A. Lời nói đầu
Công ty Toyota là một công ty sản xuất ô tô có thể nói là hàng đầu ở Việt Nam
trong thời điểm hiện nay. Toyota là một trong những công ty có doanh thu lớn và
doanh số bán hàng năm tăng rất nhiều. Việt Nam đang trong giai đoạn lịch sử, đẩy
mạnh phát triển kinh tế, xã hội, tham gia tích cực vào hội nhập kinh tế quốc tế.
Công ty Toyota Việt Nam cũng đang chuyển mình trong nền kinh tế Việt Nam, và
luôn ý thức một cách sâu sắc trách nhiệm của mình đối với sự phát triển của đất
nước. Toyota luôn nỗ lực cùng Việt Nam “tiến tới tương lai” và luôn phấn đấu để
đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Trong hơn 10 năm
hoạt động, Toyota không ngừng xây dựng ngày càng lớn mạnh, mà còn đáp ứng
được một lượng lơn xe trong thị trương của Việt Nam. Không chỉ dừng lại có vậy,
Toyota giờ đây đã trở thành một người bạn thân thiết của người dân Việt Nam
thông qua các hoạt động xã hội, các hoạt động gắn kết giữa khách hàng và doanh
nghiệp. Thực sự, Toyota đã cung cấp và làm thoả mãn, hài lòng những người tiêu
dùng của Việt Nam bằng những hành động rất đơn giản nhưng lại mang lại nhiều
lợi ích. Chính vì những điều đó, em xin phép được tìm hiểu về hệ thống “chăm sóc
khách hàng” của công ty Toyota Việt Nam. Làm cách nào mà họ có thể làm hài
lòng một lượng lớn khách hàng Việt Nam? Làm thế nào họ có thể chiếm được một
thị phần lớn như vậy trong thị trường ô tô của Việt Nam?
Đề tài nghiên cứu của em là: “Thực trạng và các giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác áp dụng biện pháp quản lí mối quan hệ khách hàng (CRM)
tại công ty Toyota Việt Nam”.
1
Cấu trúc trong chuyên đề của em như sau:
A. Lời nói đầu
B. Nội dung
Phần 1: Cơ sở lý luận về Quản lí mối quan hệ khách hàng (CRM)
Phần 2: Thực trạng triển khai hệ thống CRM tại Toyota Việt Nam
Phần 3: Một số kiến nghị
C. Kết luận
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã giúp đỡ em hoàn thanh chuyên
Quản lí mối quan hệ khách hàng (CRM) là một chiến lược doanh nghiệp để
lựa chọn và quản lí những mối quan hệ khách hàng có giá trị nhất. CRM yêu cầu
một nguyên lí về doanh nghiệp khách hàng trung tâm và sự mở rộng để hỗ trợ các
quá trình dịch vụ, giao tiếp, tiếp thị một cách có hiệu quả. Các ứng dụng CRM có
thể tác động tốt đến việc quản lí mối quan hệ khách hàng với điều kiện hãng kinh
doanh phải có chiến lược, sự lãnh đạo và sự mở rộng đúng đắn.
2. Các yếu tố cấu thành CRM
CRM được cấu thành bởi 3 yếu tố: con người, quá trình và công nghệ
- Yếu tố quá trình: chương trình CRM muốn thành công cần phải được xây dựng thành
một quá trình diễn ra liên tục. Từ những bước hình thành cơ sở dữ liệu, phân tích –
thống kê, lựa chọn khách hàng, xây dựng mối quan hệ… đến khi thiết lập một mối
quan hệ bền vững với khách hàng. Hơn nữa, CRM phải đảm bảo sự phối hợp với mọi
khâu, mọi bộ phận trong doanh nghiệp thì quá trình quản lý mới đem lại hiệu quả lâu
dài. Các bước của quá trình này luôn được diễn ra liên tục để đảm bảo quá trình áp
dụng CRM tại doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi nhất.
- Yếu tố công nghệ: yếu tố này chiếm một vị trí rất quan trọng của CRM, vì đây là yếu
tố cơ bản để xây dựng chương trình CRM. Việc lựa chọn phần mềm sao cho phù hợp
quyết định tới 80% khả năng thành công của một dự án CRM. Thực chất, công nghệ
chỉ là mối quan tâm thứ 2. Các doanh nghiệp trước khi đưa CRM vào quản lý mối quan
hệ khách hàng họ cần phải tìm kiếm một phần mềm phù hợp.Việc lựa chọn, sử dụng và
khai thác các lợi ích của một phần mềm là cơ sở dữ liệu khách hàng được coi như khía
cạnh công nghệ quan trọng nhất của hệ thống CRM. CRM được hỗ trợ bởi một hệ
thống công nghệ thông tin giúp xác định nhu cầu và vấn đề của khách hàng một cách
4
nhanh nhất. Trong thời đại ngày nay, công nghệ đã trở thành một trợ thủ đắc lực trong
quản lý trên mọi phương diện. Tuy nhiên, chỉ với yếu tố công nghệ, tổ chức không thể
tiến hành quản lý quan hệ khách hàng hiệu quả được. Một yếu tố tồn tại song song
đóng vai trò quan trọng và quyết định sau mỗi sự thay đổi trong tổ chức chính là yếu tố
con người.
- Yếu tố con người: đây là nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp. Họ được đào tạo
Doanh nghiệp cần tìm hiểu nhiều về những “khách hàng trung thành” của mình, những
người sẽ tiêu dùng thường xuyên những sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình,
và là những người sẽ tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. “Khách hàng trung thành”
được hiểu là khách hàng đã mua hàng của doanh nghiệp, đang và sẽ mua hàng lặp lại
khi có nhu cầu mà không chuyển hay mua sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh.
Hơn nữa, ấn tượng và cảm nhận lần đầu tiên của khách hàng khi mua sản phẩm hay sử
dụng dịch vụ là rất quan trọng, vì nếu họ cảm thấy hài lòng với sản phẩm, dịch vụ mà
doanh nghiệp cung cấp thì họ sẽ tiếp tục mua sau này. Chính điều này đã giúp cho
doanh nghiệp vừa tiết kiệm được nhiều chi phí khuyếch trương, cũng như tiết kiệm
được thời gian thuyết phục khách hàng so với việc bỏ chi phí để thu hút được một
khách hàng mới, hơn thế nữa, họ lại có được những khách hàng hết sức trung thành với
sản phẩm và dịch vụ cuả doanh nghiệp mình.
Trước đây, quan điểm về Marketing chỉ được hiểu là việc tập trung mọi nỗ lực
để bán được hàng, chỉ đơn thuần xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp. Nhưng, quan
điểm Marketing hiện đại chỉ ra rằng mọi mối quan hệ sẽ khó lòng thực hiện được nếu
chỉ phát sinh và duy trì dựa trên cơ sở lợi ích từ một phía. Vì vậy, thay đổi quan điểm
Marketing cho đúng đắn và nhận thức một cách sâu sắc về nó là rất cần thiết. Quan
điểm Marketing không nên chỉ xuất phát từ lợi ích doanh nghiệp mà nên xuất phát từ
lợi ích của cả khách hàng và doanh nghiệp. Một khái niệm mới về Marketing được đưa
6
ra: Marketing là tổng hợp những chiến lược và chiến thuật sử dụng để xác định, tạo
lập và duy trì mối quan hệ làm hài lòng khách hàng mà kết quả là mang lại giá trị cho
cả khách hàng và doanh nghiệp. Việc hoạch định chiến lược càng chi tiết, kỹ càng sẽ
càng củng cố thêm sự thành công của doanh nghiệp. Mặt khác, việc nắm rõ các thông
tin, sự hiểu biết về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh và thị trường sẽ làm tăng
sự sáng tạo của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Chính điều đó sẽ giúp
doanh nghiệp đưa ra thị trường sản phẩm mới độc đáo, phương thức phân phối, cách
tiếp cận nhằm thu hút được khách hàng…Những việc hoạch định chiến lược, nắm rõ
thông tin về khách hàng, đối thủ cạnh tranh, thị trường…cũng như việc sáng tạo của
doanh nghiệp được duy trì thường xuyên và không ngừng trong thời gian dài tiếp theo
Phân tích, thống kê
Lựa chọn khách hàng
Xây dựng mối quan hệ
Thu nhận những thông tin
có liên quan đến khách
hàng
Đánh giá hiệu quả
- Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khách hàng: đây là yêu cầu đầu tiên đối với mọi
doanh nghiệp, dù doanh nghiệp đó áp dụng mô hình CRM nào thì việc đầu tiên cần làm
cũng là tạo được nền tảng thông tin về khách hàng. Nó bao gồm: thông tin giao dịch,
thông tin liên hệ, mô tả phản ứng khách hàng… Có nhiều phương pháp để thu thập
thông tin khách hàng như: tiếp xúc trực tiếp, phát phiếu điều tra, website, e-mail, điện
thoại… Vấn đề cần làm ở đây là phải xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khách hàng và
phải được coi là tài sản chung của doanh nghiệp chứ không phải của bất cứ cá nhân
nào, mặt khác cần phải bảo mật thông tin đối với bên ngoài doanh nghiệp.
- Phân tích, thống kê dữ liệu: đây được coi là bước quan trọng khi xây dựng chương
trình CRM tại doanh nghiệp. Từ những dữ liệu thu thập được sẽ tiến hành phân tích để
từ đó có thể ước định lợi ích mà khách hàng mang lại cho doanh nghiệp và quan trọng
hơn nữa có thể làm cơ sở để lựa chọn khách hàng và xác định nhóm khách hàng mục
tiêu chính xác hơn. Dữ liệu về khách hàng và phương pháp phân tích, thống kê được
thể hiện không giống nhau đối với từng doanh nghiệp, nhưng lượng thông tin cần để
đánh giá được hiện tại và tương lai của khách thì thường tương đương nhau.
- Lựa chọn khách hàng: việc lựa chọn đối tượng khách hàng cụ thể không chỉ dựa trên
cơ sở dữ liệu chung về khách hàng mà còn bổ sung thêm từ những nguồn dữ liệu khác
như: thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh… Việc bảo đảm dữ liệu, thông tin
đầu vào “sach” là điều kiện cốt lõi để có được quyết định chuẩn xác trước khách hàng.
- Xây dựng mối quan hệ: thực chất của việc xây dựng mối quan hệ chính là các biên
pháp lôi kéo khách hàng vì mục đích của việc xây dựng mối quan hệ là đáp ứng những
yêu cầu của khách hàng ở mức cao hơn đối thủ cạnh tranh.
- Thu thập thông tin có liên quan đến khách hàng: hệ thống CRM phụ thuộc rất nhiều
sử dụng mô hình “customer equality” (giá trị tương đối của khách hàng), phân tích giá
trị của khách hàng, kiểm soát sự tin cậy của khách hàng… Một số chỉ tiêu đánh giá
khác cũng hay được sử dụng như: tỷ lệ chuyển từ quan tâm sang mua sản phẩm, mức
11
Nhu cầu, thái độ của
khách hàng
Năng lực tạo ra sản
phẩm, dịch vụ…
Năng lực cung cấp
sản phẩm, dịch vụ…
Khả năng “hiểu” khách hàng
độ tin cậy của khách hàng đối với doanh nghiệp (như: thương hiệu, sản phẩm, dịch
vụ…), tỷ lệ thay đổi các thành phần theo yêu cầu khách hàng, tỷ lệ không hài lòng của
khách hàng đã sử dụng sản phẩm (theo tổng số khách hàng).
Mô hình “customer equality” liên quan đến việc đánh giá của khách hàng về
thương hiệu và khả năng gắn bó của khách hàng với thương hiệu. Sử dụng mô hình
này, hệ thống CRM thực hiện đánh giá theo hai hướng: sự liên hệ giữa các thành phần
của “customer equality” với kinh doanh và mối liên hệ giữa phản ứng của khách hàng
với thành phần của “customer equality”.
Phân tích thị trường của khách hàng nhằm xác định cách thức thay đổi về giá
cả, chất lượng của sản phẩm để tác động đến thị trường và là một kênh thông tin chủ
yếu cho đánh giá bên ngoài của CRM. Phương pháp thường được sử dụng là so sánh
giá cả, chất lượng của các sản phẩm tương đương giữa các đối thủ cạnh tranh thông
qua biểu đồ. Từ những chỉ số đánh giá trên, hệ thống CRM phải xây dựng các thuật
toán đánh giá nhằm đưa ra những dự báo giúp người quản lý có những quyết định về
chất lượng và cơ cấu sản phẩm.
Sự tin cậy của khách hàng, các nhân viên và các đối tác là một yếu tố rất quan
trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Những thông tin, số liệu về sự tin cậy của
khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp dự báo được tình hình kinh doanh trong tương
lai. Sự tin cậy của khách hàng còn thể hiện qua uy tín thương hiệu.
dựa trên những thông tin có được về khách hàng, có thể đưa ra những chiến lược
Marketing, bán hàng và chăm sóc khách hàng phù hợp với từng đối tượng. Có thể nói,
giá cả luôn là mối quan tâm hàng đầu, là yếu tố quan trọng trong lựa chọn mua sắm của
khách hàng, những người tiêu dùng trực tiếp, vì ai cũng muốn có thể tiêu dùng một sản
phẩm, dịch vụ với chất lượng cao, nhưng giá cả phải phù hợp và có thể đáp ứng, thỏa
13
mãn nhu cầu của họ. Vì vậy, nếu chỉ cung cấp với giá cạnh tranh thì doanh nghiệp
không thể giữ chân khách hàng lâu dài và cũng không thể có một lợi thế tuyệt đối, bền
vững trước đối thủ. Nếu doanh nghiệp có lợi thế về mối quan hệ khách hàng chắc chắn
doanh nghiệp sẽ thành công dễ dàng hơn. Vì vậy, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc
phát triển mối quan hệ với khách hàng, và CRM là một công cụ đắc lực giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu đó.
Với khách hàng, CRM góp phần thúc đẩy mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng
và doanh nghiệp, giúp khách hàng hiểu rõ hơn về doanh nghiệp, được phục vụ chu đáo
hơn, khách hàng cảm thấy được quan tâm hơn từ những điều rất nhỏ như: ngày sinh, sở
thích, nhu cầu…
Với doanh nghiệp, việc phát triển và quản trị mối quan hệ với khách hàng, đồng
thời cung cấp những dịch vụ tốt nhất sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng các cơ hội bán
hàng và có thêm nhiều khách hàng trnug thành. CRM giúp doanh nghiệp quản lý khách
hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng, dễ dàng quản lý tình hình kinh doanh và phát triển
cuả doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai. Hơn thế nữa, đó còn là
một công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, thương hiệu nhanh chóng
dễ dàng và tiết kiệm chi phí. Doanh nghiệp có thể cắt giảm một phần chi phí và gia
tăng lợi nhuận trong khâu Marketing, bán hàng.
CRM còn là cung cấp cho những nhà quản lý nhiều công cụ hỗ trợ đắc lực như:
thống kê, phân tích và đánh giá tình hình kinh doanh nhanh nhất. Thêm vào đó, còn
giúp doanh nghiệp so sánh tình hình kinh doanh từ quá khứ, hiện tại và dự đoán tương
lai. Doanh nghiệp còn dễ dàng phát hiện những khó khăn, những rủi ro tiềm ẩn để kịp
thời đưa ra các giải pháp thích hợp. Đây là một công cụ giúp quản lý nhân viên một
cách hiệu quả nhất, tập trung nhất, giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả công việc của
viên vì nhân viên luôn là thành phần nòng cốt tạo nên sức sống cho mỗi hệ thống CRM
chạy trong doanh nghiệp. Việc đào tạo sẽ giúp mỗi nhân viên, nhất là bộ phận bán
hàng và chăm sóc khách hàng thấy được tầm quan trọng của hệ thống CRM và có ý
thức “sống” cùng với chúng. Ngoài ra, chiến lược CRM cần xuất phát từ chính định
hướng khách hàng của doanh nghiệp.
2. Lựa chọn giải pháp
Ngoài việc xác định nhu cầu quản lý của doanh nghiệp mình, doanh nghiệp còn
cần tính đến rất nhiều yếu tố như: trình độ, kỹ năng của nhân viên, giá cả sao cho phù
hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lựa chọn giảip pháp cần căn
cứ trên mục tiêu, nhu cầu rõ ràng của doanh nghiệp. Khi có nhiều nhu cầu cần đáp ứng,
cần xác định nhu cầu ưu tiên bậc nhất, ở mức độ vừa phải hay trung bình, từ đó lựa
chọn một giải pháp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu đó. Hiện nay, hệ thống CRM cần
nhiều phần mềm hiện đại để có thể làm cho việc quản lý trở nên hiệu quả và dễ dàng
hơn, và việc giải quyết các nhu cầu cũng trở nên đơn giản hơn. Khi doanh nghiệp cần
đẩy mạnh các hoạt động trong chu trình bán hàng hay một chu trình nào khác như chu
trình quản lý hay chu trình dịch vụ sau bán… họ đều cần một phần mềm giúp giải
quyết những mặt yếu trong lĩnh vực đó của mình. Khi đã có một chiến lược cụ thể và
giải pháp trong tay, doanh nghiệp sẽ bắt đầu vào quá trình tiếp theo đó là quá trình
triển khai và thực tế hoạt động của CRM, và lúc đó tầm quan trọng của yếu tố con
người sẽ được phát huy một cách tối đa.
16
3. Triển khai hệ thống CRM
Đấy là giai đoạn phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng quản lý, quy trình kinh doanh,
văn hóa doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là yếu tố con người thực sự đóng vai trò quan
trọng trong một dự án CRM.
Tùy theo quy mô lớn, nhỏ, lĩnh vực kinh doanh mà quá trình triển khai CRM tại
các doanh nghiệp sẽ khác nhau, nó gồm một số bước cơ bản sau:
• Đặt ra yêu cầu cụ thể, chi tiết cho từng bộ phận, phòng, ban, dựa trên những
mục tiêu tổng quát đề ra ban đầu trong chiến lược CRM.
• Thiết kế và tích hợp hệ thống, đây thường là giai đoạn chiếm nhiều thời gian
việc làm định hướng vào khách hàng một cách cần thiết và tạo được một cách nhìn
khác của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Việc áp dụng hệ thống CRM sẽ tạo được rất nhiều lợi thế đối với doanh nghiệp,
vì vậy doanh nghiệp khi đã áp dụng hệ thống CRM nên tiếp tục duy trì hệ thống này.
Hơn thế nữa, người lãnh đạo của doanh nghiệp cũng nên có các thay đổi trong quy
trình làm việc cũng như, thay đổi cách suy nghĩ của nhân viên trong tổ chức về các
mục tiêu mới của CRM trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xây dựng một môi
trường làm việc có tính tương tác cao giữa các bộ phận, điều này giúp nhân viên trao
đổi kinh nghiệm, phát huy tính dân chủ, sẽ ủy quyền nhiều hơn cho nhân viên. Để
những thông tin thu thập từ khách hàng nhờ CRM trở nên có ý nghĩa hơn và phát huy
tác dụng, thì ý kiến của nhân viên, những người có nhiều có hội tiếp xúc, giao dịch trực
tiếp với khách hàng cần được trân trọng hơn.
Việc triển khai CRM là một thách thức đáng kể trong vấn đề thay đổi quy trình
và tư duy làm việc của mỗi doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp luôn tin tưởng CRM, tin
18
vào những cách thức làm việc, và có một môi trường làm việc chuyên nghiệp, tạo được
sự thoải mái thì doanh nghiệp sẽ thành công trong việc “định hướng vào khách hàng”.
Hệ thống CRM hỗ trợ các doanh nghiệp trong quản lý dịch vụ khách hàng, đó
vừa là chiến lược kinh doanh, vừa là công nghệ, và nó quyết định tới tính hiệu quả của
toàn bộ hệ thống CRM. Sức mạnh của hệ thống CRM trước tiên phải đến từ chính
chiến lược CRM. Vì vậy, chỉ dừng lại ở việc triển khai CRM mà trước đó không xác
định được một chiến lược CRM hợp lý thì cũng không thể khiến doanh nghiệp thành
công được. Chiến lược CRM đơn giản chỉ là những mục đích, dự định, kế hoạch của
doanh nghiệp về CRM. Khi doanh nghiệp vạch rõ được kế hoạch của mình thì mới có
thể lựa chọn được một công cụ CRM thích hợp. Vì vậy, doanh nghiệp hãy bắt đầu từ
chính những khách hàng của mình để có một chiến lược thành công.
IV. Một số lỗi thường gặp khi triển khai CRM tại doanh nghiệp
Triển khai hệ thống CRM thành công không chỉ đơn giản dựa vào những công
nghệ tiên tiến, sự đào tạo con người một cách chuyên nghiệp và biết vận dụng hệ thống
CRM, hay được hỗ trợ từ nhiều phía mà sự thành công của hệ thống CRM còn dựa vào
thiết lập mối quan hệ lâu dài với họ. Doanh nghiệp còn cần xác định nhu cẩu của khách
hàng. Doanh nghiệp phải thực sự linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm
20
khách hàng khách nhau. Nếu doanh nghiệp không tìm hiểu kỹ nhu cầu của khách hàng
mà áp dụng công nghệ CRM nahừm cung cấp những dịch vụ khách hàng đến nhiều đối
tượng, bao gồm cả những khách hàng không có nhu cầu thì chắc chắn sẽ gặp phải
những tác dụng không mong muốn.
Phần 2: Thực trạng triển khai hệ thống CRM tại Toyota Việt Nam
I. Tổng quan về Toyota Việt Nam
1. Thông tin chung về công ty Toyota Việt Nam
Tên công ty : Công ty ô tô Toyota Việt Nam
21
Tên giao dịch quốc tế : Toyota Motor Viet Nam
Tên viết tắt : TMV
Địa chỉ - Nhà máy : Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Chí nhánh Hà Nội : Tầng 8, toà nhà Viglacera, Mễ Trì, Từ Liêm, HN
Chi nhánh TPHCM : Tầng 13, toà nhà Metropolitan, TP HCM
Tổng giám đốc : Mr. Nobuhiko Murakami
Điện thoại : 0211 - 868100
Fax : 0211 - 868118
Website : www.toyotavn.com.vn
2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV) được thành lập vào ngày 5/9/1995, là liên
doanh giữa công ty Toyota Nhật Bản (TMC), Tổng công ty Máy động lực và Máy
nông nghiệp Việt Nam (VEAM) và công ty Kuo (Châu Á).
Đến tháng 8/1996, TMV xây dựng nhà máy tạm thời và cho sản xuất thử. Tháng
10/1996, nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động và sản xuất 2 mẫu xe Hiace và Corolla.
Tháng 7/1997, công ty bắt đầu sản xuất tại nhà máy chính tại Mê Linh, và đến
ngày 6/10/1997 thì khai trương nhà máy chính (nay là nhà máy TMV) tại Mê Linh. Đó
cũng chính là dấu mốc sản xuất của TMV với công suất 10000 xe/năm.
23
Phấn đấu trở thành một công dân tốt với nhiều đóng góp xã hội để nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Mang lại những đóng góp thiết thực cho sự phát triển của nền công nghiệp trong
nước.
Bổ sung kiến thức, nâng cao chất lượng đào tạo ngang tầm quốc tế, đồng thời
xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho các nhân viên Việt Nam làm việc tại
Toyota.
Phát triển công ty ngày càng lớn mạnh lâu dài và bền vững ở Việt Nam.
4. Đóng góp xã hội của Toyota Việt Nam trong những năm gần đây
Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập công ty. TMV đã giành tặng 1 món quà đặc
biệt cho Việt Nam - Quỹ Toyota Việt Nam ( TVF ). Với sự thành lập của Quỹ, TMV sẽ
hệ thống hoá lại những đóng góp của công ty cho xã hội Việt Nam trong tương lai.
Được sự ủng hộ của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và sự nhất trí của Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo cùng Bộ Văn Hoá Thông Tin, mục đích tôn chỉ của Quỹ là “hỗ trợ trao đổi và
phát triển văn hoá – xã hội, đặc biệt là hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam”.
24
Khởi động chương trình “Giáo dục an toàn giao thông” (hay gọi tắt là TSEP).
Chương trình này nhằm nâng cao nhận thức về an toàn giao thông, đây chính là lí do
Quỹ Toyota Việt Nam đưa chương trình Toyota cùng em học an toàn giao thông vào
thực hiện. Mục tiêu của chương trình TSEP là giáo dục cho học sinh tiểu học trên toàn
quốc ý thức thực hiện an toàn giao thông (ATGT). Chương trình TSEP hướng tới việc
giáo dục ý thức thực hiện ATGT cho 5 triệu em học sinh lớp 1 trên toàn quốc trong
vòng 3 năm học liên tiếp (2005- 2008). Các hoạt động chính trong chương trình bao
gồm việc tặng sách và đĩa giáo dục ATGT cho tất cả các em học sinh lớp 1, tổ chức các
hội thảo tập huấn phương pháp giảng dạy ATGT cho giáo viên tiểu học, tổ chức thăm
và biểu diễn các hoạt cảnh giáo dục ATGT tại các trường tiểu học, và giới thiệu
chương trình trên các phương tiện giao thông đại chúng nhằm mang lại hiệu quả xã hội
sâu rộng hơn cho chương trình. Trong chương trình này, hình ảnh nhân vật hoạt hình