ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LA THỊ THU HỒNG Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỂU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY NGÔ TẠI ĐỊA BÀN
XÃ THÔNG HUỀ, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế và phát triển nông thôn
Khóa : 2010 - 2014 THÁI NGUYÊN - 2014 i
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Đánh giá hiểu quả kinh tế của cây ngô tại địa bàn
xã Thông Huề, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”, chuyên ngành Kinh tế
nông nghiệp là chuyên ngành của riêng tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sắn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài
này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên
cứu khoa học nào khác. Các số liệu trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Tác giả khóa luận
LA THỊ THU HỒNG
quá trình nghiên cứu khóa luận.
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của
em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong muốn nhận được những ý
kiến đóng góp của các thầy - cô giáo và bạn bè để bài khóa luận của em được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Sinh viên La Thị Thu Hồng iiiDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt
Nghĩa
1 BQ Bình quân
2 CC Cơ cấu
3 CIMMYT Trung tâm cải tạo giống lúa mì quốc tế
4 CLĐ Công lao động
5 DT Diện tích
6 ĐVT Đơn vị tính
7 FAO Food and Agriculture Organization of the United
Nations (Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
giai đoạn 19
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Thông Huề năm 2011 -2013 31
Bảng 3.2. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng của xã Thông Huề
năm 2013 35
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất các ngành của xã Thông Huề qua 3
năm (2011 - 2013) 36
Bảng 3.4. Tình hình dân số và lao động của xã Thông Huề qua 3
năm (2011 - 2013) 38
Bảng 3.5. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vụ Đông Xuân tại xã Thông
Huề qua 3 năm 2011 - 2013 43
Bảng 3.6. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vụ Hè Thu tại xã Thông Huề
qua 3 năm 2011 - 2013 44
Bảng 3.7. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô cả năm tại xã Thông Huề qua 3
năm 2011 - 2013 44
Bảng 3.8. Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ điều tra 48
Bảng 3.9. Máy móc, thiết bị của các nhóm hộ nghiên cứu 50
Bảng 3.10. Giá trị sản xuất thu từ một số cây trồng khác của các nhóm hộ
điều tra năm 2013 51
Bảng 3.11. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vụ Đông Xuân của các nhóm
hộ điều tra năm 2013 52 v
Bảng 3.12. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vụ Hè Thu của các nhóm
hộ điều tra năm 2013 53
Bảng 3.13. Tổng diện tích, năng suất, sản lượng ngô cả năm của các nhóm
hộ điều tra năm 2013 54
Bảng 3.14. Chi phí sản xuất bình quân cho 1 sào ngô của các nhóm
hộ điều tra 55
Bảng 3.15. Kết quả sản xuất một sào ngô trong một năm của các nhóm hộ
vii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1. Mục tiêu chung 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa trong học tập 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
4. Đóng góp của đề tài 4
Chương 1
:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
5
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất Ngô 5
1.1.1.1. Giới thiệu chung về cây Ngô 5
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất cây ngô 5
1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 10
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
28
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1.1. Vị trí địa lý 28
3.1.1.2. Đặc điểm địa hình 28
3.1.1.3. Thời tiết, khí hậu và thủy văn 29
3.1.1.4. Tài nguyên đất 30
3.1.1.5. Tài nguyên nước 32
3.1.1.6. Tài nguyên nhân văn 33
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế của xã Thông Huề 34
3.1.2.2. Dân số, lao động và việc làm 37
3.1.2.3. Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng 39
3.2. Thực trạng phát triển sản xuất ngô ở xã Thông Huề, huyện Trùng Khánh,
tỉnh Cao Bằng 42
3.2.1. Tình hình phát triển sản xuất ngô ở xã Thông Huề 42
3.2.1.1. Tình hình phát triển sản xuất ngô ở xã Thông Huề 42
3.2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn về sản xuất, chế biến, tiêu thụ ngô ở xã
Thông Huề 45
3.2.2. Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 46
3.2.2.1. Đặc điểm cơ bản của các nhóm hộ điều tra 46
3.2.2.2. Máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất ngô của hộ 50
3.2.2.3. Giá trị sản xuất thu từ một số cây trồng khác của các nhóm
hộ điều tra
51
3.2.3. Tình hình sản xuất ngô của các nhóm hộ điều tra 52 ix
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
1. Kết luận 74
2. Khuyến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
77
I. Tài liệu tiếng việt 77
II. Tài liệu Internet 771
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngành nông nghiệp là ngành kinh tế
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Từ trước đến
nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn
và đã có những chủ chương, chính sách thật đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển
của khu vực này. Trải qua các giai đoạn phát triển, nông dân, nông nghiệp và
nông thôn đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc đổi mới hiện nay. Cho
đến nay, nông nghiệp nước ta đang có bước phát triển tương đối toàn diện, tăng
trưởng khá, quan hệ sản xuất từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển
của nền nông nghiệp hàng hóa, những thành tựu đó đã góp phần hết sức quan
trọng vào sự ổn định kinh tế xã hội, tạo tiền đề đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước. Đóng góp một phần không nhỏ đối với sự phát triển là hệ
thống các cây lương thực, trong đó có cây ngô. Mặc dù cây lúa vẫn đang giữ vị
trí đứng đầu về sản lượng cũng như tầm quan trọng về khả năng phát triển trong
tương lai nhưng cây ngô cũng đã từng bước chứng tỏ được mình.
Cây ngô là một trong những cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, có
năng suất và giá trị kinh tế lớn của loài người. Ngô là cây nuôi sống gần 1/3 số
dân trên thế giới. Bên cạnh giá trị to lớn về mặt lương thực, cây ngô còn là cây
số làm cho quỹ đất hạn hẹp đòi hỏi làm sao nâng cao năng suất trên phần diện
tích có hạn mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và môi trường
để hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều
người nông dân chưa dám mạnh dạn đầu tư nhiều kể cả về vốn, phân bón hay
mở rộng diện tích cho phát triển cây ngô, vì vậy đã làm cho hiệu quả sản xuất
chưa cao so với mong muốn, sự phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng
hiện có của địa phương.
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của
cây ngô tại địa bàn xã Thông Huề, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”. 3
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất
cây ngô, trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngô trên địa bàn xã, góp phần
thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã.
2.2. Mục tiêu cụ thể
• Nghiên cứu thực trạng việc sản xuất ngô tại địa bàn xã Thông Huề, huyện
Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
• Đánh giá và so sánh hiệu quả của việc sản xuất ngô với sản xuất cây
lúa trên địa bàn xã.
• Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả việc sản xuất ngô.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong học tập
• Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức
đã học và làm quen dần với công việc thực tế.
• Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương
pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể.
chi Maydeae, thuộc họ hoa thảo (Gramineae). Hiện thế giới đang tồn tại hai loại
hệ thống phân loại đối với loại Zea, là Wilkes (1967) và Iltis - Doebly (1989).
Ngô có nguồn gốc từ Trung Mỹ song cây ngô có thích nghi nhanh với
những điều kiện sinh thái khác nhau trên thế giới [3].
Trên phạm vi thế giới các nhà khoa học đã chia sinh thái ngô thành 4
vùng chính: Ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới cao (trên 2000m so với mặt nước
biển), nhiệt đới thấp (dưới 2000m).
Theo phân loại này Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới thấp,
các bộ giống từ vùng nhiệt đới thấp biểu hiện sự thích ứng hơn cả thông qua
khả năng chống chịu và năng suất, kể cả ở các thảo nguyên cao phía Bắc hoặc
vụ Đông ở đồng bằng Bắc Bộ.
Ở Việt Nam, nguồn gen được bảo tồn tại viện nghiên cứu ngô với
khoảng 400 mẫu giống thụ phấn tự do và 3.000 dòng [7].
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất cây ngô
Nếu coi cây ngô là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo
hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm góp
phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất ngô
a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 6
+ Điều kiện đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây ngô, nó là yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng sản phẩm ngô.
Để giúp cây đứng vững và có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh
được đều nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ đất, do vậy năng suất cây trồng cao
hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng có trong đất.
Để ngô có năng suất cao ta nên trồng xen ngô với đỗ tương, vừa thu
được sản phẩm chính vừa có được sản phẩm phụ, mặt khác đỗ tương là cây họ
- Xử lý hạt trước khi gieo: Để phòng trừ sâu bệnh giai đoạn đầu vụ đồng
thời tạo điều kiện thích hợp để thúc đẩy quá trình mọc mầm ta cần: Ngâm hạt
vào nước vôi khoảng 4 - 8 giờ để diệt nấm bệnh hoặc ngâm vào nước có nhiệt độ
40 - 50ºC.
- Độ sâu khi gieo hạt: Để cây nảy mầm và mọc nhanh hơn ở thời kì
gieo sớm, cần gieo nông để tận dụng nhiệt độ đất có lợi trên bề mặt. Độ sâu
lấp đất khi gieo hạt trung bình 5 - 6cm. Tuy nhiên, ở những vùng khô hạn nên
gieo ở độ sâu sâu hơn.
- Đất trồng ngô: Đất trồng ngô thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, màu mỡ
cao, dễ thoát nước, đủ ẩm, nhưng không bị úng, do đó khi trồng phải làm đất
tơi xốp, sâu, thoáng, giữ ẩm tốt, bừa sạch cỏ dại.
- Mật độ khoảng cách: Mỗi vùng, mỗi giống cần áp dụng khoảng cách
hợp lý, để tận dụng tối đa dinh dưỡng đất và thời gian chiếu sáng, cũng như
cường độ ánh sáng nhằm đạt năng suất cao nhất. Đối với đất tốt hoặc cường
độ ánh sáng yếu thì cần giống ngô có mật độ thưa. Tùy thuộc vào thời gian
sinh trưởng của giống và đặc tính của giống ngô.
+ Đối với cây ngắn ngày mật độ 6 - 8 vạn cây/ha, khoảng cách 60cm x
25cm x 1 cây.
+ Đối với cây trung bình mật độ 5 - 7 vạn cây/ha, khoảng cách 80cm x
40 - 50cm x 2 cây 8
- Bón phân cho ngô: Muốn cho ngô đạt năng suất cao phải bón đủ
lượng phân bón và khi bón phân phải dựa vào mùa vụ, khả năng phát triển
của rễ, thân, nhu cầu sinh lý về phân bón, đồng thời dựa vào hàm lượng dinh
dưỡng trong đất. Lượng phân bón: Phân chuồng 10 - 15 tấn/ha. Đạm Urê: 300
- 400 kg/ha. Supe lân 300 - 450 kg/ha. Kali 120 - 150 kg/ha. Đối với đất bãi
ven sông được bồi hàng năm, đất phát triển trên đá bazan thì không cần bón
phân chuồng.
trên cây xấu hoặc bẻ cờ sau khi thụ tinh xong để tập trung dinh dưỡng về bắp
hoặc thụ phấn bổ khuyết.
- Thu hoạch ngô: Thu hoạch có ý nghĩa quan trọng đến năng suất, chất
lượng ngô. Thu hoạch sớm trước khi ngô chín sinh lí do ngô chưa đủ thời gian
tích luỹ vật chất vào hạt nên khối lượng hạt thấp. Thu hoạch quá muộn, hạt có
thể bị mọt hoặc mốc làm giảm chất lượng hạt.
Độ chín của hạt và thời điểm thu hoạch có ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất và chất lượng ngô. Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi ngô chín già,
toàn bộ ruộng ngô đã có 80 - 85% số bắp có lá bị chín vàng (râu ngô khô, đen,
bẹ ngô chuyển từ màu xanh sang màu vàng rơm, nếu là ngô lai chân hạt đã có
điểm đen). Không nên để ngô chín treo đèn ở ngoài nương rồi mới thu hoạch,
vì khi ngô chín treo đèn, nếu gặp mưa hoặc ẩm độ không khí cao, ngô dễ bị
thối, mốc, nảy mầm tại ruộng, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ngô bảo
quản. Chọn ngày khô ráo, nắng để thu hoạch ngô nhằm hạn chế ngô bị ướt do
mưa. Nếu ngô chín vào đợt mưa dài ngày (nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc,
vụ thu hoạch ngô thường trùng vào các dịp này), việc nên làm là cần vặt râu,
bẻ gập bắp ngô chúi xuống để nước mưa không thâm vào trong làm thối hỏng
hạt ngô. Đến khi nắng ráo sẽ thu về phơi.
Thu xong vận chuyển về nhà ngay và tránh đổ đống (vì sẽ làm đống
bắp nhanh chóng bốc nóng, toả nhiệt gây thối mốc) [8].
c. Nhóm nhân tố về kinh tế
+ Thị trường 10
- Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại
của cơ sở sản xuất ngô, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường,
mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả
lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và
Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì? Được đặt lên hàng đầu, mang tính
càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất
lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế [1].
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
• Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ
tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả
cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là
không lãng phí. Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn
năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh
tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản
lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí.
• Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy
luật kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức
sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội.
• Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của
kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản
xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó.
• Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa
chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử
dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó.
Tóm lại: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được và chi phí nguồn lực bỏ ra. Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ
ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết
quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau nhưng vẫn phải dựa trên
nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra [1]. 12
1.1.2.2. Bản chất của hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm của Mác thì bản chất hiệu quả kinh tế xuất phát từ yêu
cầu của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Đó là sự đáp ứng ngày càng cao
Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại
không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất. Mục đích cuối cùng của sản
xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà
còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn.
Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát
triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của mọi thành viên
trong xã hội. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và
tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả
kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng
năng suất lao động và tiết kiệm thời gian làm việc.
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải
đạt hiệu quả tối đa và chi phí tối thiểu. Nó được hiểu theo nghĩa rộng là chi
phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực. Chi phí sử dụng nguồn lực
bao gồm cả chi phí cơ hội.
1.1.2.3. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực
tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá
hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi
thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định
lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển 14
kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá cũng khác nhau. Tùy theo
nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và