Nợ công và nguy cơ khủng hoảng nợ công đang là mối đe dọa hệ thống tài chính quốc tế. Phân tích thực trạng và các giải pháp quản lý, sử dụng và hoàn trả nợ nước ngoài của Việt Nam - Pdf 22

Đề tài nhóm 7: Nợ công và nguy cơ khủng hoảng nợ công đang là mối đe
dọa hệ thống tài chính quốc tế. Phân tích thực trạng và các giải pháp quản lý, sử
dụng và hoàn trả nợ nước ngoài của Việt Nam.
Phần 1: Lý thuyết
1. Nợ công: Nợ chính phủ, hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà
chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay.
Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói
cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để
dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng
bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
1.1.Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
• Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước
ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước).
• Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10
năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm).
Tại VN: Theo luật quản lý nợ công của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5, số
29/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2009 quy định tại điều 2:
Điều 2. Nợ công được quy định trong Luật này bao gồm:
a) Nợ chính phủ;
b) Nợ được Chính phủ bảo lãnh;
c) Nợ chính quyền địa phương.
* Nợ công so với GDP:
a) Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền kinh
tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ công tại thời điểm 31/12
Tỷ lệ nợ công so với GDP
= x 100%
GDP luỹ kế đến 31/12
2. Mục đích vay của Chính phủ
1. Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung

cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì:
+ Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng
cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài. Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu,
thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện
phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế. Tiêu
dùng giảm thì tăng trưởng chậm lại.
+ Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng
cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài. Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu,
thực hiện chính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện
phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế. Tiêu
dùng giảm thì tăng trưởng chậm lại
+ Một khoản nợ công lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở
hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính
phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành
nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.
+ Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là
một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ
trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó
nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
- Nợ Chính Phủ để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai. Các khoản
vay nước ngoài thường có thời hạn tương đối dài và có thể có các ưu đãi. Nhưng
nếu sử dụng không có hiệu quả sẽ không tạo ra tăng trưởng kinh tế, không tạo
ra thu nhập ròng để trả nợ, tạo gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai.
- Có thể dẫn tới vợ nợ Chính Phủ. Với các khoản nợ trong nước, Chính
phủ có thể tuyên bố là luôn có khả năng trả hết nợ vì Chính Phủ có thể in tiền vô
hạn độ để trả nợ. Còn các khoản nợ nước ngoài, do phải trả bằng vàng hoặc
ngoại tệ, nên đã có nhiều trường hợp Chính phủ phải tuyên bố vỡ nợ. Khi CP
tuyên bố vỡ nợ, CP được lợi là thoái thác trách nhiệm trả nợ. Nhưng CP sẽ chịu
nhiều bất lợi từ cộng đồng tài chính quốc tế như:
+ Bị ngăn cấm không được tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế, đặc

Trên thực tế, không chỉ có ngân hàng của Ireland mua trái phiếu Chính phủ
nước này mà nhiều ngân hàng của châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… đều mua. Hoặc với trái
phiếu Hy Lạp, Tây Ban Nha, Italia cũng vậy. Hơn nữa, do tính chất hoạt động của
ngân hàng thương mại là toàn cầu hóa nên khi ngân hàng bị tổn thương, uy tín bị
giảm sút, sẽ tác động xấu đến dòng tiền gửi của người dân.
Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công, nợ chính phủ:
Đó là việc các tổ chức tài chính quốc tế cho vay đối với một quốc gia quá
mức, kế hoạch vay giãn nợ hoặc đảo nợ đã làm tăng quy mô nợ; Những cú sốc về giá
dầu đối với những nước vay nợ, Chính sách tài trợ thâm hụt và các chính sách khác
của các nước vay nợ, các nguyên nhân khác do khủng hoảng tài chính.
Biểu đồ 1: Nợ công ở các quốc gia giàu nhất thế giới
2. Tình trạng nợ công tại Châu Âu trong năm 2011.
Trong tháng 7 vừa qua, thị trường tài chính quốc tế trở nên nhạy cảm với
những thông tin liên quan đến vấn đề nợ nần của các nước châu Âu và Mỹ. Phải
chăng kinh tế thế giới đang bắt đầu đi vào khủng hoảng nợ công toàn cầu? Theo phân
tích, do lo ngại về nợ khu vực đồng Euro và việc bế tắc trong thoả thuận giữa Đảng
Dân chủ và Đảng Cộng hoà về nâng trần nợ công trước thời hạn 2/8 khiến vàng thế
giới liên tục tăng mạnh và lập kỷ lục mới 1.638USD/1ounce vàng vào 29/7 vừa qua.
Từ khi bắt đầu nổ ra cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu, các nhà hoạch
định chính sách Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã lo ngại rằng cơn
hỗn loạn tài chính bắt đầu từ Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha rồi sẽ nhấn chìm những
nền kinh tế lớn khác trong khu vực.
Như chúng ta đã biết, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Anh, Ngân
hàng quốc gia Thụy Sĩ, và Ngân hàng Nhật Bản đã quyết định thiết lập lại các cơ sở
trao đổi USD với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Theo đó, họ có thể cung cấp không giới
hạn USD cho các ngân hàng quốc gia mình. Trong khi đó, các ngân hàng Pháp và
Đức lại nắm giữ khoảng 900 nghìn tỷ euro các khoản nợ ngoại biên của EU- gần
bằng với khoản vốn tự có của họ. Đối phó với những dấu hiệu căng thẳng tương tự
đang gia tăng tại châu Âu, ECB và các ngân hàng trung ương của Anh, Nhật và Thụy
Sĩ đã chấp nhận tái cung cấp hoạt động thanh khoản đồng đôla ba tháng trong quý IV

trình 'Eurobond’ trước đây.
Việc hội nhập các nước riêng lẻ thành một hệ thống liên bang tập trung ở Hoa
Kỳ đã chỉ ra cho chúng ta một mô hình cần thiết để giải quyết các vấn đề hiện tại của
châu Âu. Tuy nhiên, chủ quyền bị mất đi là điều mà hầu hết các thành viên trong khu
vực này không thể chấp nhận được.
Có thể thấy, nguy cơ khủng hoảng đã thể hiện rõ những điểm yếu trong cơ cấu
kinh tế tại các quốc gia này. Các ngân hàng EU đang khiến việc mở rộng tín dụng
của họ đi vào bế tắc, các doanh nghiệp có xu hướng đối mặt với nhiều rủi ro và tỷ lệ
thất nghiệp cao 10% không có dấu hiệu đảo chiều sớm. Tiếp tục cải cách và loại bỏ
sự sợ hãi về chính trị là điều cần thiết để ECB duy trì được thị trường. Những điều tồi
tệ nhất dường như vẫn còn nằm ở phía trước. Điều này sẽ có lợi cho vàng trong tương
lai.
Về vấn đề Hy Lạp, Thủ tướng Hy Lạp, George Papandreou, đang xem xét việc
kêu gọi một cuộc trưng cầu dân ý tại các thành viên khu vực đồng euro như là một
cách để tăng cường sức mạnh của chính phủ trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng
nợ. Một dự luật đã được đệ trình quốc hội - mở đường cho hoạt động bỏ phiếu như
vậy- sẽ được thảo luận trong những ngày tới.
Nếu không có đợt cho vay tiếp theo, Athens cho biết họ sẽ hết tiền mặt vào
giữa tháng 10. Nguy cơ vỡ nợ có thể lan rộng tới các nền kinh tế khu vực đồng euro,
ví dụ như Italia cũng như tác động mạnh tới các ngân hàng châu Âu. Khi được hỏi
liệu Hy Lạp sẽ nhận được khoản vay tiếp theo hay không, Bộ trưởng Tài chính
Venizelos nói: "Vâng, tất nhiên sẽ là như vậy." Nếu điều đó không xảy ra, giới kinh
tế và các nhà đầu tư tin rằng núi nợ của Athens sẽ vỡ trong vòng 6 tháng khi chiếm
tới hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội. Sau đó, 111 tấn vàng sẽ được sử dụng để duy
trì việc tiếp cận thị trường quốc tế. Như vậy, đây có thể là mối hoạ cho giá vàng giảm
xuống nếu họ thực hiện bán ra.
a. Tại Hy Lạp
Hy Lạp đang đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâm hụt ngân
sách và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai. Theo số liệu nghiên cứu, nợ trong hạn
của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đôla Mỹ, lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ

công trước kia của họ. Nhưng Giáo sư Krugman không cho rằng đó là toàn bộ câu
chuyện. Thảm họa ở Hy Lạp hiện nay còn phản ánh mối hiểm nguy to lớn mà chính
sách tiền tệ giảm phát (bao gồm tăng lãi suất và giảm cung tiền) có thể mang lại.
Giáo sư Krugman nhận xét, điều then chốt về vấn đề của Hy Lạp là cuộc
khủng hoảng này không chỉ bao gồm những khoản nợ khổng lồ. Tuy nợ công của Hy
Lạp khá cao, tương đương 113% GDP, nhưng trên thực tế, nhiều quốc gia khác cũng
đang hoặc đã từng gánh những mức nợ tương tự mà không hề lâm vào khủng hoảng.
Chẳng hạn, vào năm 1946, nước Mỹ khi đó vừa ra khỏi Chiến tranh Thế giới 2
đã có mức nợ liên bang tương đương 122% GDP. Nhưng các nhà đầu tư khi đó
không lo ngại gì, và một thập kỷ sau, tỷ lệ nợ so với GDP của Mỹ giảm còn một nửa.
Trong những thập kỷ tiếp theo, tỷ lệ nợ công so với GDP của Mỹ tiếp tục giảm,
xuống tới mức đáy 33% vào năm 1981.
Vậy làm thế nào mà nước Mỹ có thể trả được những món nợ mà họ vay thời
chiến tranh? Thực tế, nước Mỹ đã không hề làm được điều đó. Vào cuối năm 1946,
Chính phủ Mỹ nợ 271 tỷ USD, và vào cuối năm 1956, mức nợ này tăng nhẹ lên 274
tỷ USD. Như vậy, tỷ lệ nợ so với GDP giảm không phải bởi nợ giảm mà vì GDP
tăng, cụ thể là tăng gần gấp đôi tính theo USD trong vòng 1 thập kỷ.
Sự gia tăng của GDP tính bằng USD hầu như là kết quả của sự tăng trưởng
kinh tế và lạm phát, với cả hai yếu tố này cùng gia tăng với tốc độ khoảng 40% trong
thời gian 1946-1956.
Không may cho Hy Lạp, quốc gia châu Âu này không thể kỳ vọng điều tương
tự. Lý do nằm ở đồng Euro.
Cho tới gần đây, việc trở thành một thành viên của khu vực sử dụng đồng
Euro vẫn được xem là một điều tốt đẹp đối với Hy Lạp, giúp đem tới những khoản
vay lãi suất thấp và những dòng vốn khổng lồ. Nhưng những dòng vốn này cũng
đồng thời dẫn tới lạm phát và rốt cục, Hy Lạp nhận thấy mình phải đương đầu với
tình trạng leo thang của giá cả mạnh hơn ở các nền kinh tế lớn của châu Âu.
Dần dần, Hy Lạp sẽ phải áp dụng chính sách tiền tệ giảm phát để đưa tỷ lệ lạm
phát về với mức “hợp chuẩn” với các quy định của khu vực đồng Euro. Và sự giảm
phát sẽ làm cho gánh nặng nợ nần của Hy Lạp thêm tồi tệ, trong khi lạm phát giúp

(tương đương 99 tỷ USD), một con số nợ khổng lồ đối với một đất nước tạo ra 171 tỷ
USD một năm.
Ireland đã trở thành quốc gia thứ hai sau Hy Lạp buộc phải thực hiện các biện
pháp thắt chặt kinh tế để đổi lấy khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF và EU với hi vọng sẽ
giải quyết triệt để khủng hoảng nợ công, giảm mức thâm hụt ngân sách từ con số kỷ
lục 32% GDP hiện nay xuống mức 3% GDP và giảm tỷ lệ thất nghiệp từ trên 13%
hiện nay xuống dưới 10% vào năm 2014.
c. Tại Bồ Đào Nha
Khoản nợ công của năm 2010 lên tới 84% GDP. Nghiêm trọng hơn, 70% các
khoản nợ của Bồ Đào Nha là nợ nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia
này khó có thể xoay xở hay trì hoãn khi nợ đáo hạn. Theo dự báo, tỷ lệ nợ công Bồ
Đào Nha sẽ tăng trong thời gian tới từ 82,4% trong tổng GDP trong năm ngoái lên
87,9% GDP trong năm nay và tăng đến 88,1% GDP vào năm tới. Cuộc khủng hoảng
nợ công cũng khiến cho tình hình chính trị của nước này bị chia rẽ sâu sắc. Moody’s
đã hạ mức xếp hạng tín nhiệm của chính phủ Bồ Đào Nha xuống thêm một bậc, từ
A3 xuống Baa1. Các thành viên EU và giới phân tích nhận định quốc gia này cần ít
nhất 100 tỷ USD để trang trải các khó khăn tài chính cho tới khi đáo hạn và tổng
tuyển cử.
d. Tại Tây Ban Nha
Có thể sẽ là nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công với bong bóng
nhà đất khổng lồ và các vấn đề liên quan đến các khoản nợ tăng lên với mức độ
chóng mặt. Hợp đồng bảo hiểm khả năng vỡ nợ (CDS) kỳ hạn 10 năm của trái phiếu
chính phủ Tây Ban Nha đã lên tới mức 312 điểm phần trăm, cao chưa từng có từ
trước tới nay. Như vậy, cứ 10 triệu Euro nợ dài hạn của Tây Ban Nha sẽ mất 312.000
Euro phí bảo lãnh.
e. Tại Italia, lãi suất trái phiếu chính phủ đột nhiên được thị trường đẩy lên rất
nhanh (từ 3,9% lên 4,93% áp dụng cho trái phiếu thời hạn 5 năm). Nguyên nhân cơ
bản là do nhà đầu tư lo ngại diễn biến phức tạp về nợ công có thể tạo ra một hiệu ứng
biến Italia trở thành nạn nhân tiếp theo. Bên cạnh đó, trong cấu trúc nợ khoảng 1.600
tỷ Euro của Italia, có đến hơn 800 tỷ Euro là các khoản nợ sẽ đáo hạn trong vòng năm

phủ khó có thể đạt được. Hơn nữa, những chính sách của Ý nhằm chống lại áp lực thị
trường gần đây cho thấy những bất ổn trong chính sách sẽ còn tiếp diễn. Và điều đó
có nghĩa rằng, nền kinh tế của họ còn gặp nhiều khó khăn. Tiết kiệm ngân sách có thể
không còn phù hợp khi mà chính phủ đang dựa dẫm rất nhiều vào doanh thu tại một
quốc gia đang đối mặt với gánh nặng thuế cao và triển vọng tăng trưởng kinh tế yếu
kém. Thêm vào đó, tỷ lệ lãi suất dự kiến sẽ tăng lên. "
Như vậy, Italia đang trở thành một điểm nóng nữa của nền kinh tế khủng
hoảng tại châu Âu. Với việc phải cứu trợ, tung tiền và kéo theo cả nền tài chính rối
loạn… nhưng bất ổn như trên từ châu Âu sẽ còn kích thích giá vàng tăng trên thị
trường.
3. Tình trạng nợ công tại nước Mỹ
Đã từ lâu, thế giới quá quen với tình trạng nợ nần của Mỹ. Còn người Mỹ luôn
yên tâm rằng, nền tảng kinh tế, thành lũy tài chính hùng mạnh của nước này hoàn
toàn miễn dịch với thứ mầm bệnh kia. Họ tự hào về nền tảng kinh tế, khoa học công
nghệ và năng suất lao động có thể làm chủ được thị trường tài chính thế giới; coi đó
là thứ giá trị bảo hiểm cho đồng tiền của mình, là vật thế chấp đáng tin cậy nhất cho
nợ công.
Năm 2006, Bộ Ngân khố Mỹ (Bộ Tài chính) khi thảo luận với Việt Nam về
vấn đề nợ công, phía Việt Nam tỏ ý lo ngại, nợ công của Mỹ sẽ là vấn đề lớn trong
tương lai. Một quan chức phía Mỹ đáp: “Yên tâm, nợ công Mỹ còn chưa đến 100%
GDP, Nhật Bản còn nhiều nợ công hơn chúng tôi. Ai cầm trái phiếu Mỹ là cầm
vàng”. Quan chức này cũng nhắc lại câu nói nổi tiếng của Alexander Hamilton, Bộ
trưởng Bộ Ngân khố đầu tiên của Mỹ, tại vị 1789 - 1795: “Nợ nước Mỹ là vàng”.
Nhưng giờ đây, vấn đề đã khác. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bộc
lộ mặt trái không mong muốn của nợ công nước Mỹ và nhiều nước khác. Khi thế giới
chưa hết sững sờ về cuộc mặc cả giữa chính phủ và Quốc hội Mỹ nâng trần nợ công
lên mức 16,4 nghìn tỷ USD và đổi lại phải cắt giảm chi tiêu 2,1 nghìn tỷ USD trước
bờ vực vỡ nợ thì sự đánh tụt trái phiếu dài hạn của hãng xếp hạng tín nhiệm S&P như
thể là “lưỡi dao” bổ xuống sự kiêu hãnh quá mức của nước này. Đó còn là hồi
chuông cảnh báo mạnh mẽ đối với trung tâm kinh tế, tài chính ở một quốc gia có nền

trường tài chính sẽ suy sụp thực sự. Dĩ nhiên, cũng có nhà phân tích cho rằng, nếu
FED phát hành thêm tiền, sẽ tránh nợ công của Mỹ tăng thêm hay nói cách khác, cả
thế giới phải xúm lại lo chuyện nợ nần cho Mỹ thông qua đóng thuế vô hình khi đồng
USD mất giá. Hiện tại, vấn đề này còn tùy thuộc vào quan điểm giải quyết vấn đề tài
chính sống còn của nước Mỹ của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ như thế nào.
Có thể nói, cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu đang diễn ra ở châu Âu, Mỹ
và có thể sẽ lan tới Nhật Bản. Và rất có thể, chúng là tiền đề cho một cơn bão tài
chính mới diễn ra vào năm 2012.
Riêng với nước Mỹ hiện nay, nhiều người bày tỏ sự lo ngại về những ý kiến
đòi hỏi tăng lãi suất cơ bản USD và kết thúc các biện pháp kích thích tăng trưởng từ
phía những người chủ trương chống lạm phát mặc dù thị trường việc làm mới chỉ
manh nha hồi phục. Nếu những đòi hỏi này được thực hiện, thất nghiệp ở Mỹ rất có
thể sẽ tăng mạnh.
Mặt khác, nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, nợ công của Mỹ sẽ dễ kiểm
soát hơn nếu chính sách tiền tệ nới lỏng được duy trì để giúp nền kinh tế tăng trưởng
mạnh trở lại và lạm phát tăng lên mức vừa phải.
Một quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có số nợ
công hàng đầu thế giới. Tại sao nước Mỹ lại có quá nhiều nợ như vậy? Có thể kể ra
một số nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, dưới thời Tổng thống George W.Bush, nợ của Mỹ đã tăng tới 4.360
tỷ USD do chi phí chiến tranh tại Iraq và Afghanistan cùng với việc cắt giảm thuế
mới.
Thứ hai, đến thời của Obama, nợ của Mỹ tăng thêm 3.900 tỷ USD do các
chương trình kích thích kinh tế và giảm thuế trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn
cầu. Chính phủ Mỹ mỗi tháng chi nhiều hơn thu khoảng 120 tỷ USD, và chỉ có một
tài khoản ngân hàng tại Cục Dự trữ Liên bang với hơn 100 tỷ USD để sử dụng. Theo
số liệu nghiên cứu, hơn 70% trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ do nhà đầu tư tư nhân bên
ngoài nắm giữ đáo hạn trong 5 năm tới, việc nhà đầu tư kém tin tưởng vào nước Mỹ
sẽ khiến chi phí lãi vay của chính phủ và lĩnh vực tư nhân Mỹ tăng lên. Và theo thông
báo của Bộ Tài chính Mỹ, 3 tháng liên tiếp cuối năm 2010, đầu năm 2011, Trung

như một hành tinh có quỹ đạo bay hướng thẳng về Trái Đất. Hành tinh đó quá to để
có thể né tránh, cũng như quá khó để xác định chính xác mức độ thiệt hại sau cú va
chạm.
Với khoảng 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ nắm giữ dưới hình thức trái phiếu
của Bộ Tài chính Mỹ, trong đó riêng Trung Quốc và Nhật Bản đã sở hữu tổng cộng
trên 2.000 tỷ USD, rõ ràng châu Á sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu Mỹ rơi
vào tình trạng vỡ nợ.
Nhà kinh tế trưởng tại Ngân hàng Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ (có trụ sở tại
New York), Chris Rupkey nói: "Liệu các nhà đầu tư có thể chuyển lượng tiền mặt
khổng lồ này sang các kênh nào khác? Câu trả lời là không."
Nhìn chung, các quốc gia chủ nợ của Mỹ không còn lựa chọn nào khác là kiên
nhẫn chờ đợi trong hy vọng rằng điều tốt đẹp nhất sẽ tới khi Washington đang tìm
mọi cách để giải quyết vấn đề trần nợ công trước hạn chót vào ngày 2/8. Và họ cũng
đã giảm bớt nỗi lo lắng phần nào khi Thượng viện Mỹ thông qua mức trần nợ công
mới do Tổng thống Balack Obama đề xuất.
Trên thực tế, một số quan chức còn bày tỏ sự lo ngại lớn hơn về những rủi ro
của cuộc khủng hoảng nợ chưa có dấu hiệu hạ nhiệt tại châu Âu, nơi "cơn bão" nợ
công đã lan rộng từ Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, sang cả nền kinh tế lớn hơn nhiều
là Italy. Một quan chức chính phủ Nhật Bản giấu tên cho biết: "Nhật Bản có thể thiệt
hại đôi chút trong trường hợp trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ bị hạ cấp, song đây vẫn là
kênh đầu tư ít rủi ro nhất. Bên cạnh đó, chúng tôi còn lựa chọn nào khác nếu bán ra
USD. Euro chăng? Có gì đảm bảo đây sẽ là khoản đầu tư an toàn hơn USD."
Mối lo lớn nhất của Nhật Bản là đồng yen tăng giá so với USD hay euro trong
trường hợp cuộc khủng hoảng nợ diễn biến theo chiều hướng xấu đi. Đồng yên tăng
giá chắc chắn sẽ tác động xấu tới hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản và ảnh hưởng tới
tiến trình phục hồi kinh tế đất nước "Mặt Trời mọc" sau thảm họa kép động đất và
sóng thần kinh hoàng hồi tháng Ba vừa qua.
Đối với Trung Quốc, quốc gia "chủ nợ" lớn nhất của Mỹ, tiếp tục mua thêm
7,3 tỷ USD trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ trong tháng 5 vừa qua, đánh dấu tháng tăng
thứ hai liên tiếp sau 5 tháng sụt giảm. Giới chuyên gia cho rằng, chính Trung Quốc

giá. Vì vậy, Trung Quốc cũng không còn lựa chọn nào khác là tiếp tục mua thêm trái
phiếu Bộ Tài chính Mỹ, đồng thời kêu gọi chính phủ Mỹ triển khai một chính sách
phù hợp và trách nhiệm để đảm bảo lợi ích các nhà đầu tư.
Trên phương diện khu vực Châu Á, vấn đề đáng quan ngại nhất là những hiệu
ứng tiêu cực toàn cầu, tương tự như những gì từng xảy ra sau sự sụp đổ của Ngân
hàng đầu tư Lehman Brothers hồi năm 2008. Điều này có thể khiến các nhà đầu tư rút
tiền ra khỏi các thị trường đang phát triển, cho dù triển vọng tăng trưởng của các nền
kinh tế này sáng sủa hơn hẳn so với nhiều quốc gia phát triển khác. Mặt khác, các
ngân hàng phải dựa vào Trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ như là nguồn dự trữ ngoại tệ an
toàn có thể phải ngừng cho vay hoặc bán các tài sản rủi ro hơn để gia tăng vốn.
Việc Mỹ có thể bị hạ mức xếp hạng tín nhiệm như cảnh báo của một số cơ
quan xếp hạng tín dụng cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nhất là đối với
các thị trường tài chính châu Á.
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cho biết, trái phiếu Bộ Tài chính
Mỹ thường được sử dụng như một bản vị hay hệ quy chiếu, vì vậy nếu Mỹ rơi vào
tình trạng vỡ nợ thì toàn bộ hệ thống tài chính sẽ rơi vào tình trạng "hỗn loạn."
Cơ quan xếp hạng tín dụng Standard & Poor's thì tuyên bố rằng nguy cơ Mỹ
mất thứ hạng tín nhiệm AAA trong ba tháng tới là 50/50. Thế nhưng, một số nhà
hoạch định chính sách châu Á cho biết họ không có kế hoạch dự phòng chính thức
trước nguy cơ này.
Gần đây, thị trường chứng khoán các nền kinh tế mới nổi đã trải qua một đợt
bán tháo cổ phiếu, một phần vì mối lo liên quan tới lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Mới cách đây có vài tháng, nỗi lo lớn nhất của các chính phủ ở đây là lạm phát do tốc
độ tăng trưởng cao, cũng như tốc độ tăng giá khó cưỡng của đồng nội tệ gây phương
hại tới sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu. Đến nay, các chính phủ này lại “quay
180 độ” sang tính chuyện cắt giảm lãi suất và ngăn chặn sự giảm giá của đồng nội tệ,
khi mà cuộc khủng hoảng nợ công của Eurozone thúc đẩy giới đầu tư quốc tế tháo
chạy sang “hầm trú ẩn” USD.
2. Đối với Nam Phi
Tại Nam Phi, các nhà xuất khẩu cũng đang cảm nhận được ảnh hưởng của tâm

hàng hóa được giao dịch thực sự suy giảm trong năm nay, và đến đầu năm 2012, các
con số về thương mại sẽ trở thành một rào cản đối với tăng trưởng ở các nền kinh tế
phụ thuộc vào xuất khẩu.
“Lĩnh vực xuất khẩu nói chung của các nền kinh tế mới nổi đã rơi vào suy
thoái xét trên phương diện kỹ thuật”, kinh tế gia Jonathan Anderson của UBS viết
trong một báo cáo ngắn mới đây được Wall Street Journal trích dẫn.
Một thông tin tốt nữa là đa phần các nhà phân tích không đưa ra dự báo về sự
suy giảm tăng trưởng mạnh ở các nền kinh tế mới nổi trừ phi khủng hoảng và suy
thoái bùng nổ ở các nước phát triển. Nhu cầu tiêu thụ nội địa và chi tiêu của các
doanh nghiệp có thể giúp các nền kinh tế mới nổi bù đắp sự giảm sút trong lĩnh vực
xuất khẩu. Thêm vào đó, hầu hết các chính phủ ở các nền kinh tế này đều có cơ hội
đưa ra các biện pháp kích thích tăng trưởng.
PHẦN 3: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, HOÀN TRẢ VÀ QUẢN LÝ NỢ
CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1. Quy mô và cơ cấu nợ công ở Việt Nam
Nợ công đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ ở các nước mà còn là vấn
đề của Việt Nam. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài chưa có điểm
dừng, trong đó có nguyên nhân quan trọng là một số nước EU đang ngập sâu
vào thâm hụt ngân sách. Nợ công thực sự là cái bẫy khiến chính phủ các nước
này không thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng.
Cùng với lạm phát và thâm hụt ngân sách, nợ công cũng đang là vấn đề
hiện hữu, quan trọng cần được đặc biệt quan tâm tại Việt Nam. Chúng ta hãy
nhìn nhận các yếu tố nợ công dựa trên những gì đã và đang diễn ra ngay trong
nội bộ nền kinh tế Việt Nam để từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề nợ
công và đưa ra những dự báo cũng như những giải pháp để quản lý có hiệu quả
nợ công ở Việt Nam.
a) Quy mô nợ công
Theo báo cáo của IMF, ta có thể thấy trong những năm gần đây nợ công
của Chính phủ Việt Nam không ngừng tăng cao. Nếu như vào năm 2006, nợ
Chính phủ mới chỉ là 407.714tỷ đồng thì đến 2010 đã lên tới 1.046.863 tỷ đồng,

78,1% GDP vào năm 2030.
Biểu đồ: Tỷ lệ nợ công trong những năm gần đây
Đơn vị: %
Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia
Có sự khác biệt giữa những con số về nợ công của Việt Nam được công
bố là do cách định nghĩa và tính toán nợ công không giống nhau. Theo khoản 2
Điều 1 của Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 của Quốc
hội Việt Nam nợ công được quy định bao gồm: Nợ chính phủ; Nợ được Chính
phủ bảo lãnh; Nợ chính quyền địa phương. Tuy nhiên, cách tính nợ công tiêu
chuẩn của Liên hợp quốc phải bao gồm cả các khoản tự vay tự trả của các tổng
công ty, tập đoàn Nhà nước mà Chính phủ cũng cần có nghĩa vụ trả nợ dự
phòng và các khoản nợ lương hưu tiềm ẩn. Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và
nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở Việt Nam
nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép
loại nó ra khỏi nợ công vì nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng
phải gánh. Ví dụ như năm 2005, Chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu
ra thị trường chứng khoán New York và dùng toàn bộ số vốn này đầu tư cho các dự
án của Vinashin. Hiện tại, Vinashin thua lỗ, khó có khả năng thanh toán số nợ trên thì
Chính phủ phải đứng ra trả nợ thay. Hay theo số liệu tổng hợp từ UBGSTCQG,
ước tính đến hết năm 2009, chỉ tính riêng tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn,
tổng công ty Nhà nước là trên 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 22% GDP của
năm 2009. Báo cáo điểm lại của Ngân hàng Thế giới (WB), đến cuối năm 2010,
khoản nợ được gọi là nghĩa vụ dự phòng của Chính phủ cho khu vực doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN) còn lớn hơn nhiều, lên đến 36,2% GDP. Và theo báo
cáo của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số
gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2011 là 350.000 tỉ đồng,
tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy
mô đầu tư là khổng lồ mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Thêm vào đó,
trong nợ công còn có phần quỹ hưu trí, vấn đề này hiện nay bị bỏ lơ khi tính nợ
công ở Việt Nam nhưng chắc chắn câu chuyện này sẽ nóng vào năm 2017: thời

nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo lãnh) lần lượt là
31,4% GDP (2006); 32,5% GDP (2007); 29,8%GDP (2008); 39,0%GDP
(2009) tương đương với hơn 27,9 tỷ USD (trong đó, nợ nước ngoài của
Chính phủ trên 23,9 tỷ USD) và năm 2010 lên tới 42,2% tương đương 32,5
tỷ USD (trong đó tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ 27,86 tỷ USD,
chiếm 85,7% tổng dư nợ) tăng 4,6 tỷ USD so với năm 2009, đạt mức nợ cao
nhất kể từ năm 2005. Điều này cho thấy mức nợ nước ngoài của Việt Nam
đã tiếp cận giới hạn chịu đựng của nền kinh tế và mấp mé dưới mức cảnh
báo an toàn của WB.
Biểu đồ: Nợ nước ngoài so với tổng nợ công Việt Nam
20062010
(Đơn vị tính: %
GDP)
Nguồn:
WB
Hiện nay, nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các
khoản
vay ODA.
Kể từ khi nối lại quan hệ với các nhà tài trợ từ tháng 11.1993, VN
đã nhận được sự cam kết viện trợ vốn ODA của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế.
Từ 1993 đến cuối 2010, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho VN
đạt tới hơn 64 tỉ USD. Theo số liệu thống kê, tỉ lệ giải ngân vốn ODA trong 4 năm
(2006- 2010) cho thấy, tổng số giải ngân đạt hơn 12,5 tỉ USD, chiếm trên 40% tổng
vốn ODA cam kết. Có thể nói, nguồn vốn ODA cam kết dành cho VN của các nhà
tài trợ quốc tế là tương đối lớn và có xu hướng tăng lên qua mỗi năm.
Theo danh
mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính (BTC),
60,3% nợ công là ODA và
29,8% được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Hiện nay, đối tác lớn tài trợ vốn ODA
cho VN bao gồm: Nhật Bản, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status