HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tế và phát triển nông thôn
= = = = = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT DỨA
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BẢO SƠN, HUYỆN LỤC NAM,
TỈNH BẮC GIANG
Tên sinh viên
Chuyên ngành
: ĐỖ THỊ LAN ANH
: KINH TẾ
Lớp
: K56 – KTC
Niên khóa
: 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn
: TS. TRẦN VĂN ĐỨC
Hà Nội – 2015
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những
người luôn quan tâm, động viên, khích lệ em trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thị Lan Anh
3
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trong những năm qua ngành sản xuất chế biến nông sản đang ngày
càng mở rộng và phát triển, đặc biệt là sản xuất dứa nguyên liệu. Bảo Sơn là
một xã có tỷ lệ người dân nghèo khá cao, trước những năm 2000 người dân
và chính quyền địa phương đã khuyến khích đầu tư vào cây dứa nhưng kết
quả mang lại không cao, không tạo nên hiệu quả kinh tế. Từ sau năm 2000
nhờ có sự sáng tạo, dẫn dắt của Đảng ủy, chính quyền địa phương và người
dân đã tìm ra hướng đi mới cho cây dứa Bảo Sơn đó là dứa Queen trái vụ đem
lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân và tạo nên thương hiệu dứa đã được
Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm dứa
của HTX sản xuất và tiêu thụ dứa xã Bảo Sơn (2014). Điều này chứng tỏ cây
dứa đã và đang giúp người dân xóa đói giảm nghèo muốn tìm hiểu sâu về
hiệu quả kinh tế mà cây dứa đem lại tác giả đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá
hiệu quả kinh tế sản xuất dứa trên địa bàn xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh
Bắc Giang.”
Mục tiêu nghiên cứu nhằm góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực
tiễn, đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất dứa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế sản xuất dứa trên địa bàn xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang trong 4 năm từ 2010 – 2014, đồng thời đưa ra một số định
đã và đang được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đường xá bê tông hóa dần,
Bảo Sơn ngày một phát triển.
Tóm lại sản xuất và tiêu thu dứa xã Bảo Sơn trong những năm 2010 –
2014 liên tục mở rộng diễn tích thay thế các cây vải, sắn bằng cây dứa đem lại
hiệu quả kinh tế cao hơn, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động trong và
ngoài xã, cây dứa đã giúp người dân xóa đói giảm nghèo, song cần các cấp
ngành Đảng ủy hỗ trợ vốn đầu tư và nguồn thu đầu ra của dứa để thương hiệu
dứa Bảo sơn vang xa hơn cả trong nước và nước ngoài.
5
MỤC LỤC
6
7
DANH MỤC HÌNH
8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CPSX
Chi phí sản xuất
PTNT
Phát triển nông thôn
QĐ
Quyết định
TTg
Thủ tướng
PRA
Paritici patory rural appraisal
MI
Thu nhập hỗn hợp
GO
Tổng giá trị sản xuất
IC
Chi phí trung gian
TC
thuật trồng còn mang tính truyền thống, việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới
chưa được chú trọng, năng suất và sản lượng chưa tương xứng với tiềm năng
của cây dứa ở nước ta cũng như các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, dứa là
mặt hàng xuất khẩu nhưng chỉ với khối lượng ít. Vì vậy, việc nâng cao hiệu
quả kinh tế cho sản xuất dứa rất quan trọng thì mới đáp ứng nhu cầu cho nhà
máy chế biến và sự cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước.
Bảo Sơn là một xã miền núi của huyện Lục Nam, xã có 14 thôn, dân số
khoảng trên 13.000 nhân khẩu, chủ yếu nhân dân sống bằng nghề sản xuất
nông nghiệp chiếm trên 80%, tỉ lệ hộ nghèo tính đến 01/9/2014 là 13,55%.
Diện tích đất tự nhiên của xã là 2.335,4 ha .Với đặc điểm địa bàn đất đai và
khí hậu của xã phù hợp cho phát triển cây dứa. Không những thế sản xuất dứa
10
trên địa bàn xã đang là một vấn đề bức thiết cần chúng ta nghiên cứu. So với
các cây trồng khác thì việc đem lại hiệu quả hơn và chiếm ưu thế vẫn là cây
dứa. Theo ban thống kê xã Bảo Sơn tổng diện tích dứa trái vụ trên địa bàn xã
từ năm 2010- 2014 là 144 ha.
Được sự quan tâm của Đảng ủy, Uỷ ban các cấp thì đời sống của nhân
dân ngày càng được cải thiện. Các dự án kinh tế được đầu tư tiêu biểu như dự
án dứa, qua quá trình thực hiện dự án thì cây dứa đã có hướng đi đúng cho
người dân trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Đồng thời cây dứa đang dần
khẳng định. Với bước phát triển như vậy, chúng ta hi vọng dứa không chỉ
dừng lại là nguyên liệu cung cấp cho nhà máy và tiêu dùng trong nước mà còn
là một mặt hàng xuất khẩu trong tương lai, khẳng định vị trí vai trò của mình
trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
Theo ban thống kê xã Bảo Sơn, Bắc Giang diện tích trồng dứa( trái vụ)
tăng dần qua các năm 2010 diện tích dứa trái vụ là 80 ha, năm 2011 diện tích
dứa trái vụ là 90 ha, năm 2012 diện tích dứa trái vụ là 121 ha, năm 2013 diện
tích dứa trái vụ là 135 ha, năm 2014 diện tích dứa trái vụ là 150 ha. Đây là
những thuận lợi và khó khăn trên địa bàn xã. Từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế
sản suất dứa và nêu ra một số định hướng cho phát triển sản xuất dứa trong
tương lai...
+ Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang .
+ Phạm vi thời gian của số liệu:
Số liệu thứ cấp: Từ năm 2010- 2014
Số liệu sơ cấp: Điều tra
Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ ngày 15 tháng 01 năm 2015
đến ngày 02 tháng 06 năm 2015.
Điều này chứng tỏ trồng dứa đã và đang là hướng đi mang lại nguồn
thu nhập lớn cho người dân, sau đây chúng tôi sẽ thực hiện đề tài “Đánh giá
hiệu quả kinh tế sản xuất dứa trên địa bàn xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang.”
12
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Hiệu quả kinh tế
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mục tiêu của người sản
xuất là tối đa hoá lợi nhuận, họ luôn quan tâm tới kết quả cuối cùng mà họ thu
được là gì và bao nhiêu, bất kể là người sản xuất kinh doanh hàng hoá gì, quy
mô nhỏ hay lớn thì họ đều có một mục tiêu chung, do đó đây không phải là
mối quan tâm của riêng ai mà là mối quan tâm của toàn xã hội.
Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh
tế, phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế, mà trong đó sản xuất đạt hiệu
quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống và trình độ của người dân
Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng
chi phí, chi phí trung gian, chi phí lao động... Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu
quả càng cao.
Mặc dù chỉ tiêu này phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế tuy
nhiên nó chưa phản ánh được chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Do đó mà không
xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của các yếu tố đầu vào để
nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thứ hai: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế theo quan
điểm này được thể hiện thông qua công thức sau:
H=
Q
C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế.
Q: Gía trị sản xuất
C: Chi phí.
Chỉ tiêu này dùng số tương đối để so sánh mặt chất của vấn đề, từ đó
giúp ta biết được mức độ đạt được hiệu quả của quá trình sản xuất. Tuy nhiên
nó không phản ánh được quy mô của hiệu quả, cái mà mọi đơn vị sản xuất
kinh doanh đều quan tâm. Trong quá trình sản xuất người ta thường kết hợp
cả hai chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối hai chỉ tiêu này bổ sung cho nhau. Từ
đó, giúp cho chúng ta đánh giá hiệu quả kinh tế một cách chính xác và đầy đủ
14
hơn. Tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi hoạt động SXKD mà chúng ta nghiên
cứu tính toán và dùng các chỉ tiêu khác nhau. Qua đó người SXKD sẽ xác
Schmidt và Lovell ( 1979) đã mở rộng phương pháp ALS (1977), đã
chứng minh rằng: Hiệu quả kinh tế là kết quả của hiệu quả kỹ thuật và hiệu
quả phân bổ.
2.1.1.2 Hiệu quả kỹ thuật
Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), hiệu quả kỹ thuật được hiểu là trình
độ kỹ thuật của người sản xuất trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong
quá trình sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật được xác định bằng tỷ số giữa năng suất
thực tế đạt đựợc của người sản xuất so với mức năng suất cao nhất có thể đạt
được tại mỗi mức đầu vào nhất định trong điều kiện công nghệ sản xuất và
giá cả các yếu tố đầu vào, đầu ra không đổi.
Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem
xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này liên quan đến phương
diện vật chất của sản xuất đem lại cho bao nhiêu đơn vị sản xuất.
Hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản
xuất: Q=f(X1¬, X2…Xn ). Nó liên quan đến phương diện của sản xuất. Nó
phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật, trình độ công nghệ sản xuất, khoa học
kỹ thuật được áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, kỹ năng của người
sản xuất trong quá trình sản xuất.
2.1.1.3 Hiệu quả phân bổ
Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu để đánh
giá hiệu quả trong yếu tố sản xuất và giá đầu vào, được tính để phản ánh giá
trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực.
Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về
giá của yếu tố đầu ra, vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá. Việc xác định
hiệu quả này giống như các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi
nhuận, điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải tính bằng giá trị chi
phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
16
+ HQKT: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế
và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế
mang lại.
+ HQ xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả của các lợi ích về
mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại.
+ HQ kinh tế - xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp
về mặt kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo
vệ môi trường, lợi ích công cộng…
+ HQ phát triển và bền vững: Là hiệu quả kinh tế - xã hội có được do
tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và đảm bảo những lợi
ích kinh tế, xã hội lâu dài.
- Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và
hướng tác động vào sản xuất thì chia HQKT thành :
+ Hiệu quả sử dụng đất đai:
H=
GO
∑ DT
Trong đó:
∑ DT là tổng diện tích gieo trồng.
H là giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích.
H=
VA
∑ DT
GO
∑ LD
Trong đó: H là tổng giá trị sản xuất/công lao động.
∑ LD là tổng số công lao động.
H=
MI
∑ LD
Trong đó:
∑ LD là tổng số công lao động.
H là thu nhập hổn hợp/công lao động.
H=
VA
∑ LD
Trong đó:
∑ LD là tổng số công lao động.
H là giá trị gia tăng/công lao động.
H=
Pr
Về mặt dinh dưỡng, quả dứa được xem là “hoàng hậu” trong các loại
quả vì hương vị thơm ngon và giàu các chất dinh dưỡng. Wooter và Blank
(1950) phân tích thành phần dinh dưỡng trong quả dứa Cayenne ở Hawai cho
thấy có 11- 15% đường tổng số (trong đó đường saccarô chiếm 1/3, ngoài ra
còn có đường glucô và fructô), axit 0,6% (axitxitric chiếm 87%, còn lại axit
malic và các axit khác). Hàm lượng các loại vitamin như vitamin A – 130 đơn
vị quốc tế. Vitamin B1 – 0,08 mg, vitamin B2 – 0,02 mg, vitamin C – 4,2
mg/100g. Các khoáng : Ca – 16 mg, Lân – 11mg, Fe - 0,3 mg; Cu – 0.07 mg.
Protein – 0,4g, lipit – 0,2g. Hydrat cacbon – 13,7g, nước – 85,3g, xenlulo – 0.
Ngoài ra quả dứa còn có men bromelin giúp cho việc tiêu hóa rất tốt.
Người ta đã chiết và sản xuất bromelin dùng trong công nghiệp thực phẩm,
thuộc da, vật liệu làm phim…
Trần Thế Tục và Vũ Mạnh Hải (2002) đã nêu công dụng của dứa là
dùng ăn tươi, và dùng để chế biến các loại đồ hộp, làm rượu, làm giấm, làm
nước ép, nước cô đặc, làm bột dứa dùng cho giải khát…
Sản phẩm phụ chế biến dùng lên men làm thức ăn cho gia súc.
Sau khi thu hoạch quả, lá dứa dùng để lấy sợi ( có 2 - 2,5% xenlulô), sản
phẩm dệt từ dứa bền, đẹp, chất lượng còn hơn cả đay. Thân cây dứa có chứa
12,5% tinh bột là nguyên liệu dùng lên men rượu, làm môi trường để nuôi cấy
nấm và vi khuẩn. Cần phải thấy thêm rằng dứa là cây ăn quả chịu hạn, trồng ở
đồi theo đường đồng mức có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn và các
giống dứa có thể trồng xen ở tầng thấp dưới tán các cây ăn quả khác và cây
công nghiệp vừa có tác dụng phủ đất chống xói mòn vừa tăng thu nhập.
20
Để tận dụng được việc khai thác quỹ đất trống đồi trọc các vùng trong
nước, sử dụng cây dứa để mở rộng diện tích nhằm tăng sản lượng quả tươi
cho tiêu dùng và nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thì công tác cải thiện
san cho đất bằng phẳng, không bị lồi, lõm, kết hợp bón lót phân chuồng hoặc
phân vi sinh cùng với phân lân và vôi.
2.1.5.3 Mật độ và cách trồng
Trồng 50.000-60.000 chồi/ha là phù hợp. Khi thiết kế có thể trồng dứa
theo hàng kép đôi hoặc hàng kép 4. Với trồng hàng kép đôi, khoảng cách giữa
tim của 2 hàng kép 80cm, khoảng cách giữa 2 hàng đơn trong một hàng kép là
30-35cm hoặc 40cm, khoảng cách giữa các cây trong hàng đơn là 30cm. Khi
trồng hàng kép 4, khoảng cách giữa 2 hàng kép, 2 hàng đơn và khoảng cách
giữa các cây trên hàng tương tự như trong hàng kép đôi.
2.1.5.4 Thời vụ
Dứa có thể trồng quanh năm nhưng nên trồng vào vụ Xuân (các tháng
3-4), vụ thu (các tháng 8-9).
2.1.5.5 Làm cỏ
Dùng Diuron 2-3kg/ha với 1000-3000 lít nước phun cho 1ha, có thể
dùng máy cắt cỏ cắt sát gốc dứa. Cấm sử dụng thuốc diệt cỏ 2,4D
2.1.5.6. Bón phân:
- Bón lót: 10 tấn phân chuồng + 0,5 -0,7 tấn vôi cho 1ha.
- Bón thúc: Trong suốt 1 vụ quả (18-20 tháng tuổi): urê 1.100-1.300kg,
lân nung chảy 1.450kg-1.750kg, sulfate kali 1.250kg-1.500kg/ha.
- Lượng phân cho 1 cây dứa theo định mức: 22 gr urê + 25-30gr lân
nung chảy + 25 sulfate kali
Cách bón: Bón lót trước khi trồng 3-4 ngày. Các đợt bón thúc như sau:
+ Lần 1: 2-3 tháng sau khi trồng bón 1/2 lượng phân lân + 1/2 lượng
phân đạm +1/3 lương phân kali.
+ Lần 2: 5-6 tháng sau khi trồng, bón 1/3 lượng phân đạm + 1/3 lượng
phân kali.
22
+ Lần 3: 12-14 tháng sau khi trồng, trước khi xử lý ra hoa 2 tháng bón
Cần thiết ngừng bón phân từ 1,5-2 tháng trước khi xử lý, đặc biệt là phân
đạm. Trường hợp xử lý xong gặp mưa to, thì phải xử lý lại .
-
. Hoá chất và cách xử lý:
Hoá chất và cách xử lý như sau:
- Có thể sử dụng đất đèn (CaC2) ở 2 dạng: Hoà vào nước nồng độ 1,01,5% phun trực tiếp vào nõn khoảng 40-45ml dung dịch cho 1 cây hoặc đập
nhỏ thành viên (khoảng 1,0-1,5gr/viên) bỏ trực tiếp vào nõn dứa sau khi đã
tưới nước. Xử lý vào ban đêm cho tỷ lệ ra hoa đạt cao nhất.
- Đối với ethrel (còn gọi là ethephon) chỉ sử dụng dung dịch, pha ở
nồng độ 0,5% trộn thêm 1,5% urê phun đều cho toàn cây, lượng phun khoảng
2000lít/ha. Xử lý khi trời dâm mát hoặc xử lý vào ban đêm.
2.1.5.11 Phòng trừ sâu bệnh
- Rệp sáp (Dysmicocus sp):
Xuất hiện nhiều trong mùa nắng ấm, rệp sáp gây hại trên rễ, chồi, thân,
lá, hoa và quả của cây dứa. Rệp sáp nguy hiểm vì là môi giới truyền bệnh
Wilt.
Phòng trừ: Xử lý trồi trước khi trồng. Phòng trị kiến sống cộng sinh với
rệp sáp. Vệ sinh vườn, nhổ bỏ và tiêu huỷ các cây bị rệp gây hại. Phun 1 trong
các loại thuốc như: Butyl 10WP 25gr/bình 8lít; Lancer 75WP 15-20gr/bình
8lít; Kumulus 80DF 10-20gr/bình 8 lít; Dầu DC Tron –Pus theo hướng dẫn
của chuyên môn.
-
Bọ cánh cứng (Antitrogus sp)
Bọ cánh cứng sống và đẻ trứng dưới đất, ấu trùng nở ra và có màu
trắng dài khoảng 35mm gây hại bộ rễ làm cây bị héo và dễ đổ ngã.
Phòng trừ: Nên xử lý đất trước khi trồng dứa thường xuyên rải thuốc
thống mương rãnh phải đảm bảo trong mùa mưa bộ rễ bị ngập úng, cây giống
được xử lý thuốc trừ nấm trước khi đem trồng. Sau khi trồng dùng 1 trong các
loại thuốc để phun định kỳ như: Alpine 80WP, Mexyl MZ 72WP, Aliette,
Ridomil theo hướng dẫn của chuyên môn.
-
Bệnh thối thân, thối gốc dứa (do nấm Thielaviosis paradoxa):
Bệnh thường gây hại ngay lõi thân cây dứa làm cho phần thân bị thối
đen.
Phòng trừ: Đối với cây con chưa đem trồng ngay giữ nơi thoáng mát,
khô ráo và nên dùng 1 trong các loại thuốc để xử lý bệnh trước khi đem trồng
như: Alpine 80WP, hạt vàng 50 WP, Bavistin 50FL, COC -85 theo hướng dẫn.
-
Bệnh thối trái dứa (Thielaviosis paradoxa)
25