ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ HUYÊN Tên đề tài:
“KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI ĐỊA BÀN
XÃ CHÍ VIỄN, HUYỆN TRÙNG KHÁNH,
TỈNH CAO BẰNG ĐẾN NĂM 2013’’
ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi trường
Lớp : 42C - KHMT
Khóa học : 2010 - 2014
Sinh viên
Nông Thị Huyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 13
Bảng 4.2 Tình hình dân số 27
Bảng 4.3 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với bộ tiêu chí của
xã Chí Viễn 28
Bảng 4.4 Thực trạng Giao thông của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 30
Bảng 4.5 Thực trạng về vấn đề thủy lợi của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí. 31
Bảng 4.6 Thực trạng Điện của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 32
Bảng 4.7 Thực trạng về vấn đề trường học của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí
33
Bảng 4.8 Thực trạng Cơ sở vật chất VH của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 34
Bảng 4.9 Thực trạng Chợ nông thôn của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 35
Bảng 4.10 Thực trạng Bưu điện của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 35
Bảng 4.11 Thực trạng Nhà ở dân cư của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 36
Bảng 4.12 Thực trạng Thu nhập của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 36
Bảng 4.13 Thực trạng Hộ nghèo của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 37
Bảng 4.14 Thực trạng Hình thức tổ chức sản xuất của Xã Chí Viễn so với bộ
tiêu chí 38
Bảng 4.15 Thực trạng Giáo dục của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 39
Bảng 4.16 Thực trạng Y tế của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 39
Bảng 4.17 Thực trạng Văn hóa của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 40
Bảng 4.18 Thực trạng Môi trường của Xã Chí Viễn so với bộ tiêu chí 41
Bảng 4.19 Thực trạng Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnhcủa Xã
Chí Viễn so với bộ tiêu chí 42
km Ki lô mét
m Mét
m
2
Mét vuông
% Phần trăm
mm mi li mét
KVA kilovolf ampere
ha hecta DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
… - NQ/TW Nghị quyết trung ương
…/QĐ-TTg Quyết định của thủ tướng chính phủ
…/…/TT-BNNPTNT Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2.1.4. Vai trò của mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội 9
2.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới. 10
2.1.6 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới. 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Mô hình xây dựng nông thôn mới ở các nước trên thế giới 15
2.2.1.1. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc 15
2.2.1.2-Xây dựng nông thôn mới ở Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông
nghiệp” 16
2.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển nông thôn ở Việt Nam 17
2.2.3. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
3.1 Đối tượng: 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22 3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.3.1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế - xã hội của Xã Chí Viễn. 22
3.3.2. Thực trạng nông thôn xã Chí Viễn so với tiêu chí nông thôn mới. 22
3.3.3. Kết quả và phương hướng của xã chí viễn đến năm 2015, thực hiện
phát triển Nông Thôn Mới 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu,số liệu, thông tin thứ cấp 22
3.4.2. phương pháp điều tra trực tiếp trên địa bàn xã 22
3.4.3 Phương pháp tổng hợp thông tin phân tích, so sánh , đánh giá 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 24
4.3.3. 3. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 63
4.3.3. 4. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học
công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân 64
4.3.3.5. Củng cố nâng cao chất lượng tổ chức đảng, vai trò của chính quyền
và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sơ để thực hiện có hiệu quả chương trình
xây dựng nông thôn mới 64
4.3.3.6. Về cơ chế huy động nguồn vốn đầu tư 65
4.3.3. 7. Phải có sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây
dựng mô hình NTM 65
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1. Kết luận 69
5.2- Kiến nghị 70 1
Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Ngày 4-
6-2010, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sau hơn hơn một năm hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới đã
làm thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn, nếp sống, nếp nghĩ. Giúp
việc ở nhiều ngành nghề khác nhau.
- Số liệu thu thập phải chính xác, khác quan, trung thực.
- tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các
thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương, có tính khả
thi cao.
1.5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
- Củng cố kiến thức về nông thôn mới cho sinh viên.
- Giúp sinh viên tiếp xúc thực tế, nâng cao năng lực, rèn luyện kĩ năng và
trang bị kiến thức thực tế phục vụ cho quá trình công tác sau này.
- Là tài liệu tham khảo cho khoa Tài nguyên – Môi trường, nhà trường và
các sinh viên quan tâm.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các địa phương khác có thể nhìn nhận, khai
thác và áp dụng và phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu
của địa phương mình
- Đề xuất những giải pháp khả thi để khắc phục những khó khăn nhằm
thực hiện tốt hơn chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm cải thiện đời
sống người dân nông thôn.
nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp
hơn so với đô thị.
Một ý kiến khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm
nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn
trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng trong từng
khía cạnh cụ thể và từng quốc gia nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển,
cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Như vậy, khái niệm nông
thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến 4
trình phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện
Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và
môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khác”(3)
Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời
sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá
và môi trường, quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông
thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác.
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình
phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao
quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải
quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự
tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý
chí.
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới.
Trước hết chúng ta cần phải có cái hiểu đúng về nông thôn mới. Khái
càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển;
(5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. . Đô thị hóa và phi nông
hóa nông dân chính là nguồn động lực quan trọng để xây dựng nông thôn
mới. Xây dựng nông thôn mới phải đặt trong bối cảnh đô thị hóa. Trong khi
đó, chuyển dịch lao động nông thôn chính là nội dung quan trọng của sự
nghiệp xây dưng nông thôn mới và chủ thể là các tổ chức nông dân. Các tổ
chức hợp tác khu xã nông dân kiểu mới đóng một vai trò đặc biệt trong sự
nghiệp này.
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông
thôn khác nhau. Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn
được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân
chủ hóa và văn minh hóa.
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những KHKT hiện
đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn
hóa, tinh thần.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu
cầu phát triển; Có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;
Đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội;
Tiến bộ hơn so với mô hình cũ; Chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên cả nước. Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư
duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát
triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân,
nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu 6
hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và
liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ
phải có sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, chính quyền địa phương và sự cố
gắng, nỗ lực của toàn thể cộng đồng để thực hiện Chương trình có hiệu quả
trên địa bàn của tỉnh: 7
+ Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát.
Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu. Xây dựng tự phát,
kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét văn hóa truyền
thống bị mai một. Nhà nào mạnh người ấy tự ý phát triển, xây dựng tràn lan
không theo một quy hoạch hay khuôn mẫu nhất định nảo cả. Làm mất mỹ
quan nông thôn.
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, chưa trở thành động lực lớn
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.
Trong đó giao thông nông thôn, đặc biệt là ở các xã khó khăn vùng sâu,
vùng xa trở thành rào cản lớn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, cần được đầu tư mạnh mẽ phục vụ sản xuất và sinh hoạt của cư dân
nông thôn.
Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Tỷ
lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25%. Giao thông chất
lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao
thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn
quy định. Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp,
quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22-25%), nông
dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định. Hệ thống các
trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về
cơ sở vật chất thấp. Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp. Cả nước hiện còn
hơn hàng nghìn nhà ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn
được xây không có quy hoạch, quy chuẩn.
sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác,
kinh tế hộ kém phát triển.
- Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn
chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản
chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng
khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong
nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ.
- Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành
phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế
trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao,
cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm
nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
- Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá
truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục );
nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã
hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.
- Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3
yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn 9
mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa.
- Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn
lạc hậu, nông dân nghèo khó.
Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời
sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hóa
trọng kỉ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã.
Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các
đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực
vào xây dựng nông thôn mới.
* Vấn đề văn hóa- xã hội.
Xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói, giảm
nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
Xây dựng khu dân cư đoàn kết, phát triển cộng đồng, tinh thân bền vững
từ các dòng họ phát triển lâu dài.
*vấn đề môi trường.
Xây dựng và củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái. Bảo vệ rừng đầu
nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí vè chất thải từ các
khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.
Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình
hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kĩ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần. Nhân
dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách. Trên tinh thần
đó, các chính sách kinh tế- xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô
hình nông thôn mới.
* Vấn đề về con người.
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có,
kết tinh các tư cách: Công dân, dân của làng, con người của các dòng họ, gia
đình
2.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường,
kênh mương, trường học, hội trường…mà cái chính là qua cách làm này sẽ
tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin,
tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới
năng động hơn. Phải xác định rằng, đây không phải đề án đầu tư của Nhà
* Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu
nhập
- Căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu kinh
tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
- Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi
là lợi thế, có khối lượng hàng hóa lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hóa
sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước và
nhân lực tại địa phương. 12
- Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hàng
hóa nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kĩ thuật chuyển
giao tiến bộ khoa học, tín dụng…
- Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi hợp lý.
- Củng cố, tăng cương quan hệ sản xuất, tư vấn hỗ trợ việc hình thành và
hoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến
ngư…tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm.
* Xây dưng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm
phi nông nghiệp
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển được
ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn
“trắng” nghề.
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề
cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý
môi trường, hỗ trợ tư vấn thi trường để phát triển bền vững.
* Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, chuyển đổi
* Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm
- Nhóm I: Quy hoạch (01 tiêu chí)
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội ( 08 tiêu chí)
- Nhóm III; Kinh tế và tổ chức sản xuất (04 tiêu chí)
- Nhóm IV: Văn hóa – xã hội – môi trường (04 tiêu chí)
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (02 tiêu chí)
Bảng 4.1 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
STT Tên tiêu chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ
tiêuphải
đạt
I. VỀ QUY HOACH
Quy hoạch và sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu
cho phát triển sản xuất nông nghiệp hành hoá,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội –
môi trường theo chuẩn mới.
1
Quy hoạch
và thực hiện
quy hoạch
Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và
chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng
văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.
Đạt
II. HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa
hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo,
tiểu học, trung học cơ sở có vật chất đạt chuẩn
quốc gia.
70%
Nhà văn hóa và khu th
ể thao xã đạt chuẩn của Bộ
Văn hóa thể thao và du lịch.
Đạt
6
Cơ sở vật
chất văn hóa
Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn
đạt chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch.
100%
7
Chợ nông
thôn
Đạt chuẩn của Bộ Xây dựng.
Đạt
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông. Đạt
8 Bưu điện
Có internet đến thôn. Đạt
Nhà t
ạm, nhà dột nát. Không
9
Nhà
ở dân
cư
15
tế.
Y tế xã đạt chuẩn quốc gia. Đạt
16 Văn hóa
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn
làng văn hóa theo quy định của Bộ văn hóa thể
thao và du lịch.
Đạt
Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch hợp vệ
sinh theo quy chuẩn Quốc gia.
70%
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn v
ề
môi trường.
Đạt
Không có các hoạt động gây suy giảm môi trư
ờng
và có các hoạt động phát triển môi trường xanh,
sạch đẹp.
Đạt
Ngh
ĩa trang được xây dựng theo quy hoạch. Đạt
17 Môi trường
Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo
quy định.
Đạt
V. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Cán bộ xã đạt chuẩn. Đạt
thế kỷ 19, xuất phát điểm là một trong những quốc gia nghèo đói. Cuối thập 16
kỷ 60, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, phần lớn người dân không
đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng và phải dùng
đèn dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá. Lúc ấy, nền kinh tế của Hàn
Quốc phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước, lũ lụt và hạn hạn lại
xảy ra thường xuyên. Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn
và vô vọng. Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo.
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá mà
không có sự trợ giúp của Chính phủ. Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất
nhiều và nhận ra rằng “Viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người
dân không nghĩ cách tự giúp chính mình”. Hơn thế nữa, khuyến khích người
dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng nông thôn mới
của Hàn Quốc sau này (Saemaul Udong).
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu
rất to lớn, sau 40 năm đưa đất nước Hàn Quốc từ nghèo đói sang một nước
phát triển, nằm trong tốp G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người
hơn 30.000 USD/năm.
2.2.1.2-Xây dựng nông thôn mới ở Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông
nghiệp”.
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông
nghiệp. Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới.
Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước
ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa.
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông
nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của
Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số
làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh
thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp – nông thôn –
nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xã hội Việt Nam. Từ khi
đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất
đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát
triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển
kinh tế xã hội Việt Nam.
Quá trình đổi mới chính sách đất đai ở nông thôn Việt Nam lấy sở hữu
toàn dân về đất đai làm tiền đề, lấy chế độ khoán sản phẩm đến từng hộ gia
đình ở nông thôn làm khâu đột phá. Thông qua giao quyền sử dụng đất cho
nông dân, xác nhận bằng hình thức luật pháp quyền sử dụng đất lâu dài và địa
vị kinh tế chủ thể của nông dân, Việt Nam đã từng bước thương mại hóa đất
đai và quy mô hóa việc kinh doanh đất đai. Quá trình này nhìn chung trải qua
3 giai đoạn:
Giai đoạn I: chuyển từ chế độ tập thể hóa nông nghiệp sang chế độ khoán sản
phẩm đến từng hộ gia đình trong những năm 80 thế kỷ XX.
Tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra
Nghị quyết số 10 về “Đổi mới quản lý nông nghiệp”, quyết định thực hiện chế