BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI VÕ THN THU HẰNG
LỚP: LTĐHK7TM1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER
TẠI CÔNG TY TNHH MARINE SKY LOGISTICS
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS.HÀ ĐỨC SƠN
CHUYÊN NGÀNH: Thương mại quốc tế
TP.HỒ CHÍ MINH 05/2013
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI VÕ THN THU HẰNG
LỚP: LTĐHK7TM1
Để đưa công ty TNHH Marine Sky Logitics có thể thích ứng với môi trường
hoạt động kinh doanh mới, nâng cao được khả năng cạnh tranh và giữ vững được vị
trí là một trong những đơn vị uy tín về giao nhận hàng nhập khNu ở Việt Nam. Sau
đây tác giả trình bày “Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện quy trình giao nhận
hàng nhập khNu nguyên container tại công ty TNHH Marine Sky Logistics”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty TNHH Marine
Sky Logistics.
Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện quy trình giao nhận hàng nhập khNu
nguyên container tại công ty TNHH Marine Sky Logistics.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiêm cứu
Quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng
Phạm vi nghiên cứu
Quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty TNHH
Marine Sky Logistics.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp, trong đó tập trung chủ yếu các
phương pháp sau đây:
Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa, tư duy logic, tổng hợp được áp
dụng trong chương 1.
Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chứng chương 2.
Phương pháp thảo luận nhóm, tư duy hệ thống và dựa vào quan điểm của tác
giả đề xuất các giải pháp chương 3.
5. Kết cấu của báo cáo đề án
Chương 1: Cơ sở lý luận về giao nhận hàng hóa nhập khNu.
Chương 2: Thực trạng quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 05 năm 2013
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 05 năm 2013
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
Bảng 2.4: Tình hình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty
TNHH Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 - 2012.
Bảng 2.5: Kết quả giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty TNHH
Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 - 2012.
Bảng 2.6: Hàng hóa giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty
TNHH Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 - 2012.
Bảng 2.7: Hình thức vận tải hàng nguyên container tại công ty TNHH Marine Sky
Logistics trong giai đoạn năm 2008 - 2012.
Bảng 2.8: Tình hình thị trường giao nhận hàng nhập khNu nguyên container trong
giai đoạn năm 2008 - 2012.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP
KHẨU 1
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO NHẬN. 1
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận và người giao nhận 1
1.1.1.1 Dịch vụ giao nhận 1
1.1.1.2 Người giao nhận 2
1.1.2 Phân loại 2
1.1.2.1 Phân loại theo tiêu chí hình thức giao nhận 2
1.1.2.2 Phân loại theo tiêu chí đối tượng hàng hóa 3
1.1.2.3 Phân loại theo tiêu chí vận tải 4
1.1.3 Vai trò 6
1.2 KHÁI QUÁT GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU NGUYÊN
CONTAINER TẠI VIỆT NAM. 7
1.2.1 Khái quát sự phát triển giao nhận nguyên container tại Việt Nam 7
1.2.1.1 Lịch sử 7
2.1.2.2 Nhiệm vụ 20
2.1.2.3 Quyền hạn 21
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 21
2.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của công ty 21
2.1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban 22
2.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty TNHH Marine Sky Logistics. 25
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Marine Sky Logistics
giai đoạn năm 2008 – 2012. 26
2.2 THỰC TRẠNG GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU NGUYÊN
CONTAINER TẠI CÔNG TY TNHH MARINE SKY LOGISTICS 28
2.2.1 Quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty
TNHH Marine Sky Logistics 28
2.2.1.1 Sơ đồ quy trình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container 28
2.2.1.2 Chú giải 29
2.2.1.3 Diễn giải quy trình 30
2.2.2 Thực trạng hoạt động giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại
công ty TNHH Marine Sky Logistics. 43
2.2.2.1 Tình hình chung giao nhận xuất nhập khNu tại công ty TNHH
Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 – 2012 43
2.2.2.2 Tình hình giao nhận hàng nhập khNu tại công ty TNHH Marine Sky
Logistics trong giai đoạn năm 2008 – 2012. 46
2.2.2.3 Tình hình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty
TNHH Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 – 2012. 48
2.2.2.4 Kết quả giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại công ty
TNHH Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 - 2012. 49
2.2.2.5 Tình hình hàng hóa giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại
công ty TNHH Marine Sky Logistics trong giai đoạn năm 2008 – 2012. 51
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng Trang 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG
HÓA NHẬP KHẨU
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO NHẬN.
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận và người giao nhận.
1.1.1.1 Dịch vụ giao nhận
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở những nước
khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao
hàng, tức là hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để cho quá
trình vận chuyển đó được bắt đầu - tiếp tục - kết thúc, tức là hàng hóa đến tay
người mua, cần phải thực hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá
trình chuyên chở như bao bì, đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi
hàng, xếp hàng lên tàu, vận tải hàng hóa đến cảng đích, dỡ hàng ra khỏi tàu và
giao cho người nhận hàng…Những công việc đó là giao nhận hàng vận tải.
Châu, H.V (2008) cho rằng “Dịch vụ giao nhận là bất cứ loại dịch vụ nào liên
quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng
hóa cũng như các dịch vụ hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên kể cả các vấn đề
hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến
hàng hóa giữa hai quốc gia khác nhau.”(Châu, 2010, tr.02)
Như vậy, về cơ bản: giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên
quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi
hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
Còn khái niệm dịch vụ logistics thì có phạm vi rộng hơn, nó có tác động từ
giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng.
Theo khái niệm này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật
liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh
lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Định nghĩa này của
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng Trang 3
Giao nhận bên thức nhất: người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực
hiện các hoạt động giao nhận để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức
này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, nhân công.
Giao nhận bên thứ nhất làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm
giảm hiệu quả kinh doanh vì doanh nghiệp không đủ quy mô cần thiết, kinh
nghiệm và kỹ năng chuyên môn hoàn thành tất cả mọi khâu để hoàn tất đạt chất
lượng tuyệt đối trong hoạt động giao nhận.
Giao nhận bên thứ hai: người cung cấp hoạt động giao nhận bên thứ hai là
người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động giao nhận
(vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Loại hình
này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các
công ty kinh doanh kho bãi, khai thuế hải quan…
Giao nhận bên thứ ba: là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện
các hoạt động giao nhận cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt cho
người gửi hàng làm thực hiện thủ tục xuất khNu và vận chuyển nội địa hay thay
mặt cho cho người nhập khNu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới đại
điểm đến quy định… Do đó giao nhận bên thứ ba gồm nhiều dịch vụ khác nhau,
kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, vận chuyển hàng hóa… và có
tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.
Giao nhận bên thứ tư: là người tích hợp hay người hợp nhất, gắn kết các
nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức
khác để thực hiện, xây dựng và vận hành các giải pháp hoạt động giao nhận. Giao
nhận bên thứ tư hướng đến quản trị hoạt động giao nhận, quản trị hàng hóa từ nơi
sản xuất, làm thủ tục xuất nhập khầu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
1.1.2.2 Phân loại theo tiêu chí đối tượng hàng hóa
Giao nhận hàng tiêu dùng nhanh là quá trình giao nhận cho hàng tiêu dùng có
thời hạn sử dụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phNm…
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
cấp các dịch vụ từ cửa đến cửa khá hiệu quả, nhất là ở Mỹ, nơi có hệ thống đường
sá và phương tiện hiện đại phát triển mạnh.
Theo thống kê của Info TV, tính tới cuối năm 2012, lượng hàng hóa vận
chuyển bằng đường bộ tăng đều qua các năm. Phương thức vận chuyển này thực
sự là một bộ phận quan trọng vì có khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng với giá tương đối rẻ (Hải Quan, 2013).
Vận tải đường sắt
Vận tải đường sắt kém linh hoạt hơn vận tải đường bộ. Tàu hỏa không thể
cung cấp dịch vụ đến một địa điểm bất kỳ theo yêu cầu của khách hàng, vì không
phải ở đâu người ta cũng có thể lắp đặt đường ray và xây dựng nhà ga, cơ sở vật
chất kỹ thuật cần có của đường sắt. Cũng như các phương thức vận tải đường
không, đường thủy, đường ống, đường sắt chỉ có thể vận chuyển hàng hóa từ ga
này đến ga kia. Và mặc dù được cải tiến rất nhiều, tốc độ vận chuyển của tàu hỏa
vẫn chậm hơn các phương tiện đường bộ (ngoại trừ tàu cao tốc TGV của Pháp có
vận tốc 300km/h). Thêm vào đó, tàu hỏa thường đi, đến theo lịch trình cố định, tần
suất khai thác các chuyến không cao và chắc chắn là không thể linh hoạt, dễ dàng,
nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi như đường bộ. Chính vì có nhiều nhược điểm như
vừa nêu, nên mặc dù có giá cước tương đối thấp, đường sắt vẫn ít được áp dụng.
Vận tải hàng không
Hoàn toàn trái ngược với vận tải đường thủy, vận tải hàng không chỉ phù hợp
với những hàng hóa có khối lượng nhỏ nhưng giá trị cao, nhất là những mặt hàng
cần phải vận chuyển trong thời gian ngắn như: hàng hiếm quý, rau quả, thực phNm
tươi sống, các mặt hàng thời trang, những loại hàng hóa đặt biệt.
Thường thì khách hàng sẽ lựa chọn phương thức này khi không còn cách nào
khác, vì các lý do sau: cước vận tải quá cao, thủ tục phức tạp, đòi hỏi nhiều loại
giấy tờ, chứng nhận và phương thức này cũng không thể cung cấp dịch vụ từ cửa
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng Trang 6
tới cửa, mà chỉ dừng ở mức từ cảng đến cảng. Tuy có những yếu điểm nêu trên,
Vì giao nhận có tầm quan trọng như vậy, nên các nhà quản trị không chỉ quan
tâm đến chi phí giao nhận của tổ chức mình, mà còn chú ý đến chi phí giao nhận
của đối thủ cạnh tranh, bởi chi phí này có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh
của hai tổ chức.
Giao nhận là hoạt động không thể thiếu trong mọi tổ chức, trong từng ngành
thì chi phí giao nhận cao hoặc thấp khác nhau. Nhưng dù cao hoặc thấp chi phí
giao nhận là chi phí không thể thiếu. Ngay cả khi không xét đến vấn đề chi phí, thì
giao nhận vẫn có vai trò rất quan trọng. Nếu không cung cấp được vật tư đúng nơi,
đúng lúc thì sản xuất sẽ gián đoạn, không thể tiến hành liên tục, nhịp nhàng, dẫn
đến các hậu quả nghiêm trọng.
Nói tóm lại, giao nhận có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, nên phải
luôn quan tâm đến việc cân nhắc, lựa chọn các điều kiện giao nhận hàng hóa,
phương thức giao nhận… để có được quyết định đúng đắn, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động của tổ chức.
1.2 KHÁI QUÁT GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU NGUYÊN
CONTAINER TẠI VIỆT NAM.
1.2.1 Khái quát sự phát triển giao nhận nguyên container tại Việt Nam.
1.2.1.1 Lịch sử
Thuở ban đầu, giao nhận chỉ hoạt động trong nước. Nhiệm vụ của giao nhận
lúc bây giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khNu như một môi giới Hải
Quan. Sau đó, giao nhận mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khNu hoặc nhập
khNu tùy thuộc vào hoạt động mua bán. Trên cơ sở được nhà nước cho phép, giao
nhận có thể thay mặt cho người xuất khNu, nhập khNu để khai báo và làm thủ tục
hải quan như một người môi giới hải quan.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng Trang 8
Trước đây giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở.
Hoạt động giao nhận chỉ như là cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở.
Người giao nhận nhận ủy khác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện
bảo quan hàng tốt hơn. Mang tính chất “hàng loạt” như: cùng một sản phNm, cùng
một đặc tính sản phNm, cùng chất lượng, thuận tiện cho người giao nhận về mọi
mặt: từ xắp xếp, vận chuyển, làm thủ tục hải quan…
Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay hàng nhập khNu nguyên container sẽ
ngày càng tăng không những ở năm 2013, mà còn ở những năm tiếp theo.
1.2.2 Tình hình giao nhận hàng nhập kh1u nguyên container tại Việt Nam từ
năm 2008 - 2012.
Bảng 1.1 Tình hình giao nhận hàng nhập khNu nguyên container tại Việt Nam từ
năm 2008 - 2012.
Đơn vị tính: Tỷ USD
Năm Kim ngạch nhập kh1u Tỉ trọng (%)
2008
74,82 -
2009
62,28
-
16,76
2010
76,01 22,05
2011
97,39 28,09
2012
104,23
7,02
Nguồn: Tổng cục Hải Quan từ năm 2008-2012
Nhận xét
nguyên container đóng vai trò rất quan trọng.
Nó xây dựng chiến lược để giao hàng, nhận hàng một cách khoa học, hợp lý,
xác định lộ trình vận tải cụ thể, hãng tàu vận chuyển hàng hóa thích hợp. Thêm
vào đó, giao nhận hàng nhập khNu nguyên container xúc tiến, đôn đốc và kiểm
soát hàng hóa trong suốt quá trình giao nhận chặt chẽ hơn, tránh được sự thiếu hụt
mất mát hàng hóa, rút gắn được thời gian vận chuyển thay vì phải vận chuyển
Báo cáo thực tập tốt nghiệp ThS. Hà Đức Sơn
SVTH: Võ Thị Thu Hằng Trang 11
hàng hóa theo từng cụm riêng lẻ, thì nhập khNu hàng hóa vận chuyển một lần cả
một khối lượng lớn luôn.
Giao nhận hàng nhập khNu nguyên container đóng vai trò tích cực trong toàn
bộ quá trình vận chuyển hàng hóa.
Tóm lại, trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh diễn ra trong mọi ngành mọi
lĩnh vực. Ngành giao nhận không ngoại lệ, các công ty giao nhận trên thế giới
cạnh tranh nhau khốc liệt cả về giá cước, lẫn chất lượng dịch vụ giao nhận. Để
hoạt động giao nhận đạt chất lượng và hiệu quả cao, cần có sự quan tâm đúng mức
đến hoạt động giao nhận hàng nhập khNu nguyên container.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao nhận hàng nhập kh1u nguyên
container.
1.2.4.1 Các chế độ chính trị, luật pháp trong nước và quốc tế
Đây là điều rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến giao nhận hàng nhập
khNu nguyên container, bắt buộc các bên phải tuân thủ theo vô điều kiện. Vì nó thể
hiện ý chí của Đảng lãnh đạo trong một nước, sự thống nhất chung của Quốc Tế,
bảo vệ quyền lợi của các nước trên toàn thế giới.
Sự phát triển của dịch vụ giao nhận hàng hóa chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự
phát triển của thương mại quốc tế. Mà thương mại quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố chính trị, pháp luật của mỗi quốc gia. Các yếu tố này có thể tạo thuận lợi
hoặc khó khăn cho các dịch vụ giao nhận hàng nhập khNu. Khi một quốc gia có
chính trị ổn định sẽ tạo được niềm tin cho nhà ngoại thương, đầu tư trong và ngoài
hình dịch vụ vận tải bằng đường biển và giao nhận này. Quan trọng nhất phải kể
đến vận tải đường biển trong tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đặt biệt là Việt
Nam đã chính thức tham gia vào tổ chức này.