1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố khu dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.
Việc sử dụng hợp lý đất đai để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao
và đảm bảo sự phát triển bền vững là một trong những mối quan tâm hàng
đầu của Đảng và Nhà nước ta.
Điều 18, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất
quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, có
hiệu quả”
Trải qua hai mươi năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt
được những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định.
Kinh tế càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá nông thôn được đẩy
mạnh góp phần làm cho đời sống của người dân từng bước được cải thiện.
Mặt khác, dưới áp lực của sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế nông
thôn, nhu cầu của người dân ngày càng nâng cao. Từ đó, xuất hiện nhu cầu
chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo xu thế từ đất nông nghiệp sang đất phi
nông nghiệp.
Quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ khắp cả nước, sự phát triển các
khu công nghiệp trong thời gian qua đã góp phần đẩy nhanh sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là đối với các
1
tỉnh thuần nông. Tuy nhiên việc ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển các khu
công nghiệp đã tạo nên sự mất cân đối trong phát triển kinh tế xã hội nông
thôn, nhất là đối với những vùng đất chật người đông như đồng bằng sông
Hồng. Một số diện tích đất phù sa màu mỡ chuyên trồng lúa đã phải chuyển
sang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công nghiệp trong khi có thể sử dụng
diện tích ở những vị trí khác hợp lý hơn. Người nông dân có đất bị thu hồi
nông nghiệp và nông thôn để tìm được nguyên nhân và ảnh hưởng của quá
trình này đã và đang tác động như thế nào tới quá trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn trên các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn
huyện, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý đem lại hiệu
quả cao và bền vững là rất cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự hướng dẫn của PGS - TS. Vũ
Thị Bình, chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du -
tỉnh Bắc Ninh".
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sử
dụng đất phục vụ CNH, HĐH của huyện Tiên Du nhằm phát hiện những vấn
đề bất cập trong quá trình quản lý sử dụng đất.
- Đánh giá tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến
phát triển nông nghiệp, nông thôn về các mặt: kinh tế - xã hội - môi trường
trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
3
- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững đáp ứng mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương giai đoạn 2006 -
2015.
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra
trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng sử
dụng đất trên địa bàn nghiên cứu.
- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có định tính định
lượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp.
- Đánh giá đúng thực trạng, những đề xuất kiến nghị giải pháp quản
lý sử dụng đất bền vững trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp
luật đặc biệt là Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ Môi trường và một số
Luật có liên quan, đồng thời phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định, đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ
xã hội, trong đó, giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo
đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Mục tiêu phát triển bền
vững về xã hội là nâng cao chất lượng cuộc sống, mọi người đều có cơ hội
được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng
cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giảm các tệ nạn xã hội.
+ Phát triển bền vững về môi trường
Phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng tài nguyên thiên
nhiên tái tạo trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số
lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết
kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan
thiên nhiên....) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi
trường sống, lao động và học tập của con người...) không bị các hoạt động của
con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ sản xuất
và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm,
con người được sống trong môi trường sạch.
Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử
dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn
xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường
sống, bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ
sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện
chất lượng môi trường [12].
2.1.2. Lý luận về sử dụng đất bền vững
1.1.2.1. Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
6
Những người trực tiếp sử dụng đất và những người có liên quan đến
việc sử dụng đất có những lợi ích khác nhau về việc sử dụng đất. Đất là nguồn
tài nguyên được sử dụng để thoả mãn nhu cầu cho những người có mối quan
hệ gắn bó với đất. Có những vấn đề ưu tiên trước mắt và có những vấn đề lâu
dài, tuỳ thuộc vào mục tiêu của từng người sử dụng đất, từ đó họ có những
- Điều kiện khí hậu: Đất đai, ngoài không gian bề mặt như đất trồng
trọt, đất xây dựng, còn gồm những yếu tố bao quanh mặt đất như ánh sáng,
nhiệt độ, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất. Đất đai vốn là một trạng
thái vật chất của tự nhiên. Do vậy, khi sử dụng đất phải tính đến việc thích
ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên.
- Điều kiện đất: Chủ yếu là điều kiện địa lý và thổ nhưỡng. Sự sai khác
giữa đá mẹ, địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng
dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn... dẫn tới sự khác nhau về đất đai
và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố ngành nông, lâm nghiệp,
hình thành sự phân dị địa hình theo chiều thẳng đứng của nông nghiệp. Địa
hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương hướng sử dụng đất và xây dựng đồng
ruộng để thuỷ lợi hoá và canh tác bằng máy móc, cũng ảnh hưởng đến sử
dụng đất nông nghiệp.[16]
Đặc điểm của nhân tố điều kiện tự nhiên nói trên là có tính khu vực.
Do vị trí địa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nguồn nước,
nhiệt độ, ánh sáng và các điều kiện tự nhiên khác của đất đai, ở một mức độ
tương đối lớn, chúng quyết định khả năng sử dụng của đất đai. Vị trí của đất
8
đai và mức độ thuận lợi, khó khăn, quyết định công dụng tối ưu và hiệu quả
sử dụng đất đai. Do vậy, trong quá trình thực tiễn nên sử dụng theo quy luật
tự nhiên, phục tùng điều kiện tự nhiên, lợi dụng thế mạnh, tận dụng mặt có lợi
để có thể đạt tới sử dụng đất với hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường
[22].
+ Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố xã hội chủ yếu là dân số và lực lượng lao động, nhu cầu của xã
hội, thông tin, quản lý, chế độ xã hội, chính sách môi trường và chính sách đất
đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng
hoá, cơ cấu kinh tế và bố cục sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất
dựng, nó cung cấp không gian mà không sản xuất ra sản phẩm cụ thể. Trên
thực tế, dù cho đất được dùng cho sản xuất hoặc phi sản xuất, nó đều cung
cấp khả năng phục vụ về không gian. Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt
bằng, đều là những nhu cầu không thể thiếu đối với ngành sản xuất vật chất
và phi sản xuất, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội đều cần đến.
Chính vì vậy, không gian cũng là một trong những nhân tố hạn chế đến sử
dụng đất.
Nhân tố không gian của đất đai có đặc tính là không thể thay thế và
cũng không thể dịch chuyển được. Từ đó, việc phân bổ sử dụng đất của con
người không thể vượt qua phạm vi giới hạn không gian hiện có. Điều này nói
10
lên rằng, theo đà phát triển của dân số và kinh tế - xã hội tác dụng hạn chế của
không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra.
Sự cố định bất biến của tổng diện tích đất đai, không chỉ hạn chế sự mở
rộng không gian sử dụng đất, mà còn qui định giới hạn thay đổi của cơ cấu
dùng đất. Do vậy, trong khi tiến hành điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, cần phải
chú ý tới yêu cầu của xã hội đối với loại đất và số lượng đất đai mà sản xuất
cần, đồng thời xác định sức sản xuất và diện tích cần có để đảm bảo sức tải
của đất đai [16].
1.1.2.3. Xu thế phát triển sử dụng đất
+ Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Qúa trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến sử dụng đất.
Khi con người còn sống trong phương thức săn bắn và hái lượm, họ chỉ có thể
dựa vào sự ban hưởng của tự nhiên, sự thích ứng với tự nhiên để tồn tại,
không tồn tại ý thức về sử dụng đất. Cho đến thời kỳ du mục, con người sống
trong những túp lều lợp bằng cỏ, những vùng đất có nước và có cỏ bắt đầu
được sử dụng. Đến sau khi xuất hiện ngành trồng trọt, nhất là sau khi đã xuất
hiện những công cụ sản xuất thô sơ, năng lực sử dụng đất được tăng cường,
diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, ý nghĩa kinh tế của đất
đai cũng gia tăng. Nhưng trình độ sử dụng đất lúc đó còn rất thấp, phạm vi sử
dụng đất còn nghĩ tới nhu cầu vui chơi văn hóa, thể thao và môi trường...[22]
+ Sử dụng đất đai theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá
sản xuất, một vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm là tiền
12
đề cho nơi khác sản xuất tập trung sản phẩm khác. Sự hỗ trợ bổ sung lẫn nhau
hình thành sự phân công hợp tác, sự xã hội hoá sản xuất này cũng là xã hội
hoá trong sử dụng đất.
Đồng thời do đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh
sống và xã hội tồn tại, trên cơ sở chuyên môn hoá của yêu cầu xã hội hoá sản
xuất, cần cố gắng thích ứng nhu cầu của xã hội, để thúc đẩy phúc lợi công
cộng và tiến bộ xã hội, cho dù ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì
lợi ích của tư nhân thì những vùng đất đai hướng dụng công cộng như : nguồn
nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, cầu cảng, hải cảng,
danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn động thực vật quý hiếm...đại bộ phận đều
do Nhà nước quy định chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh
doanh... để phòng ngừa việc tư hữu sẽ tạo nên mâu thuẫn xã hội.
Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội hoá
sản xuất, nó được quyết định bởi yêu cầu khách quan của xã hội hoá sản xuất,
cho nên xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu. Muốn kinh
tế phát triển, thúc đẩy cao hơn nữa xã hội hóa sản xuất, về cơ bản phải thực
hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất [22].
1.1.2.4. Sử dụng đất đai bền vững với các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường
+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu kinh tế
Sử dụng đất đai bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu
kinh tế trong sử dụng đất đai giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn,
có lúc trùng với nhau và có lúc không trùng nhau.
Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất đai của mình luôn đặt ra mục
tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng. Nếu thấy việc đó không có lợi
mới của xã hội về nông sản, thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác [22].
+ Sử dụng đất đai bền vững với mục tiêu môi trường
Đối với bất kỳ vùng nào, một quốc gia nào trong sử dụng đất đai gắn
với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu
chung và mục tiêu riêng. Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và
mục tiêu về môi trường. Các tiêu chuẩn và mục tiêu này thường được thành
lập dựa trên thuật ngữ hoá học, vì nó liên quan đến sức khoẻ và thế hệ mai
sau. Việc nhìn nhận "môi trường" không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu
chuẩn về hoá học, đất nước phong cảnh thiên nhiên... là các tài sản có giá trị.
Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu
quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Hơn nữa, mục tiêu môi trường ngoài những quan tâm chung mang tính
toàn cầu, thì mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh của mình có
những quan tâm riêng, song quan trọng hơn đó là lũ lụt, hạn hán, động đất,
sóng thần...[22].
Việc đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai theo quan điểm sinh thái bền
vững [4]. Những đánh giá tổng quát về môi trường và hiện tượng suy thoái
đất có liên quan tới các điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất [8]. Những
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam đã phản
ánh được nhiều vấn đề về môi trường, nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược,
cũng như các giải pháp khắc phục cho sử dụng đất trên quan điểm sinh thái
lâu bền [13].
2.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
15
2.2.1. Những nghiên cứu về sử dụng đất bền vững một số nước trên thế giới.
Để duy trì được khả năng bền vững đối với đất đai Smyth A.J và
J.Dumanski (1993) [29] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng
đất bền vững đó là:
- Duy trì, nâng cao các hoạt động sản xuất
nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị ngày càng nhanh về tài
nguyên tự nhiên làm cho giá thành sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng
nhanh, theo Z.Tang [19] tốc độ tăng thu nhập của nông thôn giảm dần (từ
3,09% năm 1980 xuống 2,47 % năm 1997), ngày càng tụt hậu so với mức
tăng ngày càng nhanh của thu nhập cư dân thành phố. Khoảng cách chênh
lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng xa nhau... năm 1978
cư dân thành phố chiếm 18% dân số cả nước và có thu nhập chiếm 34% tổng
thu nhập cả nước, năm 1996 tỷ lệ dân số thành phố tăng lên 28% nhưng
chiếm tới 50% tổng thu nhập cả nước”. Thu nhập bình quân đầu người ở 10
thành phố lớn của Trung Quốc từ năm 1997 đến 1999 tăng từ 2.490 USD lên
2670 USD/năm, trong khi thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn cùng
giai đoạn giảm từ 966 xuống 870 USD/năm.
Đối với đất nông nghiệp, Luật đất đai hiện nay của Trung Quốc
(Điều 31) [28] quy định “Nhà nước bảo hộ đất canh tác, khống chế nghiêm
ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác”
Mỗi một giai đoạn thăng trầm của lịch sử kinh tế, chính trị, xã hội
Trung Quốc đều ẩn chứa sự thành bại bởi tác động của một cơ chế, chính sách
17
về nông nghiệp nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng. Song, những
hậu quả tác động của quá trình chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất công
nghiệp và đất ở đến đời sống xã hội Trung Quốc là rất lớn. Chính sách “…
khống chế nghiêm ngặt chuyển đất canh tác thành phi canh tác” tại Trung
Quốc ra đời chậm hơn một số nước trong khu vực; song đã thu được nhiều
thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
2.2.1.2. Nhật Bản
Nhật Bản là một nước tiến hành cải cách kinh tế sớm nhất ở Châu Á,
quá độ từ nền kinh tế phong kiến tiểu nông lên công nghiệp hoá. Trải qua một
thế kỷ phát triển, Nhật đã trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại nhưng
đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính
chất của nền văn hoá lúa nước, đặc điểm này rất giống với Việt Nam.
nghiêm trọng, hơn 3 triệu người chết đói, kết cấu hạ tầng bị huỷ hoại, tài
chính bị thiếu hụt, lạm phát phi mã...; Nhật Bản đã tiến hành một loạt các cải
cách kinh tế, trong đó có cải cách ruộng đất, hình thành thị trường đất
đai...Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách kích thích (kích cầu) nền kinh tế
phát triển, trong đó, chính sách kích cầu cơ bản nhất là tăng thu nhập và lương
cho người tiêu dùng nông thôn. Đây là chiến lược phát triển nông nghiệp áp
dụng rất thành công, biến nông thôn thành thị trường to lớn cho hàng hoá
công nghiệp.
Cuối những năm của thập kỷ 1960, mức phát triển nhanh của công
nghiệp hoá của Nhật đã thu hút hết lao động dư thừa ở nông thôn. Tuy nhiên,
công nghiệp nặng làm tăng chi phí chống ô nhiễm môi trường, mặt khác, lệ
thuộc nước ngoài về năng lượng, nguyên liệu thì phát triển công nghiệp nặng
19
và hoá chất sẽ không bền vững; Nhật Bản đã chuyển hướng sang phát triển
công nghiệp quy mô nhỏ, thu hút nhiều chất xám, sử dụng nhiều vốn.
Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP dần dần “nhường chỗ” cho công
nghiệp và dịch vụ phát triển; từ đó kết cấu kinh tế Nhật Bản đã chuyển dịch
nhanh và vững chắc sang công nghiệp.
Với chính sách tiết kiệm đất triệt để, chính sách bảo hộ sản xuất nông
nghiệp đồng nghĩa với sự hạn chế tối đa chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất
công nghiệp và đất ở, các cơ chế chính sách uyển chuyển phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, nông nghiệp Nhật Bản đã tác động
một cách tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản.
2.2.1.3. Đài Loan
Quá trình phát triển xã hội trước đây cũng giống với giai đoạn phát
triển hiện nay của Việt Nam, tức là nền nông nghiệp là chính. Vào cuối thế kỷ
XIX, cải cách ruộng đất ở Đài Loan được tiến hành. Quyền sử dụng đất
chuyển từ địa chủ thu tô sang chủ đất thực sự quản lý đất đai. Nông nghiệp
cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh,
chuyên sâu và nông nghiệp thực sự là nền tảng vững chắc cho sự phát triển
tập trung phát triển cơ sở hạ tầng (hệ thống: giao thông đường bộ, đường sắt,
thuỷ lợi, thông tin liên lạc, mạng lưới điện...) và hoàn thành vào cuối thập kỷ
1980. Chính phủ nắm 100% vốn kinh doanh sản xuất điện, thực hiện điện khí
hoá toàn quốc. Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, cho phép phân bổ sản xuất
công nghiệp trên toàn lãnh thổ. Nhờ đó, phân tán mạnh công nghiệp về nông
thôn. Một số lớn nhà máy liên doanh với nước ngoài được đầu tư để tận dụng
21
nguồn nhân công rẻ. Đây là những yếu tố quyết định tạo nhiều việc làm ở
nông thôn.
Giữa Đài Loan và Trung Quốc về lịch sử chung một cội nguồn; song,
với chính sách sử dụng đất đai khác nhau, các tác động của các chính sách
này đã mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển dịch đất nông
nghiệp sang đất công nghiệp đã được định hướng về nông thôn đã mang lại
hiệu quả vô cùng to lớn ngay trong cả ngắn hạn dài hạn cho nền kinh tế đất
nước.
Thực tế trên đã cho thấy: chính sách phát triển nông nghiệp (trong đó
có sử dụng đất nông nghiệp hay chuyển dịch đất nông nghiệp) thích hợp đã
tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia có xuất phát
điểm từ một nền kinh tế nông nghiệp; ngược lại, sẽ phải gánh chịu một hậu
quả nghiêm trọng cho nền kinh tế xã hội.[18]
2.2.2. Nghiên cứu trong nước về sử dụng đất bền vững
2.2.2.1. Chiến lược sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Tổng diện tích đất của Việt Nam vào khoảng 33 triệu ha. Trong đó
khoảng gần 2 triệu ha thuộc các thành phố và thị xã, khu dân cư nông thôn và
chuyên dùng, khoảng 9 triệu ha là đất sản xuất nông nghiệp nằm chủ yếu ở
các vùng đồng bằng và trung du, khoảng 630.000 ha được dùng cho nuôi
trồng thuỷ sản, 12 triệu ha là đất rừng. Hơn 9 triệu ha còn lại là đất chưa sử
dụng gồm chủ yếu là đồi trọc và đất trống.
Chủ trương của Chính phủ Việt nam là sử dụng đất có hiệu quả và sự
cần thiết phải có tầm nhìn lâu dài. Chính phủ cũng luôn chú ý đến các nhu cầu
Đối với đất nông nghiệp, việc quản lý được đổi mới theo hướng tăng
dần quyền chủ động cho người sử dụng đất bắt đầu bằng chỉ thị 100 (1981)
của Ban Bí thư Trung ương về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản
phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp. Chỉ thị 100 về cải tiến
công tác khoán đã làm thay đổi cơ chế quản lý HTX, tạo động lực khuyến
khích lợi ích vật chất đối với người nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tư
thêm công sức, tiền vốn, vật tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tận dụng đất đai để
phát triển sản xuất. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế
trong nông nghiệp được ban hành năm 1988 nhằm vào giao khoán ổn định
ruộng đất cho nông dân (15 năm), người nông dân được chủ động thực hiện
các khâu canh tác, ngoài các chi phí dịch vụ cho HTX, thuế cho nhà nước, xã
viên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.[5]
Chính sách đất đai đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích đất nông
nghiệp nhờ khai hoang phục hoá, chuyển một số diện tích có khả năng sang
đất sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa việc chuyển đất nông nghiệp sang đất
phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ) nhờ đó diện tích đất cho
sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) đã tăng từ 6,9
triệu ha lên 9,4 triệu ha (tăng 2,41 triệu ha), đất lâm nghiệp từ 9,3 triệu ha lên
12,1 triệu ha trong thời gian 1990 – 2002 góp phần tăng thêm nguồn lực và tư
liệu sản xuất cho nông nghiệp.
Thời gian 1981 – 1985, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị 29
CT/TW ngày 21/11/1983, chỉ thị 36 CT/TW ngày 19/1/1985. Nội dung 2 chỉ
thị này đã khẳng định chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ nông dân ...Mặc
dầu chưa có nhiều thay đổi lớn trong chính sách đất đai nhưng việc bước đầu
24
gắn lợi ích của nông dân với hiệu quả sử dụng đất đã tạo ra sự thay đổi lớn
trong hiệu quả sử dụng đất và phát triển nông nghiệp. Trong 5 năm (1981 –
1985), sản lượng lương thực quy ra thóc cả nước tăng 27% năng suất lúa tăng
23,8%, diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1%... Năm 1988, Bộ
chính trị ban hành Nghị quyết 10 – NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý trong