Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn các xã phía Tây thành phố Thái Nguyên - Pdf 28


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN TIẾN ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP
SINH HỌC TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
TRÊN ĐỊA BÀN CÁC XÃ PHÍA TÂY
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Nhuận

được các thầy cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất để có thể đem
những kiến thức đã được học ở trường góp một phần công sức của mình vào
xây dựng đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại học
Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, phòng Quản lý đào tạo sau Đại học và dưới sự
hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Nhuận đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi
thực hiện và hoàn thành bản luận văn này.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học
Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, TS.
Nguyễn Đức Nhuận đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích và
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn.
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Học viên Nguyễn Tiến Đông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CÁC TỪ VIẾT TẮT v

2.3.4. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 33
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của TP. Thái Nguyên 34
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 37
. Thái Nguyên 42
3.3. Tình hình áp dụng các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi
trên địa bàn các xã 45
3.3.1. Tình hình chất thải chăn nuôi trên địa bàn và nhận thức của người dân về
các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi 45
3.3.2. Tình hình áp dụng các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn
nuôi. 48
3.3.3. Đánh giá kết quả và hiệu quả của các biện pháp sinh học được áp dụng 50
3.3.4. Xác định được ưu, nhược điểm của từng phương pháp áp dụng 56
3.3.5. Những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp sinh học
trong xử lý chất thải 59
3.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng quy mô áp dụng các biện pháp
sinh học trên địa bàn 60
3.4.1. Giải pháp chung 60
3.4.2. Giải pháp cụ thể 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1. Kết luận 62
2. Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CÁC TỪ VIẾT TẮT


: Vườn ao chuồng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Lượng phân và nước tiểu của 1 số gia súc, gia cầm thải ra trong 24h 5
Bảng 1.2. Thành phần (%) của phân gia súc gia cầm 5
Bảng 1.3. Các loại vi khuẩn có trong phân 6
Bảng 1.4. Thành phần hóa học nước tiểu lợn có khối lượng 70 – 100 kg 7
Bảng 1.5. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm 18
Bảng 3.1. Nhiệt độ và độ ẩm trung bình tháng năm 2013 tại TP. Thái Nguyên 35
Bảng 3.2. Tình hình chăn nuôi của 5 xã phía Tây TP. Thái Nguyên năm 2013 43
Bảng 3.3. Lượng chất thải trung bình của vật nuôi 45
46
Bảng 3.5. Nhận thức của người dân về các biện pháp sinh học trong xử lý chất thải
chăn nuôi 47
Bảng 3.6. Tình hình áp dụng các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi của các hộ
điều tra 49
Bảng 3.7. Tổng chi phí đầu tư cho biogas 52
Bảng 3.8. So sánh một số chất đốt/ 1m
3
khí sinh học. 53
Bảng 3.9. So sánh hiệu quả kinh tế khi sử dụng biogas 53
Bảng 3.10. Phân tích về mặt kinh tế của biogas 54
Bảng 3.11. Tổng chi phí cho ủ phân 54
Bảng 3.12. Chi phí sử dụng chế phẩm đối với diện tích 20m
2
nền chuồng 55

ngày càng cao của cuộc sống đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ. Sự
phát triển bùng nổ của ngành chăn nuôi để đáp ứng các nhu cầu là một tất yếu.
Công nghiệp hóa chăn nuôi có thể là hệ quả tất yếu của chuỗi thực phẩm liên kết
theo chiều dọc và cung ứng cho các cửa hàng bán lẻ lớn, nhưng cũng có thể xảy ra
một cách độc lập. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số
lượng lẫn quy mô. Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch,
nhất là các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm
trọng. Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải
rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không
đúng kỹ thuật. Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc
cho thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30 - 40 lần so với
không khí bên ngoài (Đào Lệ Hằng, 2009) [10].
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ
mắc bệnh, các chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế Sức đề
kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh. Vì
vậy, WHO khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi
trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng
cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi
sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh
các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H
5
N
1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2
Theo tính toán thì lượng chất thải rắn mà các vật nuôi có thể thải ra

sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Việc sử dụng tổng hợp các biện pháp sinh học như: xây dựng hầm ủ
Biogas, chế phẩm sinh học ( EM, TMT, ), ủ sinh học,… là một giải pháp xử lý
chất thải hiệu quả và thân thiện với môi trường nhất, cung cấp chất đốt và phân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
bón từ tái chế chất thải phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên việc
tiếp cận của người dân với các biện pháp xử lý này còn hạn chế nên tốc độ mở
rộng quy mô còn chậm.
Trước thực tế trên đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng thực trạng, thấy rõ được
các tồn tại để từ đó đưa ra các giải pháp mở rộng quy mô và phạm vi áp dụng các
biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn. Vì vậy, tôi tiến hành
đề tài: “Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp sinh học trong xử lý chất thải
chăn nuôi trên địa bàn các xã phía Tây thành phố Thái Nguyên”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra, thu thập thông tin về tình hình chăn nuôi trên địa bàn các xã phía
Tây thành phố Thái Nguyên.
- Tiến hành điều tra, đánh giá tình hình sử dụng các biện pháp sinh học ( biogas,
chế phẩm, ủ phân, ) tại vùng nghiên cứu và hiệu quả của từng biện pháp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nhằm mở rộng quy mô áp dụng các biện
pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp cơ sở lý luận về áp dụng biện pháp sinh học trong xử lý chất thải
chăn nuôi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Ứng dụng biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi đạt hiệu quả.
- Là cơ sở để các nhà quản lý, lãnh đạo và các ban ngành tham khảo để đưa ra

- Các chất cặn bã của dịch tiêu hóa.
- Mô tróc ra từ niêm mạc của ống tiêu hóa và các dịch tiết niêm mạc.
- Các vi sinh vật nhiễm trong thức ăn, nước uống, vi sinh vật khu trú trong
đường tiêu hóa.
- Vật liệu vô cơ dính vào thức ăn (bụi, tro ) (TS. Đặng Xuân Bình, 2006) [4].
* Lượng phân
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi, khẩu
phần ăn và thể trọng của gia súc, gia cầm. Căn cứ vào lượng thức ăn có thể ước tính
được số lượng phân gia súc, gia cầm thải ra. Lượng phân lợn thải ra trong một ngày
đêm là 6 – 8% thể trọng.
Lượng phân và nước tiểu thải trung bình trong 24 giờ của một số gia súc, gia
cầm được thể hiện dưới bảng sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5
Bảng 1.1. Lƣợng phân và nƣớc tiểu của 1 số gia súc, gia cầm thải ra trong 24h
Loại gia súc
Phân nguyên (kg)
Nƣớc tiểu (lít)
Lợn (15-45 kg)
1,0 – 3,0
0,7 - 2,0
Lợn (45-100 kg)
3,0 – 5,0
2,0 – 4,0
Trâu
18 - 25
8,0 - 12


Mg
Lợn
82.0
0.60
0.41
0.26
0.09
0.10
Trâu, bò
83.14
0.29
0.17
1.00
0.35
0.13

56.0
1.63
0.54
0.85
2.40
0.74
(Nguồn: Trần Mạnh Hải, 2009) [9]
Trong phân còn chứa nhiều loại vi sinh vật và kí sinh trùng kể cả có lợi và có
hại. Trong đó, các vi khuẩn thuộc loại Enterobacteriacea chiếm đa số với các loài
điển hình như E.coli, Samonella, Shigella, Proteus, Kết quả phân tích của Viện Vệ
sinh – Y tế công công thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, nhiều loại vi khuẩn gây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Shigella spp

Lỵ
55
60
Vibrio cholerae

Tả
55
60
Escherichia coli
10
5
/100ml
Viêm dạ dày ruột
55
60
Hepatite A

Viêm gan
55
3 - 5
Taenia saginata

Sán
50
3 - 5
Micrococcus

Ung nhọt

-
Bại liệt
65
30
Giardia lamblia
-
Tiêu chảy
60
30
Tricluris trichiura
-
Giun tóc
60
30
(Nguồn: Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011) [7]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7
1.1.1.2. Nước phân
Nước phân là nước từ đống phân chuồng chảy ra, phần lớn là nước tiểu của
gia súc có hòa lẫn các chất hòa tan của phân nguyên với một phần nước có nguồn
gốc từ nước uống, nước tắm gia súc, nước rửa chuồng. Vì vậy, nước phân sẽ chứa
rất nhiều dưỡng chất có giá trị làm phân bón cho cây trồng.
Theo Bergmann (1965), trong 1 m
3
nước phân có khoảng từ 5 – 6 kg nitơ
nguyên chất; 0,1 kg P
2
O

g/kg
0,11 – 0,19
(Nguồn: Nguyễn Khoa Lý, 2008) [16]
1.1.1.3. Nước thải
Nước thải chăn nuôi là một loại nước thải rất đặc trưng và có khả năng gây ô
nhiễm môi trường cao do có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, cặn lơ lửng, N, P
và vi sinh vật gây bệnh. Nó nhất thiết phải được xử lý trước khi thải ra ngoài môi
trường. Lựa chọn một quy trình xử lý nước thải cho một cơ sở chăn nuôi phụ thuộc
rất nhiều vào thành phần tính chất nước thải. Đặc điểm của chất thải chăn nuôi:
* Các chất hữu cơ và vô cơ
Trong nước thải chăn nuôi, hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% bao gồm
cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8
trong phân, thức ăn thừa. Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy. Các chất vô cơ
chiếm 20 - 30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO
4
2-
,…
* Nitơ (N) và photpho (P)
Khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi ăn
thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu. Trong
nước thải chăn nuôi lợn thường chứa hàm lượng N và P rất cao. Hàm lượng N-tổng
số trong nước thải chăn nuôi là 571 – 1026 mg/l, P-tổng số là 39 – 94 mg/l.
* Vi sinh vật gây bệnh
Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh.
* Kim loại nặng
Các kim loại nặng như asen, chì, cadimi, thủy ngân cũng có thể lẫn trong


9
1.1.2. Các loại biện pháp sinh học trong xử lý chất thải chăn nuôi
1.1.2.1. Sử dụng hầm ủ biogas
a. Khí sinh học
Biogas ( khí sinh học) là một loại khí được sinh ra khi chất thải động vật và
các chất hữu cơ ( phụ phẩm nông nghiệp) bị lên men trong điều kiện kỵ khí. Vi sinh
vật phân hủy các chất tổng hợp và khí được sinh ra. Biogas là một hỗn hợp bao gồm
metan, cacbon dioxit, nitơ, hydro sunfua…
Chất thải của động vật ( phân, nước tiểu) trong chăn nuôi nông nghiệp là
nguồn nguyên liệu lớn, chứa nhiều thành phần hữu cơ có khả năng chuyển hóa sinh
học để tạo biogas. Khối lượng chất thải phát sinh có sự khác nhau, tùy theo từng
loại gia súc, gia cầm, điều kiện chăn nuôi, đặc điểm chuồng trại và đặc điểm ngành
của từng quốc gia (Lương Đức Phẩm, 2003) [19].
b. Nguyên lý của quá trình chuyển hóa
Về nguyên tắc, khi một lượng sinh khối được lưu giữ trong hầm kín vài ngày
sẽ chuyển hóa và sản sinh ra một hợp chất dạng khí – khí sinh học ( biogas), có khả
năng cháy được với thành phần chính là metan và cacbon dioxide, trong đó thành
phần metan chiếm khoảng trên 50%. Quá trình này được gọi là quá trình lên men kỵ
khí hoặc quá trình sản xuất khí metan sinh học.
Quá trình phân hủy kỵ khí diễn ra qua 3 giai đoạn chính:
 Giai đoạn thủy phân.
 Giai đoạn hình thành axit.
 Giai đoạn lên men metan.
Các giai đoạn này được thực hiện bởi 2 loại vi khuẩn – vi khuẩn axit hóa và vi
khuẩn metan hóa. Chu trình chuyển chất thải hữu cơ thành biogas qua các phản ứng
phức tạp, về cơ bản có thể chia thành 2 pha chính:
 Pha 1 – pha axit: Bao gồm giai đoạn thủy phân và giai đoạn tạo axit liên
kết với nhau, trong đó các chất thải hữu cơ sẽ chuyển hóa phần lớn thành acetate.
 Pha II – pha metan: Là giai đoạn 3 trở lên, trong đó khí CH

C/N, điều kiện dinh dưỡng, yếu tố gây độc của các thành phần dạng vết, tốc độ oxy hóa
khử của cơ chất, thành phần độ ẩm, thời gian lưu trong hầm.
e. Một số kiểu hầm biogas ở Việt Nam
* Loại nắp nổi khí
Bộ phận chứa là một nắp có dạng một cái thùng, được úp trực tiếp vào dịch
phân hủy. Khí sinh ra ở bể phân hủy được thu giữ ở lắp và làm cho lắp nổi lên. Khí
được tích lại càng nhiều thì nắp càng nổi cao. Trọng lượng của nắp tạo ra áp suất
nén vào khí. Khi lấy khí sử dụng, nắp sẽ chìm dần xuống. Khi nạp nguyên liệu mới
qua ở đầu vào qua bể nạp thì nguyên liệu đã phân hủy sẽ tràn ra qua lối ra. Kiểu này
đã được cải tiến ở một số nước bằng cách xây thêm vài vành đai chứa nước quanh
cổ bể phân hủy và úp nắp vào đây để phân hoàn toàn được che kín, không tiếp xúc
với không khí, đảm bảo kỵ khí tốt hơn, tránh cho phân phải chịu tác dộng trực tiếp
của mưa nắng.
* Loại nắp cố định
Bộ phận chứa khí và bể phân hủy được gắn liền với nhau thành một bể kín.
Khí sinh ra được tích lại ở phía trên sẽ tạo ra áp suất nén xuống mặt dịch phân hủy,
đẩy một phần dịch phân hủy tràn lên bể điều áp được nối với lối ra. Giữa bề mặt
dịch phân hủy trong bể và mặt thoáng ở ngoài không khí có một độ chênh nhất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11
định, thể hiện áp suất khí trong thiết bị. Khí tích lại càng nhiều thì độ chênh này
càng lớn. Khi lấy khí sử dụng, dịch phân hủy từ bể điều áp lại dồn vào bể phân hủy
và đẩy khí ra ngoài.
* Loại túi chất dẻo
Có thể coi đây là biến thể của loại nắp cố định. Bể phân hủy là một túi bằng
chất dẻo hoặc cao su. Phần dưới là bể phân hủy, còn phần trên là nơi chứa khí áp
suất. Khí cần thiết có thể tạo ra được bằng cách đặt vật nặng lên phía trên túi, nhờ
vậy không cần bể điều áp.

lượng phân chuồng tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là loại phân
hữu cơ được gọi là phân ủ, trong đó có mùn, một phần chất hữu cơ chưa phân huỷ,
muối khoáng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, một số enzym, chất
kích thích và nhiều loài vi sinh vật hoại sinh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta với ẩm độ cao, nắng nhiều, nhiệt
độ tương đối cao, quá trình phân huỷ các chất hữu cơ diễn ra tương đối nhanh… Sử
dụng phân chuồng bán phân giải là tốt nhất, bởi vì ủ lâu phân ủ sẽ mất nhiều đạm.
Chất lượng và khối lượng phân ủ thay đổi nhiều tuỳ thuộc vào thời gian và
phương pháp ủ phân. Thời gian và phương pháp ủ phân ảnh hưởng đến thành phần
và hoạt động của tập đoàn vi sinh vật phân huỷ và chuyển hoá chất hữu cơ thành
mùn, qua đó mà ảnh hưởng đến chất lượng và khối lượng phân ủ.
Để đảm bảo cho các quá trình hoạt động của vi sinh vật được tiến hành
thuận lợi, nơi ủ phân phải có nền không thấm nước, cao ráo, tránh ứ đọng nước
mưa. Đống phân ủ phải có mái che mưa và để tránh mất đạm. Cạnh nơi ủ phân
cần có hố để chứa nước từ đồng phân chảy ra. Dùng nước phân ở hố này tưới
lại đống phân để giữ độ ẩm cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho tập đoàn vi
sinh vật hoạt động mạnh (Nguyễn Khoa Lý, 2008) [16].
b. Các phương pháp ủ phân
Có 3 phương pháp ủ phân:
* Ủ nóng : Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân được xếp thành từng lớp ở
nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nén. Sau đó tưới nước phân lên,
giữ độ ẩm trong đống phân 60 – 70%. Có thể trộn thêm 1% vôi bột (tính theo khối
lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn. Trộn thêm 1 – 2% supe lân để giữ
đạm. Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân. Hàng ngày tưới nước phân lên
đống phân.
Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60

C tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.
Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để 5 – 6
ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60
o
C lại nén chặt.
Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung
quanh đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ nóng
cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để
giữ cho đạm không bị mất.
Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một số
phân khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men được cho
thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt.
Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn được thời gian so với cách ủ nguội,
nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
Tuỳ theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân mà áp dụng phương pháp ủ phân thích
hợp để vừa đảm bảo có phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân
(Nguyễn Khoa Lý, 2008) [16].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
1.1.2.3. Phương pháp sử dụng chế phẩm sinh học
Có rất nhiều loại chế phẩm hiện đang sử dụng trên thị trường như E.M, TMT,
Biomix,…trong đó được sử dụng rộng rãi nhất là E.M.
a. Khái niệm chế phẩm E.M
E.M (Effective Microorganisms) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu. Chế
phẩm này do Giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa - trường Đại học Tổng hợp Ryukyus,
Okinawoa, Nhật Bản sáng tạo và áp dụng thực tiễn vào đầu năm 1980. Trong chế
phẩm này có khoảng 80 loài vi sinh vật kị khí và hiếu khí thuộc các nhóm: vi khuẩn
quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn. 80 loài vi sinh vật này

để tiến hành quá trình quang hợp thì cây xanh cần phải có ảnh sáng mặt trời,
nước và khí cabonic(CO
2
).
Những nguyên liệu này hoàn toàn có sẵn trong tự nhiên, nhưng hiện tại nông
nghiệp vẫn còn ở tình trạng hiệu quả thấp do hiệu suất sử dụng năng lượng mặt trời
của cây trồng còn thấp. Tình theo lý thuyết, tỷ lệ sử dụng năng lương mặt trời có thể
đạt 10-20%, nhưng thực tế cho đến nay chỉ mưói nhỏ hơn 1%. Tác giả tìm cách đưa
vi khuẩn quang hợp vào trong chế phẩm E.M nhằm làm tăng khả năng và công suất
quang hợp cho cây trồng thông qua việc sử dụng ánh sáng có bước sóng từ 700-
1200mm, mà cây xanh bình thường không có khả năng sử dụng sóng này.
- Nguyên lý thứ 2:
Các vi sinh vật có khả năng phân huỷ các hợp chất hữu cơ để phóng thích ra hồn
hợp tổng hợp như: Amino acid…, cho cây trồng. Do vậy làm tăng hiệu quả của các chất
hữu cơ . Tác giả lựa chọn đưa các vi sinh vật có khả năng phân huỷ các chất hữu cơ vào
chế phẩm chình là nhân tố chìa khoá để đẩy mạnh khả năng sản xuất của cây trồng thông
qua con đường khai thác đặc tính có sẵn của các chất hữu cơ.
Từ hai nguyên lý cơ bản cho thấy: Nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời và các vi sinh
vật có ích, các chất hữu cơ được phân giải. cứ như vậy hiệu quả sử dụng năng lượng ánh
sáng mặt trời sẽ tăng lên và sức sản xuất của cây trồng cũng tăng lên.
- Nguyên lý thứ 3:
Trong tự nhiên có khoảng 5-10 vi sinh vật có lợi, 5-10% vi sinh vật có hại và có tới
80-90% vi sinh vật ở dạng trung gian. Đưa tăng cường vi sinh vật có lợi vào tự nhiên, có
tác dụng lôi kéo vi sinh vật trung gian chuyển sang có ích. Vì vậy khi đưa chế phẩm EM

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

17
vào, vi sinh vật có ích sẽ tăng lên 8-9 lần so với bình thường. EM được coi như nhà lãnh
đạo điều tiết các vi sinh vật có ích phát triển (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011) [7].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status