Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
- 1 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế
giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn phát triển của từng
quốc gia . Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với các nước đang phát triển trong
quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam chúng ta cần
lựa chọn cho mình một hướng đi riêng trên cơ sở kế thừa những bài học kinh
nghiệm quý báu của các nước đi trươc, tiếp thu những tiến bộ về khoa học kĩ
thuật của thế giới và vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện thực tế của nước
ta. Làm được điều đó không phải là đơn giản, chúng ta phải xây dựng cho mình
một hệ thống phát triển kinh tế - xã hội hợp lý, nhạy bén; các bộ phận cấu thành
hệ thống kế hoạch hóa phải có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng vẫn
phát huy được vai trò của mình.
Là một bộ phận của hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoach
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng một vai trò quan trọng không thể phủ
nhận được. Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được thực hiện một cách
có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra sẽ góp phần không nhỏ vào việc đạt được mục
tiêu của kế hoạch tổng thể nói riêng và mục tiêu phát triển bền vững nói riêng.
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Có nội dung như thế nào? Tình hình thực hiện bản kế hoạch này tính đến hết quý
III năm 2007 ra sao? những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện kinh doanh
chuyển dịch cơ cấu ngành là gì? Chúng ta có khả năng hoàn thiện bản kế hoạch
này hay không? Để trả lời những câu hỏi đó tôi xin phép chọn đề tài “Kế hoạch
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện
mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010”
cho bài đề án môn Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội của mình.
- Cơ cấu ngành - xét dưới giác độ phân công sản xuất;
- Cơ cấu vùng - xét dưới giác độ hoạt động kinh tế - xã hội theo lãnh
thổ;
- Cơ cấu thành phần kinh tế - xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở
hữu;
- Cơ cấu đối ngoại - xét trình độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế;
- Cơ cấu tích lũy - xét tiềm năng để phát triển kinh tế…
- 3 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi đánh giá sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế người ta thường tập trung đánh
giá sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành
phần kinh tế vì đây là những cơ cấu mang tính chất tổng hợp của nền kinh tế.
Trong đó, cơ cấu ngành có vai trò quan trọng nhất, sự biến động của nó có ý
nghĩa quyết định đến sự biến động của nền kinh tế vì nó trực tiếp giải quyết mối
quan hệ cung - cầu trên thị trường, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
II. Cơ cấu ngành kinh tế và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong quá trình phát triển.
1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế.
1.1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể
hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các
ngành với nhau. Các quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế
- xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể.
Xét về mặt lý thuyết, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện cả hai mặt định lượng cũng
như định tính. Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng chiếm về GDP, lao
động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Trong khi đó, mặt
định tính lại thể hiện vị trí và tầm quan trọng của mỗi ngành trong hệ thống kinh
tế quốc dân. Các nước đang phát triển có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế dựa
vào nông nghiệp là chủ yếu thì tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của các nước
38
52
68
57
Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới 2005, Ngân hàng Thế giới
- 4 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự
chuyển đổi theo một xu hướng chung là tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm
đi, trong khi đó tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
lên.
1.2. Những nội dung của cơ cấu ngành kinh tế.
Thứ nhất là số lượng các ngành kinh tế được hình thành. Số ngành kinh tế không
cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã
hội. Nhà kinh tế học Collin Clark căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá của sản
xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: Ngành thứ nhất sản xuất những sản phẩm dựa
trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên, bao gồm nông nghiệp và công nghiệp
khai thác. Ngành thứ hai có chức năng gia công và chế biến sản phẩm có nguồn
gốc từ ngành thứ nhất, đó là ngành công nghiệp chế biến. Hai ngành này đều là
những ngành sản xuất của cải vật chất hữu hình. Còn ngành thứ ba là ngành sản
xuất các sản phẩm vô hình. Cách phân loại của Clark có ảnh hưởng rộng rãi và
đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nước. Tuy vậy cũng có nhiều cách phân loại
khác nhau. Để thống nhất cách phân loại ngành, Liên Hợp Quốc đã đưa ra cách
phân loại các ngành theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo tiêu chuẩn này, có thể gộp các
ngành phân loại thành ba khu vực. Khác với cách phân loại của Clark, theo tính
chất công việc Liên Hợp Quốc xếp công nghiệp khai thác vào khu vực II – là khu
vực công nghiệp. Như vậy, khu vực I là khu vực nông nghiệp và khu vực III là
khu vực dịch vụ.
Kế đến, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành
trình phân phối và trao đổi. Không có sản phẩm hàng hóa thì không có cơ sở cho
sự tồn tại của các hoạt động dịch vụ. Sản xuất hàng hóa càng phát triển thì đời
sống nhân dân càng được nâng cao, nhu cầu dịch vụ càng lớn. Như vậy, sự tác
động qua lại giữa các ngành tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
Mối quan hệ của các ngành cả về số lượng và chất lượng đều thường xuyên biến
đổi và ngày càng trở nên phức tạp theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế.
2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa nghiên cứu của nó.
2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái
này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và
điều kiện phát triển. Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số
lượng các ngành, tỷ trọng mỗi ngành mà còn còn bao gồm sự thay đổi về vị trí,
tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành
phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo
cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn
thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Thực chất của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự phát triển không đều giữa
các ngành. ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền
kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và nghiên cứu lại, ngành có tốc độ phát triển thấp hơn
sẽ giảm tỷ trọng. Nếu tất cả các ngành có tốc độ tăng trưởng như nhau thì tỷ
- 6 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành.
Nhưng trong thực tế điều này ít xảy ra. Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành
kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự chuyển đổi theo xu hướng tỷ trọng của ngành
nông, lâm nghiệp và thủy sản ngày càng giảm trong khi tỷ trọng của các ngành
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
Tỷ trọng kỳ sau = Tỷ trọng kỳ trước ngành X x Tốc độ phát triển của X
Tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ) là một trong những tiêu chí đầu tiên thường được dùng để đánh giá quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế.
Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu ngành, việc phân tích cơ cấu các
phân ngành (cấp II, cấp III…) có một ý nghĩa rất quan trọng. Thông thường, cơ
cấu ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của
nền kinh tế. Ví dụ, trong khu vực công nghiệp, những ngành công nghiệp chế
biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí
chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hóa mỹ phẩm… chiếm tỷ trọng cao sẽ
chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao hơn so với
những lĩnh vực khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghiệp lắp ráp… Trong khu
vực dịch vụ, những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại
như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, viễn thông, hàng không… chiếm tỷ trọng rất
cao sẽ rất khác bới những lĩnh vực dịch vụ phục vụ sinh hoạt dân cư với công
nghệ thủ công hoặc trình độ thấp, quy mô nhỏ lẻ.
3.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế.
Cơ cấu lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh
sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh tế - xã hội của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành được đánh gía cao và coi
trọng hơn vì chỉ tiêu này không chỉ phản ánh xác thực hơn mức độ chuyển biến
sang xã hội công nghiệp của một đất nước, mà nó còn ít bị ảnh hưởng bởi các
nhân tố bên ngoài trong khi cơ cấu GDP lại chịu ảnh hưởng của tình trạng méo
mó về giá cả. Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu lao động thậm chí còn
được một số nhà kinh tế xem như chỉ tiêu quyết định nhất để đánh giá mức độ
thành công của quá trình công nghiệp hóa trong nghiên cứu so sánh giữa các nền
kinh tế.
4. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong qúa trình phát triển.
Cơ cấu ngành kinh tế có thể được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Nếu xem
xét dưới góc độ các yếu tố đầu vào thì ta có cơ cấu lao động, cơ cấu kĩ thuật .
giảm xuống tất yếu dẫn đến tỉ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế sẽ giảm đi.
Thực tế ở các nước phát triên đã chứng minh, thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu
cho hàng tiêu dùng tăng phù hợp với tốc độ tăng của thu nhập, còn chi tiêu cho
hàng hóa cao cấp thì có tốc độ tăng nhanh hơn.
Tuy tất cả các nước có xu hướng chuyển dịch cơ cấu như nhau nhưng tốc độ
chuyển dịch lại không giống nhau vì bị chi phối bởi các yếu tố khác về tự nhiên,
nhân lực, điều kiện kinh tế, kĩ thuật và văn hóa mỗi nước. Ở Việt Nam trong
khoảng 20 năm trở lại đây, cùng với việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh,
cơ cấu ngành cũng có sự chuyển dịch đáng kể. Nhìn chung sự thay đổi này phù
hợp cới xu hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của công
nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế. Điều này làm cho GDP của Việt
- 9 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nam tăng liên tục với tốc độ khá cao trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa.
Ngành nông nghiệp trong khoảng 15 năm trở lại đây đã giảm đi 17% trong cơ
cấu ngành (từ 38,74% năm 1990 xuống còn 20,9% năm 2005), công nghiệp và
xây dựng đã tăng thêm tương ứng ( từ 22,67% năm 1999 lên 41,0% năm 2005).
Tuy vậy, ngành dịch vụ trong 15 năm qua nhìn chung không có sự biến đổi tích
cực, có biẻu hiện giảm về tỷ trọng (năm 1999 là 38,59% đến năm 2005 chỉ còn
38,1%). Hạn chế này cùng với những yêu cầu về sự điều chỉnh nhất định trong
nội bộ ngành nông nghiệp, công nghiệp chính là những nhiệm vụ đặt ra nhằm
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nước ta trong thời gian tới.
Song song với sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo GDP là sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế theo việc phân bố lao động. Trong quá trình phát triển, việc tăng
cường sử dụng máy móc và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện nâng
cao năng suất lao động. Kết quả là xã hội không cần đến lực lượng lao động như
cũ mà vẫn đảm bảo được lương thực, thực phẩm, điều đó có nghĩa là tỉ lệ lao
động trong nông nghiệp sẽ giảm. Ngược lại, tỉ lệ lao động được thu hút vào công
nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng do tính co dãn về nhu cầu sử dụng sản phẩm
- Xác định các điều kiện, yếu tố và các quan điểm chi phối sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Đây chính là cơ sở để đưa ra các hướng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Nó bao hàm các vấn đề về kinh tế- xã hội, khoa
học, công nghệ, các mối quan hệ kinh tế quốc tế và các nguồn lực
của đất nước.
- Xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cụ thể hóa bằng các
quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sao cho đảm bảo phù hợp với xu thế
biến đổi chung và phản ánh được đặc điểm của nền kinh tế trong
những điều kiện cụ thể.
- Xác định hướng huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào đặc biệt là
cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu lao động nhằm đảm bảo được cơ cấu
đầu ra theo hướng đã xác định.
- Đề xuất các chính sách, biện pháp kinh tế - xã hội xần thiết để
hướng dẫn hoạt động nền kinh tế sao cho đáp ứng được các yêu cầu
của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.- 11 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Đánh giá thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của
Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010.
1. Những thành tựu và tồn tại của công cuộc chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005.
1.1. Cơ cấu GDP
2001-2005 là giai đoạn mà nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển
tương đối ổn định và bền vững. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 -
2005) tăng bình quân 7,5%/năm (đạt kế hoạch đề ra). Năm 2005, GDP theo giá
hiện hành đạt 839 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương
đương khoảng 640 USD). Tuy nhiên, đây mới chỉ là những con số thống kê sơ
bộ, khái quát để hiểu rõ sự phát triển của nền kinh tế VN trong 5 năm 2001- 2005
38 - 39 38,1 38,5 39,5 40,2 41,0
- Dịch vụ 41 - 42 38,6 38,5 38,0 38,0 38,1
Nguồn: tổng hợp số liệu từ Tổng cục Thống kê
- 12 -
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cơ cấu ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Tỷ trọng của khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản thì giảm dần trong khi
tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ thì tăng lên đáng kể. Năm 2001, tỷ
trọng của khu vực nông nghiệp là 23,3% nhưng đến năm cuối cùng của kỳ kế
hoạch 5 năm, năm 2005 thì tỷ trọng của ngành này chỉ còn có 20,9%. Như vậy
sau 5 năm, tỷ trọng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,4%. Trái
ngược với sự giảm xuống về tỷ trọng của ngành nông nghiệp là sự tăng lên về tỷ
trọng của ngành công nghiệp và xây dựng. Từ 38,1% năm 2001 đến năm 2005
con số này đã là 41%, tăng 2,9% (vượt chỉ tiêu kế haọch đề ra. Ngành dịch vụ
vẫn giữ được vị thế quan trọng của mình khi chiếm tới 38,1% trong GDP, vượt
xa đóng góp của khu vực nông nghiệp và gần bằng tỷ trọng của công nghiệp.
Xét về mối quan hệ tương quan giữa các ngành, chúng ta có thể thấy, ngành công
nghiệp và xây dựng là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và cao nhất
10,2%, gấp 1,36 lần mức tăng GDP của toàn nền kinh tế (7,5%) và gấp 2,7 lần
ngành nông nghiệp. Ngành dịch vụ có mức tăng xấp xỉ mức tăng GDP của cả
nền kinh tế nên tỷ trọng không đổi, duy trì ở mức 38%. Dù đạt tốc độ tăng trưởng
gần gấp 3 lần so với ngành dịch vụ, nhưng vì quy mô tuyệt đối nhỏ hơn, nên mức
độ thay đổi tương quan tỷ lệ giữa hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp không
nhanh tương ứng với mức tăng trưởng công nghiệp.
Sự tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp và một số ngành dịch vụ đã tạo
nên sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế, bước đầu hình thành được một số
ngành, sản phẩm quan trọng tạo động lực cho phát triển như: công nghiệp dầu
khí, sản xuất thép, xi măng, cơ khí đóng tàu, lắp ráp ô tô, xe máy...