợp
tăng năng suất.
* Chỉ tiêu về sản lượng
Sản lượng đóng vai trò khá quan trọng trong việc phản ánh về mặt
lượng của quá trình phát triển sản xuất chè.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trè trên thế giới.
1.2.1.1. Tình hình sản xuất
Hiện nay trên thế giới có 58 nước trồng chè, ( trong đó có 30 nước
trồng chè chủ yếu), 115 nước sử dụng chè làm đồ uống. Trong sản xuất cây
Tại Sri Lanka giá các loại Chè CTC tại thị trường Colombo có xu
hướng tăng vào những tháng cuối năm, trong đó giá chè CTC trung bình
tháng 11 đạt 315,48 RS/kg tăng 12,64 RS/kg so với hồi tháng 10; chè CTC
cao có 325,31 RS/kg tăng 2,48 RS/kg so với hồi tháng 10.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè tại Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình sản xuất
Từ lâu chè đã trở thành thứ nước uống thân thuộc của người dân Việt Nam.
Uống chè giúp cho con người ta thư thái, xoá tan đi mệt mỏi và giúp cho mợi
người xích lại gần nhau hơn. Cũng như mọi ngành nghề, chúng ta vẫn thường gặp
những quán nước chè lâu đời và những người bán nước chè có nghề. Trên phố
phường, trong cụm dân cư, có những quán chè trở thành hình ảnh quen thuộc
mang dáng vẻ yên tĩnh, nhàn nhã vốn có của nó. Bên cạnh chức năng giải khát,
chè có tác dụng sinh lý rất rõ rệt đối với sức khỏe con người.Những năm gần đây
có nhiều cơ chế chính sách đầu tư ưu tiên phát triển ngành chè. Cây chè được
16`
coi là cây trồng xóa đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu của nhiều hộ nông
dân
Việt Nam nằm trong vùng nguyên sản của cây chè thế giới, có điều kiện
địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao.
Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới, trong đó thương hiệu "CheViet" đã được đăng ký và bảo hộ tại 70
thị trường quốc gia và khu vực. Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên
thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè [15].
Cây chè đang được coi là cây trồng chủ lực góp phần xoá đói giảm
nghèo, thậm chí còn giúp cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao làm
giàu. Không chỉ vậy, cây chè còn giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc và bảo vệ môi
trường.
Việt Nam có 6 triệu người sống trong vùng chè, có thu nhập từ trồng,
chế biến và kinh doanh chè. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp& PTNT, hiện
cả nước có 35 tỉnh trồng chè, với tổng diện tích hơn 131.500 ha. Bình quân