Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh - Pdf 29

lời mở đầu
Là một nớc đang phát triển, xuất phát điểm với một nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu. Đảng và nhà nớc ta đã đề ra những chính sách để từng bớc cải thiện nền
kinh tế nớc nhà và tiến tới một xã hội văn minh phồn thịnh hơn- xã hội XHCN.
Giữ vai trò vô cùng quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đó là: "Nguồn vốn". Mỗi năm chúng ta cần hàng
chục tỷ đồng vốn dài hạn phục vụ đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công
nghệ, phát triển nguồn lực sản xuất, hàng trăm tỷ đồng vốn ngắn hạn phục vụ sản
xuất và lu thông hàng hoá. Thực tế chứng minh rằng, hệ thống các NHTM và các
tổ chức trung gian tài chính đã, đang và sẽ giữ vai trò nh một "Bà đỡ" đối với nền
kinh tế. Với phơng trâm: "đi vay để cho vay", các NHTM và các tổ chức trung
gian tài chính đã và đang ra sức huy động mọi nguồn vốn đầu t trong và ngoài nớc
để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Mặc dù hoạt động của các NHTM rất phong
phú, đa dạng và chắc chắn sẽ còn phát triển hơn nữa, nhng chúng ta không thể phủ
nhận vai trò nòng cốt của hoạt động tín dụng- một trong những hoạt động truyền
thống của các NHTM. Tuy nhiên, mặt trái của nó, luôn tồn tại song hành với hoạt
động tín dụng đó là: "rủi ro". Vâng luôn tiềm ẩn một tỷ lệ rủi ro rất cao, là đặc tr-
ng cơ bản nhất của hoạt động kinh doanh tín dụng.
Nhận biết đợc sự nguy hiểm của rủi ro tín dụng, nên phòng ngừa và hạn chế
rủi ro tín dụng luôn đợc các NHTM và các tổ chức trung gian tài chính quan tâm,
thậm chí đầu t cho việc hoàn thiện các chính sách này còn đợc đặt lên hàng đầu.
Qua thời gian thực tế, đợc sự giúp đỡ của NHNo Huyện Tiên Du, em xin mạnh
dạn nghiên cứu đề tài: "Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
tại NHNo&PTNT Huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh". Chuyên đề nghiên
cứu gồm 3 chơng:
Ch ơng 1 . Những vấn đề cơ bản về TDNH và rủi ro trong hoạt động kinh
doanh tín dụng tại NHTM.
1
Ch ơng 2 . Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại NHNo&PTNT huyện Tiên du - tỉnh Bắc ninh.
Ch ơng 3 . Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng

vụ mới cho tới sự xuất hiện của các tập đoàn ngân hàng có quy mô toàn cầu đợc
tạo ra từ làn sóng sáp nhập, hợp nhất...Và tất nhiên hoạt động TDNH cũng không
3
ngừng phát triển, các mục tiêu luôn đợc đề ra, các chính sách ngày càng hoàn
thiện để hoạt động TDNH đạt kết quả tốt nhất.
1.1.2. Bản chất của TDNH.
Để hiểu về bản chất của TDNH, trớc tiên ta đi tìm hiểu Tín dụng là gì? Tín
Dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân
hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các
chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Nh vậy từ đây ta có thể thấy về bản chất của TDNH đó là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trng sau:
a/ Tài sản giao dịch trong quan hệ TDNH bao gồm 2 hình thức là cho vay
(bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm 1960 trở về
trớc, hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền mặt, xuất phát từ
những đặc thù đó mà đôi khi Tín dụng và cho vay đợc coi là đồng nghĩa. Tuy
nhiên từ những năm 70 trở lại đây, dịch vụ cho thuê tài chính đã đợc các ngân
hàng và các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng.
b/ Trên nguyên tắc hoàn trả, vậy nên khi chuyển giao tài sản cho ngời đi vay
sử dụng, ngời cho vay phải có cơ sở để tin rằng mình sẽ đợc hoàn trả đúng hạn.
Đây là yếu tố cơ bản trong quan hệ tín dụng.
c/ Giá trị hoàn trả thông thờng sẽ phải lớn hơn giá trị khi cho vay, để thực
hiện đợc nguyên tắc này, phải xác định đơc lãi xuất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm
phát.
1.1.3. Chức năng của TDNH.
Bất kỳ nền sản xuất nào, chế độ kinh tế nào thì trong xã hội cũng luôn có
những nguồn vốn tạm thời nhàn dỗi và ở những chủ thể khác lại có nhu cầu về
vốn. Tuy nhiên không phải lúc nào họ cũng tìm đến đợc với nhau, và không ai

*Căn cứ vào đối tợng cấp tín dụng:
- Tín dụng vốn cố định: là loại hình tín dụng mà chi phí cho việc đầu t gắn
liền với tài sản cố định. Cấp tín dụng diễn ra trên cơ sở xác định đợc tài sản đó rồi
mới đầu t.
- Tín dụng vốn lu động: là loại hình tín dụng ngắn hạn (< 12 tháng), đáp ứng
nhu cầu về tài sản lu động cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.
* Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn đợc xác định từ một
năm trở xuống, đợc thực hiện chủ yếu dới hình thức bằng tiền (chiết khấu, thấu
chi, ứng trớc).
- Tín dụng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng từ 1đến 5 năm. Vốn mà ngân
hàng đa ra đợc cấu tạo vào tài sản, cho vay trung hạn nhằm khai thác những năng
lực tài sản cố định hiện có và có phần mua sắm tài sản cố định.
- Tín dụng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
* Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng: Tín dụng đợc chia thành tín dụng trực tiếp
và tín dụng gián tiếp. Trong tín dụng ngắn hạn thì tín dụng gián tiếp chiếm đa
phần.
* Căn cứ vào phơng thức thanh toán: Tín dụng đợc chia thành tín dụng trả
một lần và tín dụng trả góp. Tín dụng trả một lần là loại hình tín dụng mà khách
hàng mang trả số tiền vay của ngân hàng một lần trong thời gian đã thoả thuận,
còn tín dụng trả góp là hình thức mà khách hàng trả phần vốn gốc đã vay của ngân
hàng cho ngân hàng làm nhiều lần.
1.1.5. Vai trò của TDNH.
Trong các tổ chức trung gian tài chính, các ngân hàng thơng mại giữ vị trí
quan trọng nhất cả về quy mô lẫn tính đa dạng trong hoạt động. Điều đó đợc thể
hiện rõ nét ở vai trò vô cùng to lớn của TDNH:
- TDNH là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả nhất. Xuất phát từ cơ chế quản lý
tín dụng chặt chẽ, từ khâu thẩm định cho vay đến giám sát, quản lý tín dụng.
6
- TDNH là công cụ của nhà nớc điều tiết khối lợng tiền tệ trong nền kinh tế,

Chính vì vậy, việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động TDNH là một vấn
đề rất đợc quan tâm.
1.2. Rủi ro trong hoạt động của NHTM.
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng:
Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trờng là một hoạt
động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế-xã hội đều nhanh chóng tác
động đến hoạt động của ngân hàng, nó có thể gây xáo chộn bất ngờ và dẫn đến sự
giảm xút trầm trọng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy
hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro "tiềm ẩn", nó có
thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vậy rủi ro là gì?
Rủi ro là những thiệt hại tiềm tàng ngoài ý muốn của các ngân hàng.
Rủi ro mà các NHTM thờng đề cập đến bao gồm:
-Rủi ro tín dụng: là rủi ro cần đợc đề cập trớc tiên đối với ngân hàng, Ngân
hàng cho vay và đầu t chứng khoán. Khi ngời vay không thể thanh toán đợc vốn và
lãi, những khoản cho vay, đầu t không thể thu hồi này sẽ dần dần ăn mòn hết vốn
của ngân hàng. Bởi vì vốn tự có của ngân hàngthờng thấp hơn 10% các khoản cho
vay và đầu t chứng khoán nên chỉ cần một lợng nhỏ các khoản vay và đầu t không
thể thu hồi đợc thì vốn của ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm không đủ để
gánh chịu thêm bất kỳ khoản lỗ nào khác.
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng do biến động về
lãi suất trên thi trờng. Ngân hàng sẽ phải đơng đầu với rủi ro trong mức chênh lệch
lãi suất, đó là do sự không cân xứng về thông tin.
- Rủi ro hối đoái: là những khoản thiệt hại mà các ngân hàng phải gánh chịu
do sự thay đổi về tỷ giá hối đoái. Các ngân hàng thờng phải đối mặt với rủi ro về
hối đoái trong các giao dịch ngoại tệ. Những đồng tiền đợc giao dịch nhiều nhất
luôn thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trờng. Ngân hàng kinh doanh trên
8
cơ sở đồng tiền này cho mình và cho khách hàng luôn phải đối mặt với các rủi ro
về thay đổi bất lợi trong tỷ giá.
- Rủi ro thanh khoản: là rủi ro xảy ra khi nguồn vốn (bằng tiền) của Ngân

nhất quán, hay thay đổi làm cho các chủ thể trong nền kinh tế có phần khó khăn,
có thể gặp rủi ro.
* Tác động từ nền kinh tế.
- Chu kỳ kinh tế: khi chu kỳ kinh tế diễn ra đều đặn ở một mức nhất định sẽ
giúp ngân hàng hoạt động ổn định, tỷ lệ rủi ro thấp. Khi chu kỳ kinh tế ở mức quá
cao hay quá thấp thì sẽ làm cho hoạt động của ngân hàng gặp khó khăn.Đặc biệt
nếu chu kỳ kinh tế không ổn định, đột ngột tăng hoặc đột ngột giảm sẽ làm cho
các NHTM gặp rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh cuả mình.
- Lãi suất của ngân hàng: khi lãi suất của thị trờng tăng làm cho gia trị của d
nợ và nguồn đều giảm và ngợc lại, lãi suất thị trờng giảm làm cho d nợ và nguồn
đều tăng. Đối với một ngân hàng có cơ cấu d nợ và các khoản vay dài hạn có tài
sản thế chấp với lãi suất cố định trong khi vốn huy động lại có kỳ hạn ngắn thì
ngân hàng có thể bị tổn thất nặng nề về tài sản khi lãi suất thị trờng tăng lên.
- Tỷ giá hối đoái: Ngày nay những ngân hàng lớn phải đối mặt với rủi ro hối
đoái trong các giao dịch ngoại tệ, những đồng tiền đợc giao dịch nhiều nhất luôn
thay đổi theo điều kiện, tình hình trên thị trờng. Ngân hàng kinh doanh trên cơ sở
những đồng tiền này phải đối mặt với các rủi ro về sự thay đổi bất lợi trong tỷ giá.
- Tỷ lệ lạm phát: Nền kinh tế luôn có một tỷ lệ lạm phát nhất định, điêu đó sẽ
là động lực cho nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên nếu tỷ lệ lạm phát tăng quá cao
hoặc giảm quá thấp đều làm cho giá trị tiền tệ bị ảnh hởng, chắc chắn sẽ tác động
mạnh đến hoạt động của ngân hàng.
- Nguyên nhân xã hội: do nối sống, sở thích tiêu dùng, tâm lý sống, phong
tục tập quán, tháp dân số... tất cả đều tác động đến hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng. Nếu không tìm hiểu kỹ tất cả những đặc điểm này, thì ngân hàng cũng
dễ bị thất bại trong kinh doanh.
- yếu tố công nghệ: Đây là một yếu tố cũng rất quan trọng đối với hiệu quả
hoạt động kinh doanh cuat mỗi ngân hàng. Nếu công nghệ cao thì nó sẽ góp phần
10
nâng cao hiệu quả làm việc. Ngợc lại nếu ở một đơn vị nào công nghệ còn lạc hậu
thì có thể bị hạn chế về việc tiếp cận khách hàng, phân tích đánh giá khách hàng,

Nh ta đã biết ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, chỉ cần
một biến động nhỏ trong nền kinh tế cũng ảnh hởng tới hoạt động của các ngân
hàng, và ngợc lại khi các ngân hàng có vấn đề nhỏ sẽ ngay lập tức tác động đến
các chủ thể khác trong nền kinh tế, nh vụ việc của ngân hàng á châu chẳng hạn,
chỉ vì một thông tin thất thiệt nào đó mà làm cho ngân hàng chút nữa thì mất khả
năng thanh toán, còn ngời dân thì bất an khi có quan hệ với ngân hàng và đồng
loạt đến rút tiền. Đặc biệt với vai trò quyết định sự sống còn của các NHTM, nếu
TDNH gặp rủi ro thì nó sẽ để lại hậu quả khôn lờng.
* Đối với bản thân ngân hàng:
- Trớc tiên đó là thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút, thậm trí
thua lỗ. Sau đến là vấn đề uy tín, khi một ngân hàng hoạt động không có hiệu quả,
uy tín sẽ bị suy giảm trầm trọng, khách hàng ồ ạt đến rút tiền, hoặc không đầu t
tiếp nữa. Ngân hàng sẽ không có nguồn để kinh doanh, hoặc thiếu nguồn làm cho
hoạt động bị gián đoạn, có khi còn bị ngừng lại dẫn đến thua lỗ, thu nhập của nhân
viên bị giảm sút, họ sẽ không có đủ điều kiện công tác tốt, không thể cống hiến
hết mình cho cơ quan đợc, đây lại càng là nguyên nhân làm cho hoạt động của
ngân hàng đi hết khó khăn này đến khó khăn khác. Nếu không có một quyết định
bình tĩnh, đúng đắn sẽ làm cho ngân hàng rất dễ đi vào thế bế tắc.
* Đối với nền kinh tế:
Có nhà kinh tế đã từng nói nếu nền kinh tế là một cơ thể sống thì hệ thống
ngân hàng đợc coi là mạch máu. Khi rủi ro tín dụng xảy ra nó không chỉ thiệt hại
cho bản thân, mà còn để lại hậu quả vô cùng to lớn đối với nền kinh tế. Có thể chu
kỳ kinh tế sẽ bị biến đổi, lạm phát gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình
trệ do không có đủ nguồn vốn, hoặc nữa là có thể do không tin tởng vào ngân hàng
mà ngời dân giữ tiền trong nhà mà bị mất cắp, hay dùng vào những mục đích
không hợp pháp... Ngoài ra do thu nhập của chính những cán bộ ngân hàng bị
giảm nên nhu cầu tiêu dùng cũng giảm theo làm cho hàng hoá một phần bị ứ đọng
chẳng hạn.
12
Trên đây chỉ là điển hình một số thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra, còn muôn

- Có khuynh hớng cạnh tranh thái quá.
- Cho vay tài trợ các hoạt động đầu cơ.
- Thiếu nhạy cảm đối với môi trờng kinh tế thay đổi.
Trên đây chỉ là một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết một khoản vay có vấn
đề. Ngoài ra còn có muôn vàn những dấu hiệu khác nữa, có nhận biết đợc hay
không, điều đó phụ thuộc vào sự nhạy bén của mỗi ngân hàng, của mỗi nhân viên
ngân hàng.
1.2.5. Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động
TDNH.
Thực tế đã chứng minh, hoạt động TDNH là một hoạt động mang tính rủi ro
rất cao. Nó có thể là rủi ro trong lĩnh vực huy động vốn hay cũng có thể từ hoạt
động cho vay, hay bất cứ một hoạt động nào.Tuy nhiên không phải vì thế mà các
ngân hàng thu hẹp hay bỏ nó, bởi nó là sự sống của bất cứ tổ chức tín dụng nào.
Vậy họ đã, đang và sẽ làm gì, làm nh thế nào để hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
a/ Xây dựng chính sách tín dụng.
- Mỗi ngân hàng đều phải xác định cho mình một chính sách tín dụng hợp lý,
phù hợp với môi trờng kinh doanh, với khả năng của mình. Thực tế các khoản vay
là loại tài sản lớn nhất của các ngân hàng. Vì vậy sự lành mạnh của danh mục cho
vay quyết định thu nhập của ngân hàng.
14
- Chính sách tín dụng là các quy tắc cơ bản chi phối sự mở rộng tín dụng. Nó
cung cấp cơ sở cho việc điều hành kinh doanh, giúp ngân hàng thiết lập kế hoạch
kinh doanh dài hạn để hoạt động một cách chủ động, thay vì phản ứng thụ động
đối với chính sách của đối thủ cạnh tranh. Nó phải xem xét tình hình kinh tế và
những yêu cầu của khu vực giao dịch mà ngân hàng phục vụ.
- Một trong những mục tiêu cơ bản của chính sách tín dụng là cung cấp tối đa
các dịch vụ tín dụng cho cac khu vực phục vụ theo nguyên tắc thận trọng, an toàn
và thanh khoản. Vì vậy, một chính sách tín dụng đợc công bố bằng văn bản là thật
sự cần thiết nhằm thống nhất việc xử sự đối với khách hàng. Nó phải đợc xây dựng
một cách cụ thể và cập nhật. Ngoài ra, chính sách tín dụng còn phải chỉ rõ những

khoản tiền gửi và mức độ thanh khoản của các tài sản ngắn hạn khác. Bởi vì tính
không ổn định cũng nh những biến động thời vụ của tiền gửi.
+ Giám sát tín dụng: Không kể nó đợc đặt tên hay gắn cho chức danh gì
trong một tổ chức, việc kiểm soát đợc thiết lập thật tốt nhất thiết phải gắn với
chính sách tín dụng cũng nh các thủ tục hợp lý và quy trình cho vay phải quy định
cụ thể. Ngợc lại, nếu thiếu các quy định về giám sát sẽ khó lòng thực hiện đợc các
chính sách cũng nh các tiêu chuẩn đã đợc đề ra.
(theo Giáo trình Tín dụng ngân hàng trang 72,73,74,75).
Việc xây dựng đợc một chính sách tín dụng phù hợp sẽ giúp cho ngân hàng
có hớng đi đúng đắn và đạt đợc kết quả cao nhất, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
b/ Phân tích khách hàng trớc và trong khi cho vay.
- Việc phân tích đánh giá khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng đối
với hoạt động tín dụng, đó là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng
chống rủi ro. Bởi có biết đợc điều kiện của khách hàng, mục đích sử dụng vốn của
khách hàng, khả năng hoàn trả của khách hàng thì mới quyết định đợc có thiết
lập quan hệ tín dụng hay không. Phân tích đánh giá khách hàng thờng trên các
khía cạnh sau:
+ Năng lực pháp lý: Phân tích xem khách hàng có đủ năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự, năng lực trách nhiệm dân sự hay không, phân tích về
tính pháp nhân, thể nhân. Xem xét điều kiện của khách hàng, phạm vi giới hạn có
thể cho vay, vốn tự có.
16
+ Đánh giá về năng lực chuyên môn chuyên môn, năng lực quản lý và uy tín
của ngời điều hành. Vì đây là ngời đại diện cho đối tác của ngân hàng. Đồng vốn
của ngân hàng có đợc an toàn, sử dụng đúng mục đích hay không, phụ thuộc rất
lớn vào ngời lãnh đạo của khách hàng vay.
+ Đánh giá về năng lực tài chính của khách hàng vay, Thông qua đó ngân
hàng biết đợc khả năng thanh toán của khách hàng, hay mức độ an toàn của đồng
vốn đầu t, và khả năng tự chủ về tài chính của khách hàng.
+ Đánh giá về cơ cấu vốn trong kinh doanh của khách hàng, xem xét tỷ lệ

ngân hàng, điều này một lần nữa khẳng định các ngân hàng cần phải làm tốt công
tác phân tích khách hàng.
c/ Thực hiện đảm bảo tiền vay.
Mặc dù có thực hiện đúng chính sách tín dụng, phân tích kỹ khách hàng, nh-
ng rủi ro thì không ai có thể lờng trớc đợc, chính vì vậy để giúp ngân hàng bảo
đảm an toàn vốn và gắn trách nhiệm của khách hàng trong việc quản lý và sử dụng
vốn vay có hiệu quả thì ngân hàng cần phải thực hiện bảo đảm tín dụng. Bảo đảm
tín dụng là việc khách hàng dùng tài sản của mình hoặc có một ngời thứ ba đứng
ra bảo lãnh, để làm đảm bảo cho việc vay tiền. Bảo đảm tiền vay có thể thực hiện
dới các hình thức sau:
* Bảo đảm bằng tài sản. Là hình thức bảo đảm tiền vay mà ở đó khách hàng
có chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho ngân hàng để làm đảm
bảo cho việc vay tiền. Có thể chuyển giao trực tiếp hoặc gián tiếp (mang tài sản đó
đến ngân hàng) hoặc gián tiếp (mang các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản
đó đến ngân hàng).
18
+ Điều kiện để bảo đảm bằng tài sản:
- Về mặt tài sản: Tài sản đó phải thuộc sở hữu của khách hàng, có giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu của khách hàng thì mới đợc chuyển giao và dễ phát mại
khi cần thiết.
. Mặt khác tài sản đó phải đợc phép lu thông và có tính lu thông cao. Có một
số tài sản quý hiếm đặc biệt, hoặc một số không có tính thông dụng hoặc giá trị
thấp, thì sẽ không đợc phép sử dụng làm đảm bảo.
- Việc sử dụng tài sản làm đảm bảo phải đợc cam kết bằng hợp đồng, nó sẽ
ràng buộc về mặt pháp lí của khách hàng. Trong đó thể hiện quyền và nghĩa vụ
của mỗi bên đối với việc quản lí và chuyển giao tài sản.
Bảo đảm bằng tài sản thể hiện dới hai hình thức:
Thứ nhất là: Cầm cố tài sản, đó là việc bên đi vay giao tài sản là động sản
thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã thoả
thuận trớc. Nếu tài sản này có đăng ký quyền sở hữu thì có thể đợc giao cho bên

. Tàu biển theo quy định của bộ luật hàng hải Việt nam, tàu bay theo quy
định của luật hàng không dân dụng Việt nam.
. Ngoại tệ bằng tiền mặt, số d trên tài khoản tiền gửi tại các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán bằng tiền Việt nam và ngoại tệ.
. Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền
đòi nợ, quyền đợc nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp
đồng hoặc các căn cứ pháp lý khác.
. Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài.
. Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
. Hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên
cầm cố có quyền nhận.
Thứ hai là: Thế chấp tài sản, là việc khách hàng sử dụng bất động sản để bảo
đảm nghĩa vụ trả nợ.
Các tài sản đợc phép dùng làm tài sản thế chấp bao gồm:
20
. Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với
nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
. Giá trị quyền sử dụng đất theo quy định tại nghị định 79/NĐ-CP ngày
1/11/2001 của chính phủ.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đợc nhà n-
ớc giao hoặc do nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đợc thế chấp giá trị quyền sử
dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để vay vốn hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất đợc thế chấp giá trị quyền sử dụng đất
nh nêu ở trên thì cũng đợc bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất.
. Tàu biển theo quy định của bộ luật hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy
định của luật hàng không dân dụng Việt Nam.
. Tài sản hình thành trong tơng lai là bất động sản hình thành sau thời điểm kí
kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp nh hoa lợi, lợi

bảo (nghị định 08/2000).
- Căn cứ vào tính chất của tài sản thế chấp:
+ Thế chấp một phần: là hình thức khách hàng chỉ thế chấp một phần tài sản
của mình để làm đảm bảo cho khoản vay.
+ Thế chấp toàn bộ: là việc khách hàng dùng nguyên vẹn tài sản của mình
làm đảm bảo cho khoản vay.
Ví dụ: Thế chấp ngôi nhà và những dụng cụ liên quan.
- Căn cứ vào xuất xứ của tài sản thế chấp:
+ Thế chấp trực tiếp: là hình thức mà tài sản thế chấp đợc hình thành từ vốn
vay.
+ Thế chấp gián tiếp: tài sản thế chấp không hình thành từ vốn vay.
Thứ ba là: Bảo đảm bằng bảo lãnh: Là hình thức bảo đảm tiền vay mà ở đó
khách hàng đợc ngời thứ ba đứng ra cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho
khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đợc nh đã cam kết.
Trong quan hệ bảo lãnh không hề xuất hiện chuyển giao tài sản giữa ngời bảo
lãnh và ngời đợc bảo lãnh, hầu nh họ chỉ lấy những cam kết để xác định về trách
22
nhiệm hay nghĩa vụ phải thực hiện. Cam kết đó có thể bằng uy tín hoặc bằng tài
sản. phí ở hoạt động này rất thấp, do vậy ngời bảo lãnh dễ chủ quan xem nhẹ điêu
kiện liên quan đến hành vi bảo lãnh.
Bảo lãnh có thể thực hiện dới các hình thức sau:
- Căn cứ vào số thành viên tham gia bảo lãnh:
+ Bảo lãnh chung hay còn gọi là đồng bảo lãnh: Là việc cùng một lúc có
nhiều chủ thể cùng đứng ra cam kết về việc thực hiện thay nghĩa vụ của khách
hàng với ngân hàng.
+ Bảo lãnh sau: Là hình thức bảo lãnh đợc thực hiện khi ngời bảo lãnh chính
không thực hiện đợc nghĩa vụ thì ngời bảo lãnh sau đứng ra gánh trách nhiệm.
+ Bảo lãnh lại: Là hinh thức bảo lãnh mà ở đó ngời bảo lãnh lại chỉ xuất hiện
với t cách nhận lại thiệt hại của ngời bảo lãnh chính, họ chỉ có quan hệ với ngời
bảo lãnh chính.

phạm để có biện pháp xử lí.
Việc giám sát tín dụng diễn ra rất đa dạng phong phú, thông thờng ngân hàng
áp dụng một số biện pháp sau:
- Giám sát hoạt động tài khoản tại ngân hàng của các khách hàng, qua đó biết
đợc tình hình kinh doanh của khách hàng, tình hình lu chuyển tiền tệ, tuỳ theo các
dấu hiệu đó mà ngân hàng có hớng kiểm soát trọng tâm.
- Phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ: qua đó ngân hàng biết đợc tình
hình thực tế đang diễn ra với khách hàng, kết quả có thể cho thấy các dấu hiệu khả
quan hay khả năng hoàn trả có vấn đề, tuỳ thuộc vào mức độ để cùng với khách
hàng đa ra biện pháp phòng ngừa.
- Viếng thăm và khảo sát địa bàn hoạt động kinh doanh và nơi c trú của
khách hàng. Có thể thờng xuyên hoặc bất thờng, tuỳ theo hoàn cảnh và yêu cầu
của mỗi khoản tín dụng. Thông qua các cuộc viếng thăm ngân hàng sẽ thu thập đ-
ợc thông tin bổ ích nh ý chí quyết tâm trả nợ của khách hàng, thực trạng tình hình
sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Kiểm tra bảo đảm tiền vay: Nếu là tài sản thế chấp thì ngân hàng sẽ phải
kiểm tra việc sử dụng tài sản có đúng nh trong hợp đồng hay không. Nếu do khách
24
quan làm cho tài sản thế chấp bị rủi ro thì phải điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp
và kịp thời. Với tài sản cầm cố, những tài sản vẫn do khách hàng nắm giữ nh dây
chuyền công nghệ hay máy móc... thì ngân hàng cũng phải kiểm tra thực trạng và
việc sử dụng xem có đúng nh hợp đồng không. Với những tài sản ở kho của khác
hàng hay ở kho của ngời thứ ba phải kiểm tra tính bảo toàn về giá trị và nguyên
vẹn về vật chất.Đối với bảo đảm bằng bảo lãnh, ngân hàng cần thu thập thông tin
về ngời bảo lãnh, đặc biệt là uy tín của họ và kiểm tra về tài sản cũng nh đối với
chính khách hàng của mình.
- Thông qua các mối quan hệ với các khách hàng khác. Qua đó biết đợc tiến
độ sản xuất, khả năng thanh toán, mức độ thực hiện hợp đồng, tính trung thực
trong các báo cáo tài chính của khách hàng.
- Giám sát qua những thông tin khác: Ngân hàng cũng có thể thu thập thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status