Đánh giá hiệu quả công tác ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý môi trường tại xã Lăng Can - huyện Lâm Bình - tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA THỊ HIỂN

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ỨNG DỤNG BIỆN
PHÁP SINH HỌC TRONG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI XÃ
LĂNG CAN HUYỆN LÂM BÌNH TỈNH TUYÊN QUANG” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN CHÍ HIỂU
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm THÁI NGUYÊN - 2014

2.1. Cơ sở lý luận. 5
2.1.1. Khái niệm môi trường và chất thải. 5
2.1.2. Nguồn gốc chất thải. 7
2.1.3. Khái niệm biện pháp sinh học. 7
2.2 Giai đoạn hình thành và phát triển biện pháp sinh học. 8
2.3. Ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý môi trường tại Việt Nam 9
2.3.1. Biện pháp sinh học dùng cải tạo đất. 10
2.3.2 Trong xử lý các phế phẩm nông nghiệp: 11
2.3.3. Sử dụng biện pháp sinh học xử lý chất thải công nghiệp 13
Phần 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 16
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu. 16
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu. 16
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. 16
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu. 16
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 16
3.3. Nội dung nghiên cứu. 16
3.4. Phương pháp nghiên cứu. 16
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu. 16
48
3.4.2. Phương pháp tham khảo tài liệu. 17
3.4.3. Phương pháp điều tra quan sát thực tế. 17
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu 17
Phần 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
4.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Lăng Can huyện Lâm Bình tỉnh
Tuyên Quang. 18
4.1.1. Điều kiện tự nhiên. 18
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội. 22
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Lăng Can. . 28
4.2. Tình hình áp dụng các biện pháp sinh học xử lý chất thải xã Lăng Can. 29

DANH MỤC CÁC BIỂU
trang
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc. 22
Biểu đồ 4.2: Lao động theo nghành 23
Biểu đồ 4.3: Nguồn phát sinh chất thải rắn. 30
Sơ đồ 4.1: Quy trình xử lý phế thải đồng ruộng bằng chế phẩm vi sinh vật 32
Sơ đồ 4.2: Quy trình xử lý phế thải chăn nuôi bằng chế phẩm vi sinh vật. 35
1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là một yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết đối với con
người và mỗi quốc gia. Nó là nền tảng của sự phát triển và tồn tại bền vững
của xã hội, bất kỳ hoat xử động nào cũng diễn ra trong môi trường và vì thế
nó có những tác động nhất định tới môi trường. Những tổn thất này đang đe
dọa tới nhân loại. Chính vì vậy một trong những vấn đề mang tính toàn cầu
hiện nay là những biện pháp để bảo vệ môi trường trái đất.
Hiện nay ô nhiễm môi trường, thiên tai, thảm họa của biến đổi khí hậu
đang bức thiết hơn lúc nào hết. Theo báo cáo Liên hợp Quốc 1955-2005 biến đổi
khí hậu đã gây ra sự gia tăng về tần suất và cường độ của các thiên tai ( bão, lũ,
hạn hán, động đất, sóng thần); dự báo đến năm 2070 nhiệt độ trái đất sẽ tăng 2,5-
4,5oC, nước biển dâng cao 0,3-1m do băng tan ở Bắc Cực và Nam Cực. Tầng
Ôzôn đã và đang bị phá hoại nghiêm trọng, lỗ hổng tầng ôzôn đã đạt mức 27-28
triệu km2 ( riêng ở Nam Cực), số lượng thiên tai gia tăng trong thế kỷ 20, thập

Tại xã Lăng Can, vấn đề môi trường hiện nay chưa thực sự được quan
tâm, lượng rác phế thải phát sinh trong xã liên tục tăng, môi trường đang dần
bị ô nhiễm. Có nhiều quan điểm cho rằng chỉ có thành phố mới bị ô nhiễm
môi trường, thực chất ra ở các vùng nông thôn hiện nay môi trường cũng đang
dần bị ô nhiễm bởi các hoạt động nông nghiệp, sản xuất, sinh hoạt của người
dân. Một phần dân cư tại vùng nông thôn thường có những thói quen, tập
quán sinh hoạt, sản xuất bất lợi cho thiên nhiên như đốt nương làm rẫy, vứt
rác thải trực tiếp ra môi trường, du canh du cư thậm chí là không có nhà vệ
sinh hợp vệ sinh. Cũng có một phần dân cư hiểu biết, được tập huấn nâng cao
nhận thức đã bắt đầu thay đổi thói quen tập tục gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, bắt đầu ứng dụng sản phẩm của thành tựu khoa học vào trong sản xuất,
đời sống nhằm tăng năng suất cây trồng vật nuôi, tận dụng nguồn tài nguyên
vốn có để sử dụng một cách có ích. Đề tài: “ Đánh giá hiệu quả công tác
ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý môi trường tại xã Lăng Can
huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang” góp phần phản ánh công tác ứng dụng
biện pháp sinh học để xử lý rác thải, chất thải tại xã Lăng Can.
3
1.2. Mục đích của đề tài
1.2.1. Mục đích
-Điều tra, đánh giá hiện trạng, hiệu quả của việc ứng dụng các biện
pháp sinh học trong xử lý chất thải tại địa bàn xã.
-Đề ra mô hình xử lý khả thi, giải quyết khó khăn trong việc áp dụng
các mô hình xử lý trên.
1.2.2. Mục tiêu
- Các biện pháp đã được áp dụng: Các biện pháp đã đang được áp dụng
để xử lý chất thải tại địa phương.
- Hiệu quả: Chúng ta có thể tìm hiểu hiệu quả về môi trường, hiệu quả
về kinh tế của việc áp dụng các biện pháp sinh học để xử lý môi trường tại địa
phương nghiên cứu.
-Thuận lợi: Những điểm thuận lợi góp phần đưa việc ứng dụng biện

2.1.1. Khái niệm môi trường và chất thải
“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.”
[7]
(Theo Điều 1,
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,
động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con
người thêm phong phú.
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã,
họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc
sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
6

xuất dân dụng hay công nghiệp. Quản lý chất thải vô hại từ đối tượng hành
7
chính và dân dụng ở các vùng đô thị thường là trách nhiệm của cơ quan chính
quyền địa phương, trong khi quản lý chất thải vô hại từ đối tượng thương mại
và công nghiệp thường là trách nhiệm của nhà sản xuất.
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp, phòng ngừa. hạn chế các tác động xấu đối với môi trường, ứng
phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện
môi trường khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ đa dạng sinh học.”
[7]
( Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005).
2.1.2. Nguồn gốc chất thải
Chất thải có nhiều nguồn gốc khác nhau:
Chất thải rắn từ sinh hoạt gia cư gọi là rác sinh hoạt ( chất thải phát
sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nơi công cộng)
Chất thải rắn y tế là chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế từ các hoạt động
khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.
Chất thải từ các nhà máy công nghiệp như: Nhà máy giấy, nhà máy bia,
nước giải khát, các lò giết mổ, các nhà mấy xí nghiệp chế biến râu quả đồ hộp
Chất thải do quá trình sản xuất nông nghiệp: chất thải sau thu hoạch tàn
dư thực vật, rơm rạ, bã mía, vỏ, thân xác các loại cây trông
Chất thải trong quấ trình chăn nuôi: Phân thải, nước tiểu của các loại
gia súc, gia cầm như gà, vịt, lợn, trâu, bò,
2.1.3. Khái niệm biện pháp sinh học
“Công nghệ sinh học là các quá trình sản xuất ở quy mô công nghiệp có
sự tham gia của các tác hân sinh học ( ở mức độc ơ thể, tế bào hoặc dưới tế
bào) dựa trên thành tựu tổng hợp của nhiều bộ môn khoa học, phục vụ cho
việc tăng của cải vật chất cho xã hội, bảo vệ lợi ích của con người và bảo vệ
môi trường bên vững.”

sinh, các sản phẩm lên men công nghiệp như glutamic axit, các polisaccharide.
Trong đó các thành tựu về đột biến, tạo các chủng vi sinh vật cho năng suất và
hiệu quả cao, phát triển các quá trình lên men liên tục và thực hiện phương
pháp mới về bất động enzym để sử dụng nhiều lần.
- Cách mạng sinh học lần thứ ba ( bắ đầu từ giữ thập niên 70) Với các
phát hiện quan trọng về enzym cắt hạn chế, enzym gắn, sử dụng plasmid làm
vecto tạo giống, đặt nền móng cho một công nghệ sinh học hoàn toàn mới đó
là công nghệ AND tái tổ hợp.
9
2.3. Ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý môi trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam nghiên cứu về chế phẩm vi sinh vật từ những năm đầu của
thập kỷ 60, đặc biệt những năm 80 được nhà nước cho vào chương trình
“ sinh học phục vụ nông nghiệp”.
Công nghệ sinh học được sử dụng để sản xuất năng lượng sạch ( sản
xuất cồn, tạo khí biogas), ứng dụng trong nông nghiệp để cải tại giống cây
trồng, sản xuất các chế phẩm ( phân bón) sản xuất các chất kích thích sinh
trưởng, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Đặc biệt công nghệ sinh học được ứng dụng trong bảo vệ môi trường.
Công nghệ sinh học tham gia tích cực trong vấn đề cảnh báo các tác động xấu
của biến đổi khí hậu, chỉ thị môi trường, quản lý khai thác các nguồn tài
nguyên, xử lý ô nhiễm môi trường, xử lý phế thải công nông nghiệp, rác thải
sinh hoạt, nước thải làm sạch môi trường bằng công nghệ sinh học hảo khí,
bán hảo khí và yếm khí. Đây là vấn đề nóng hổi, câp thiết hiện nay.
Biện pháp sinh học có nhiều ưu điểm hơn so với các biện pháp khác
nên nó được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam như sử dụng biện pháp sinh
học để bảo vệ thực vật, chống côn trùng, ứng dụng biện pháp sinh học trong
lĩnh vực trồng trọt và ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý môi trường.
Trong lĩnh vực trồng trọt có những chương trình ứng dụng như: “Công
nghệ sinh học và ứng dụng trong nông nghiệp” của GS.TS Nguyễn Thị Lang
(Viện Lúa ĐBSCL); “Quản lý dịch hại trên cây trồng thân thiện với môi

là Lipomycin-M. Thành phần chính là của Lipomycin-M là chủng nấm men
Lipomyces PT7.1 có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn,
giúp giảm thoát nước, duy trì độ ẩm cho đất trong điều kiện địa hình không có
nước tưới thời gian dài, góp phần nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng, hỗ trợ tốt
cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc. Đây được xem là một giải pháp cải tạo
đất bền vững cho môi trường sinh thái.
Hiện nay, trên thị trường đang lưu thông chế phẩm Agrispon là chế
phẩm sinh học có nguồn gốc từ tự nhiên, có khả năng làm tăng trưởng cây
trồng và gia tăng độ màu mỡ cho đất. Chế phẩm Agrispon được điều chế bằng
cách chiết xuất từ cây cỏ thiên nhiên và từ khoáng chất. Bón Agrispon vào đất
sẽ tạo nên các phản ứng chuyển hoá cho việc sản xuất một số lượng rất lớn
11
enzym trong đất. Chính những enzym này là chất xúc tác sinh học, giúp tế
bào của cây tăng trưởng và phân hoá.
2.3.2 Trong xử lý các phế phẩm nông nghiệp
Chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma ngòai tác dụng sản
xuất pâhn bón hũu cơ sinh học, hay sử dụng như một lọai thuốc BVTV thì
còn có tác dụng để xử lý ủ phân chuồng, phân gia súc, vỏ cà phê, chất thải
hũu cơ như rơm, rạ, rác thải hữu cơ rất hiệu quả. Chế phẩm sinh học BIMA
(có chứa Trichoderma) của Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh,
chế phẩm Vi-ĐK của Công ty thuốc sát trùng Việt Nam … đang được nông
dân TP. Hồ Chí Minh và khu vực Đồng bằng Sông Cửu long, Đông nam bộ
sử dụng rộng rãi trong việc ủ phân chuồng bón cho cây trồng. Việc sử dụng
chế phẩm này đã đẩy nhanh tốc độ ủ hoai phân chuồng từ 2 – 3 lần so với
phương pháp thông thường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do mùi hôi thối
của phân chuồng. Người nông dân lại tận dụng được nguồn phân tại chỗ, vừa
đáp ứng được nhu cầu ứng dụng tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng do
tác dụng của nấm đối kháng Trichoderma có chứa trong trong phân.
Các chế phẩm của Viện Sinh học nhiêt đới như BIO-F, chế phẩm chứa
các vi sinh vật do nhóm phân lập và tuyển chọn: xạ khuẩn Streptomyces sp.,

Các nhà khoa học thuộc Viện Hóa Học, Viện Công nghệ Sinh học
thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu phương
pháp dùng bèo tây để xử lý nước rò từ bãi rác cua rkhu chứa rác thải Nam Sơn
của thành phố Hà Nội.
Bèo tây là loài thực vật thủy sinh thường phát triển tốt ở những vùng nước
bị ô nhiễm, có khả năng hấp thụ kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ.
Qua phân tích người ta thấy rằng, nước rò từ bãi rác có các thành phần
ô nhiễm chủ yếu là amôni tổng lượng N, COD và BOD với hàm lượng rất cao.
Trong thí nghiệm, dịch rò từ bãi rác được pha loãng để có hàm lượng
NH4+ từ 400 mg/lít xuống còn khoảng trên dưới 100 mg/lít, là giới hạn nồng
độ mà cây có thể chịu đựng được. Bèo tây thí nghiệm nuôi trồng ở đó đều
phát triển, thể hiện qua sự tăng trọng lượng tươi tương đối nhanh.
Hàm lượng NH4+ sau khoảng thời gian một vài ngày đầu thí nghiệm đã
giảm nhanh từ 100,383 mg/lít xuống còn 6,560 mg/lít.
13
Nhu cu oxy húa hc (COD) ó gim khỏ nhanh, khong t 60 n
70% sau 25 ngy, cũn hm lng BOD ó gim gn 9 ln.
Nu kt hp vi quỏ trỡnh tin x lý húa hc n gin nh keo t, trn
vụi v sc CO2 hoc sau giai on t phõn hy hiu khớ, nc rũ t bói rỏc
c pha loóng gim hm lng NH4+ xung cũn khong 100 mg/lớt thỡ
kh nng s dng bốo tõy x lý cht lng nc thi nhm t tiờu chun
cho phộp l hon ton kh thi.
c. Li ớch ca vic s dng hm biogas trong x lý ph thi chn nuụi
Khớ sinh hc sn xut t hm biogas bao gm 2/3 khớ mờtan (CH4), 1/3
khớ cacbonic (CO2) v nng lng khong 4.500-6.000 calo/m3. Mt một
khi (1m3) hn hp khớ vi mc 6.000 calo cú th tng ng vi 1 lớt cn,
0,8 lớt xng, 0,6 lớt du thụ, 1,4 kg than hay 1,2 kWh in nng, cú th s
dng chy ng c 2KVA trong 2 gi, s dng cho búng ốn thp sỏng
trong 6 gi, s dng cho t lnh 1m3 khớ biogas trong 1 gi hoc s dng nu
n cho gia ỡnh 5 ngi trong 1 ngy. Trong tng lai cụng ngh biogas s l

nhng do khối lợng quá lớn sử dụng làm chất đốt không hết phải thải ra môi
trờng. Vài năm gần đây ngời ta đ sử dụng nguồn phế thải này để làm giá
thể nuôi nấm ăn bằng cách trộn 1/2 - 1/3 b mía với các hợp chất giàu hữu cơ.
Một số cơ sở sản xuất trộn b mía với đất có bổ sung các chất dinh dỡng để
làm bầu ơm cây giống.
Trờng Đại học Nông nghiệp (1999 - 2001) đ giúp một số nhà máy
đờng xử lý b mía bằng công nghệ vi sinh vật theo phơng pháp ủ bán hảo
khí. Sau 2 tháng đem tái chế thành phân hữu cơ bón cho cây mía.
+ Bùn mía: Đây là phế thải cuối cùng của khâu lọc nớc mía, khối
lợng phế thải này không nhỏ. Một số năm gần đây ngời ta dùng men vi sinh
vật để phân huỷ những chất còn lại trong bùn mía và dùng những chủng vi
sinh vật hữu ích có bổ sung lợng NPK làm phân hữu cơ vi sinh vật bón cho
cây trồng. Phơng pháp này đợc ngời nông dân chấp nhận vì giá thành rẻ và
cho hiệu quả khá cao trên đồng ruộng.
b. X lý nc thi trong cụng nghip
X lý nc thi cụng nghip bng cỏc bin phỏp cú s kt hp ca cỏc
bin phỏp sinh hc. X lý nc thi bng phng phỏp sinh hc da trờn
hot ng sng ca vi sinh vt, ch yu l vi khun d dng hoi sinh cú
trong nc thi.
15
- Cánh đồng tưới công cộng và bãi lọc
Trong nước thải sinh hoạt chứa một hàm lượng N, P, K khá đáng kể.
Như vậy, nước thải là một nguồn phân bón tốt có lượng N thích hợp
với sự phát triển của thực vật.
Tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng trong nước thải thường là 5:1:2 = N:P:K.
Nước thải CN cũng có thể sử dụng nếu chúng ta loại bỏ các chất độc hại.
Để sử dụng nước thải làm phân bón, đồng thời giải quyết xử lý nước thải
theo điều kiện tự nhiên người ta dùng cánh đồng tưới công cộng và cánh đồng lọc.
Nguyên tắc hoạt động : Việc xử lý nước thải bằng cánh đồng tưới, cánh
đồng lọc dựa trên khả năng giữ các cặn nước ở trên mặt đất, nước thấm qua

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu tại các hộ gia đình trên địa bàn xã , huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Lăng Can.
- Điều tra tình hình áp dụng các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải
tại xã Lăng Can.
- Hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải.
- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải trên địa bàn xã
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
* Tài liệu thứ cấp:
- Sách, báo, các văn kiện, Luật, nghị quyết, …
- Tài liệu, số liệu đã được công bố tại Sở Tài Nguyên & Môi Trường
tỉnh Tuyên Quang; Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Lâm Bình;
UBND xã Lăng Can và một số ban ngành khác có liên quan.
* Tài liệu sơ cấp:
- Điều tra phỏng vấn người dân, hộ gia đình theo mẫu phiếu điều tra.
Tiến hành chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình trên địa bàn xã để điều
tra, phỏng vấn.
17
- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lí đất đai xã. Hỏi trực tiếp
cán bộ xã về các hoạt động của chính quyền cũng như người dân trong xã liên
quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
- Điều tra thực tế. Tiến hành quan sát thực tế vài thôn điểm trên địa bàn xã
không có ghi chép để đối chiếu với tài liệu mà cán bộ xã đã cung cấp. Những thôn
chọn ra để quan sát là thôn được cho là áp dụng có hiệu quả công tác ứng dụng có

huyết mạch lưu thông với các xã lân cận đã tạo điều kiện cho phát triển kinh
tế xã hội, mở rộng thương mại.
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Lăng Can có Địa hình đa dạng và phức tạp, có độ dốc lớn trong khoảng
12 – 250C thấp dần từ phía Bắc về trung tâm xã và từ phía Nam về trung tâm
xã tạo thành lòng máng.
- Đỉnh núi cao nhất nhất là đỉnh núi Khau Ung cao 1.900m so với mực
nước biển
- Độ cao trung bình 210 – 1.800m so với mực nước biển
- Nơi thấp nhất chạy dọc theo con suối Nặm Luông thuộc thôn Phai tre
A, thôn Phai Tre B, thôn Nà Mèn và thôn Bản Khiển.
Địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành các kiểu địa hình khác nhau, diện
tích đất có độ dốc nhỏ ít và phân bố rải rác thành các dải nhỏ giữa các đồi, núi.
Do đặc điểm địa hình phức tạp nên việc bố trí sản xuất của xã gặp nhiều khó
khăn đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Kiểu địa hình núi trung bình (độ cao từ 701-1700 m) chiếm khoảng
15% diện tích tự nhiên của xã, độ cao trung bình từ 710-800 m độ dốc trung
bình 25-32o, phân bố ở khu vực thôn Phai Tre, thôn Nặm Đíp, thôn Nặm Chá,
19
đất đai phần lớn là đất lâm nghiệp xen kẽ các thung lũng hẹp rất thuận lợi cho
việc phát triển Nông - lâm nghiệp của địa phương.
Kiểu địa hình núi thấp (độ cao từ 301-700 m) chiếm khoảng 35% diện
tích tự nhiên, độ cao trung bình từ 400-500 m, độ dốc trung bình từ 25-35o,
phân bố ở khu vực phía Đông và phía Tây của xã, vùng này xen kẽ có các
thung lũng hẹp rất thuận lợi để phát triển nhiều loại cây trồng nông-lâm
nghiệp và canh tác lúa nước.
Kiểu địa hình đồi (độ cao từ 100-300 m) chiếm khoảng 40% diện tích
tự nhiên, độ dốc trung bình 200 m, độ dốc trung bình từ 15-25o phân bố dọc
theo suối Nặm Luông từ phía Đông sang Tây của xã, vùng này xen kẽ có các
thung lũng hẹp rất thuận lợi phát triển nhiều loại cây trồng nông - lâm nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status