§¹I häc Th¸i Nguyªn
Trêng §¹i häc N«ng L©m
NGUYỄN KHÁNH HẠ Tên đề tài:
"ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HỒNG VIỆT HUYỆN HÒA AN TỈNH CAO
BẰNG GIAI ĐOẠN 2010 - 2013"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
đó, hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn,
đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về kiến thức luận, phương pháp làm
việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất và nghiên
cứu khoa học.
Từ những cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm
khoa Quản lý tài nguyên, em đã tiến hành thực tập tại UBND xã Hồng Việt từ
ngày 12/02/2014 đến ngày 30/4/2014 với đề tài: “Đánh giá công tác quản lý
nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng giai đoạn 2010-2013”.
Có được kết quả này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan
tâm của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa, sự tận tình giúp đỡ của thầy giáo
ThS. Nguyễn Ngọc Anh và các thầy, cô giáo trong khoa.
Cùng nhân dịp này, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cán bộ
UBND xã, Ban Địa chính xã đã giúp đỡ em trong thời gian em thực tập tại
địa phương.
Do trình độ và thời gian có hạn, lại bước đầu làm quen với phương pháp
nghiên cứu mới, Vì vậy bản báo cáo đề tài tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu
sót. Em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của các thầy cô giáo, cùng toàn
thể các bạn để báo cáo đề tài tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hồng Việt, ngày 30 tháng 4 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Khánh Hạ
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Bảng 4.4. Tổng hợp nhu cầu tăng giảm diện tích sử dụng đất trong kỳ quy
hoạch của xã Hồng Việt giai đoạn 2010 - 2013 37
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện công tác thu hồi đất của xã Hồng Việt giai đoạn
2010 – 2013 ………………………………………………………………….40
Bảng 4.6. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Hồng Việt
giai đoạn 2010 – 2013 (ĐVT: bộ hồ sơ)…………………………………….42
Bảng 4.7. Biến động đất đai năm 2013 so với năm 2010 của xã Hồng Việt 44
Bảng 4.8. Tổng hợp kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của xã Hồng
Việt giai đoạn 2010 - 2013………………………………………………….48 MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước về đất đai 3
21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 21
4.1.1.1. Vị trí địa lý 21
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo. 21
4.1.1.3. Khí hậu 22
4.1.1.4. Thủy văn 23
4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên. 23
4.1.1.6. Cảnh quan môi trường. 26
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.1.2.1. Điều kiện kinh tế 27
4.1.2.2. Điều kiện văn hóa - xã hội: 29
4.1.2.3. Giáo dục: 30
4.1.2.4. Y Tế 30
4.1.2.5. Văn hóa - thể thao 30
4.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 31
4.1.3.1. Thuận lợi 31
4.1.3.2. Hạn chế 31
4.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Hồng Việt năm 2013 32
4.2.2. Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai xã Hồng Việt huyện
Hòa An tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013 34
4.2.2.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiên các văn bản đó 34
4.2.2.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính 34
4.2.2.3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 36
4.2.2.4. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 37
4.2.2.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích
sử dụng đất 39
4.2.2.6. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
hàng đầu của môi trường sống. Đất đai còn là nguồn tài nguyên có hạn về số
lượng, cố định về vị trí trong không gian khiến các vấn đề trong việc sử dụng
đất đai càng ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự quản lý một cách hợp lý, sử dụng
hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Ở nước ta hiện nay, trước tình hình phát triển kinh tế cùng sự gia tăng dân
số, sự phát triển đô thị và quá trình đô thị hóa đã làm cho nhu cầu về nhà ở,
đất xây dựng các khu công nghiệp và các công trình công cộng ngày một tăng
cao. Đây cũng là vấn đề nan giải không chỉ của nước ta mà còn của các nước
đang phát triển khác trên thế giới. Công tác quản lý đất đai ở nhiều nơi còn
buông lỏng hoặc chưa phù hợp do trình độ văn hóa thấp, lạc hậu, đói nghèo
và sử dụng đất chưa hợp lý. Chính vì thế, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai
ngày một trở nên quan trọng hàng đầu đối với đời sống người dân nói riêng và
sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung.
Việc ban hành và đổi mới, sửa đổi Luật đất đai của nước ta đã nói lên sự
quan tâm thích đáng của Nhà nước đối với vấn đề quản lý và sử dụng đất hợp
lý. Từ Luật đất đai 1988; Luật đất đai 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số
điều của Luật đất đai 1993 năm 1998; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều
của Luật đất đai 1993 năm 2001 và Luật đất đai 2003, Nhà nước đã từng bước
đưa pháp luật đất đai phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của nền kinh tế
trong thời kỳ đổi mới. Để công tác quản lý đất đai theo đúng pháp luật cần sự
chỉ đạo và giám sát sát sao ngay từ cấp dưới (xã, phường, thị trấn).
Từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà
trường và sự phân công của khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - Th.S Nguyễn Ngọc Anh,
em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai
tại xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2013”.
2
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai xã Hồng Việt, huyện
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1. Cơ sở lý luận xác lập quyền sở hữu nhà nước về đất đai
Khi xã hội loài người hình thành bằng bàn tay trí óc của mình mà cuộc
sống của con người ngày càng pháp triển, của cải dư thừa ngày càng nhiều.
Lúc này trong xã hội xuất hiện một lớp người tìm cách chiếm đoạt của cải dư
thừa, đồng thời chiếm luôn cả đất đai để phục vụ lợi ích riêng của mình. Họ
trả công cho người làm theo diện tích, chất lượng đất. Yêu cầu đặt ra cho cả
xã hội là phải biết được diện tích đất, chủ sử dụng đất… từ đó công tác địa
chính đã ra đời. Công tác địa chính ngày càng phát triển theo sự phát triển của
đất nước và được điều chỉnh bởi pháp luật Nhà nước. Sự biểu hiện của công
tác địa chính trong các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng khác nhau. Ở Việt Nam
đã tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau về đất đai như: Sở hữu Nhà vua, sở
hữu tập thể, sở hữu tư nhân… nhưng do đặc thù riêng của nền nông nghiệp
lúa nước, của lịch sử chống giặc ngoại xâm… mà sở hữu Nhà nước về đất đai
vẫn là chủ đạo.
Qua quá trình phát triển của Địa chính Việt Nam ta thấy, ngành Địa
chính từ chỗ chỉ có chức năng thuế khóa, quá trình phát triển lịch sử xã hội đã
trở thành một ngành hoàn thiện và có tầm quan trọng như ngày nay.
2.1.2. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về đất đai
Ở nước ta quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kình tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đã và đang đặt ra một yêu
cầu khách quan là phải xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu đất đai cho phù
hợp với cơ chế mới.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đất đai với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính
sách đất đai tạo hành lang pháp lý trong quản lý và sử dụng đất trên phạm vi
cả nước. Thông qua hiến pháp, pháp luật đất đai, Nhà nước thực hiện quyền
sở hữu về đất đai bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý của các cơ
2.2.2. Tình hình công tác quản lý nhà nước về đất đai tại Việt Nam
2.2.2.1. Thời kỳ phong kiến và pháp thuộc
*Thời kỳ phong kiến:
Ngay từ khi hình thành và xây dựng các Nhà nước phong kiến Việt
Nam đều đã xác lập quyền sở hữu tối cao về đất đai thuộc nhà vua. Từ thời
5
nhà Đinh đến Tiền Lê bắt đầu thực hiện một số chính sách đất đai nhằm
khẳng định quyền sở hữu tối cao của Nhà nước, đảm bảo lợi ích kinh tế cho
các quan tướng cao cấp nên đặc trưng của chính sách ruộng đất thời này là:
Hình thành một bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của Nhà nước với
tên "ruộng tịch điền" (ruộng mà vua đặt chân vào cày để khuyến khích sản
xuất nông nghiệp). Một số quan lại có công với triều đình (dẹp loạn 12 xứ
quân) được vua cấp cho một vùng nào đó để hưởng thuế gọi là “thực ấp”.
Dưới thời nhà Lý - nhà Trần, bắt đầu sự phát triển của chế độ phong
kiến trung ương tập quyền. Nhà nước áp đặt quyền sở hữu tối cao của Nhà
nước lên tất cả các loại ruộng đất (Nguyễn Đức Khả, 2003). Nhà vua chấp
nhận 3 hình thức sở hữu đất đai: Sở hữu của nhà vua, sở hữu tập thể, sở hữu
tư nhân. Sở hữu của nhà vua được coi như sở hữu nhà nước bao gồm ruộng
đất công, ruộng đất phong cho các quan lại. Các loại ruộng đất này đều giao
cho nông dân canh tác và nộp tô thuế. Nếu đất công thì toàn bộ tô nộp vào
công quỹ nhà vua, nếu ruộng đất phong cho quan lại thì một phần tô nộp cho
quan lại được phong và một phần nộp vào công quỹ nhà vua.
Cuối thế kỷ 14, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1397, dưới sự chi
phối của Hồ Quý Ly, nhà Trần đã phải ban hành chính sách "Hạn danh điền"
để thu hồi ruộng đất cho Nhà nước. Theo đó, mỗi người không quá 10 mẫu
ruộng, trừ Đại Vương và Trưởng Công chúa (Nguyễn Đức Khả, 2003).
Theo Nguyễn Đức Khả (2003), năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, cùng với
việc phong thưởng ruộng đất cho các công thần và cấp lộc điền ông còn cấp
đất ở cho các công thần, vương tôn, quý tộc, quan lại (cho đến cửu phẩm)
18.000 xã từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm 10.044 tập chia thành
3 bản: bản Giáp lưu ở Bộ hộ thuộc kinh thành Huế, bản Ất để ở dinh Bố chính
ở tỉnh và bản Bính để ở xã. Hiện nay chỉ còn lại bản Giáp của 16.000 xã được
lưu ở Huế (thất lạc mất 2.000 xã). Trong địa bạ ghi rõ thửa đất thuộc quyền sở
hữu của ai, các hướng giáp đâu, sử dụng làm gì, quan điền quan thổ hay ruộng
tư, loại hạng ruộng đất, kích thước bao nhiêu. Nhược điểm của địa bạ giai
đoạn này là:
-Đơn vị đo lường không thống nhất (từ 0,36 đến 0,52 m) nên khó quản
lý và không chính xác; Địa bạ không có bản đồ kèm theo nên khi sử dụng
phải tra cứu ngoài thực địa; Địa bạ không được tu sửa nên nhận diện thửa đất
rất khó khăn (mặc dù có quy định 5 năm đại tu - chỉnh lý một lần).
7
Ngay trong những năm đầu trị vì đất nước, Nguyễn ánh đã ban hành bộ
luật thứ hai của nước ta mang tên "Hoàng Việt Luật lệ" (còn gọi là Bộ luật
Gia Long). Trong bộ luật này có 14 điều tập trung bảo vệ chế độ sở hữu ruộng
đất, đảm bảo việc thu thuế. Thực chất, các điều luật này nhằm bảo vệ sở hữu
ruộng đất theo hướng quốc hữu hoá kết hợp với hạn chế tư hữu, tăng cường
các biện pháp duy trì, bảo vệ và mở rộng loại hình ruộng đất thuộc sở hữu
công xã nhưng vẫn tôn trọng và bảo vệ ruộng đất tư và tài sản liên quan đến
ruộng đất tư; đồng thời cũng quy định việc mua bán, cầm cố, thừa kế ruộng
đất.Nhà Nguyễn đã rất quan tâm đến việc khai khẩn đất hoang. Nguyễn Công
Trứ là người đã có công phát triển doanh điền ở Tiền Hải (Thái Bình), Kim
Sơn (Ninh Bình), Hoành Thu (Nam Định), Quảng Yên (Quảng Ninh); từ năm
1828 đến 1839 ông đã mở được 45.990 mẫu (Vũ Ngọc Khánh, 1983). Nguyễn
Tri Phương đã tổ chức khai hoang, lập đồn điền ở cả 6 tỉnh Nam kỳ với 21 cơ
lính (mỗi cơ có 500 lính). (Nguyễn Khắc Thái Sơn,2007)
*Thời kỳ Pháp thuộc:
Sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã lo ngay đến vấn đề ruộng
đất. Thực dân Pháp chia đất nước ta thành 3 kỳ. Mỗi kỳ thực dân Pháp thực
Trực thu được Bộ Tài chính tiếp nhận (Sắc lệnh số 41 ngày 03 tháng 10 năm
1945 của Chủ tịch nước). Sau đó ngành Địa chính được thiết lập (Sắc lệnh số
75 ngày 29 tháng 5 năm 1946 của Chủ tịch nước) với tên gọi Nha Trước bạ -
Công sản - Điền thổ. Kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở 03 cấp
tỉnh, huyện, xã nhằm duy trì, bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thu thuế điền
thổ. Đến năm 1953 do yêu cầu của kháng chiến, các Ty Địa chính được sáp
nhập vào Bộ Canh nông, rồi trở lại Bộ Tài chính để phục vụ mục đích thu
thuế nông nghiệp.
Cải cách ruộng đất năm 1953 - 1958 đã mang lại sự khởi sắc cho ngành
Địa chính. Đứng đầu là Sở Địa chính thuộc Bộ Tài chính, hệ thống các cơ
quan ngành dọc của Sở trực thuộc Ủy ban hành chính các cấp, có nhiệm vụ
phối hợp với các cơ quan khác thực hiện kế hoạch hóa và hợp tác hóa nông
nghiệp nông thôn.
Như vậy, từ 1945 đến 1959 hoạt động của ngành Quản lý đất đai chủ
yếu là hình thành hệ thống cơ quan quản lý đất đai trong chế độ mới với chức
năng, nhiệm vụ bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thu thuế điền thổ. Trong
những năm kháng chiến chống Pháp, ngành Địa chính đã có một số thay đổi
về hoạt động góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ huy động thuế nông
nghiệp phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Sau thắng lợi của cuộc Cải cách
9
ruộng đất ở miền Bắc (1953 - 1958), ngành Địa chính đã thực hiện tốt các
nhiệm vụ: tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm
diện tích ruộng đất, phục vụ việc kế hoạch hóa và hợp tác hóa nông nghiệp,
tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị.
* Giai đoạn 1960 - 1978
Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn và củng cố quan hệ sản
xuất Xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập (Nghị định số
70-CP ngày 09 tháng 12 năm 1960 và Nghị định số 71-CP ngày 09 tháng 12
năm 1960 của Hội đồng Chính phủ), chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông
tỉnh. Sau Luật Đất đai năm 1987 cho tới năm 1993 hầu hết các Ban Quản lý
ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã chuyển thành Chi cục Quản
lý đất đai hoặc Chi cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Sở Nông - Lâm nghiệp;
- Cấp huyện, có Phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
huyện, một số địa phương khu vực đô thị thành lập Phòng Quản lý nhà đất
hoặc Phòng Nhà đất; từ năm 1988 - 1994, Phòng Quản lý ruộng đất sáp nhập
vào các Phòng Nông Lâm nghiệp hoặc Phòng Kinh tế;
- Cấp xã, có Cán bộ quản lý ruộng đất chuyên trách. Trước yêu cầu về
tổ chức lại các cơ quan quản lý nhà nước và tăng cường công tác quản lý đất
đai, năm 1994 Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà
nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính (Nghị định số
12/CP ngày 22 tháng 02 năm 1994 của Chính phủ). Chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Địa chính được quy định tại Nghị
định số 34/CP ngày 23 tháng 4 năm 1994 của Chính phủ, theo đó Tổng cục
Địa chính là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về đất đai và đo đạc - bản đồ trên phạm vi cả nước. Ngay sau khi thành lập
Tổng cục Địa chính, ở địa phương các Sở Địa chính được thành lập trên cơ sở
Ban Quản lý ruộng đất và trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chi cục Quản
lý ruộng đất hoặc Chi cục Quản lý đất đai. Một số thành phố lớn thành lập Sở
Địa chính - Nhà đất. Tại cấp huyện, từ năm 1995 cơ quan quản lý đất đai là
Phòng Địa chính (hoặc Phòng Địa chính - Nhà đất) trực thuộc Uỷ ban nhân
dân cấp huyện. Tại cấp xã, có Cán bộ Địa chính xã (hoặc phường, thị trấn) và
thường kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ quản lý về xây dựng.
Theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành, năm 2002 Bộ Tài nguyên
và Môi trường được thành lập (Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất ngày 05
tháng 8 năm 2002 và và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm
11
2002 của Chính phủ). Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và môi trường
tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật
12
và định mức sử dụng đất. Chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, chương
trình quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án về quản lý và sử dụng đất
đai sau khi được phê duyệt.
- Tổ chức triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc đối với các nhiệm
vụ: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng ký và thống kê đất đai; giá đất; về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về phát triển quỹ đất,
quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản; lưu trữ và thông tin đất đai; về thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo; hợp tác quốc tế và nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác
Về cơ cấu tổ chức bộ máy, đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 14 đơn vị
trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà nước, 5 đơn vị sự nghiệp (bao
gồm 2 đơn vị sự nghiệp mới được bổ sung là: Trung tâm Đào tạo và Truyền
thông đất đai; Trung tâm Kiểm định chất lượng sản phẩm địa chính).
Tại cấp tỉnh:Một số địa phương tiến hành thành lập Chi cục Quản lý đất đai
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để thống nhất quản lý nhà nước về đất
đai vào một cơ quan chuyên trách. Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có
cơ cấu hoàn chỉnh nhất gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các
phòng, ban chức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra
còn có: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
(hiện tại trong cả nước có 63 Văn phòng cấp tỉnh và 55 tổ chức Phát triển
quỹ đất cấp tỉnh);Quỹ phát triển đất
Tại cấp huyện: Cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi
trường. Ngoài ra, các địa phương đã thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử
dụng đất (đến nay cả nước có 528 Văn phòng cấp huyện)trực thuộc các Phòng
Tài nguyên và Môi trường để thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng
đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
và tương lai.
Tóm lại, trong giai đoạn từ 1979 đến nay, ngành Quản lý đất đai đã phát
triển theo hướng hiện đại, mở rộng phạm vi quản lý đối với tất cả các loại đất.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được mở rộng ra nhiều lĩnh vực (từ 07
nhóm nội dung đã phát triển thành 13 nhóm nội dung). Hệ thống cơ quan và
đội ngũ cán bộ đã từng bước được hoàn thiện, năng lực quản lý, chuyên môn
và công nghệ được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu của hệ thống quản lý đất đai
hiện đại. Hoạt động của Ngành đã góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà
14
nước; đảm bảo công bằng và ổn định xã hội; tăng thu cho ngân sách nhà nước;
chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ môi trường. Chưa bao giờ ngành Quản lý
đất đai lại có cơ cấu tổ chức 04 cấp từ Trung ương đến địa phương hoàn chỉnh
và hùng mạnh nhất về mọi mặt, ngang tầm với nhiệm vụ được Đảng và Nhà
nước giao và là Ngành có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội về
tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội; quốc phòng - an ninh… (Lịch sử hình thành
và phát triển ngành quản lý đất đai Việt Nam - diachinh.org)
2.3. Sơ lược tình hình công tác quản lý nhà nước về đất đai tại tỉnh Cao
Bằng và địa phương
2.3.1. Sơ lược tình hình công tác quản lý nhà nước về đất đai tại Cao Bằng
Cao Bằng là một tỉnh miền núi, có diện tích tự nhiên 6.690,72 km², dân
số 507.183 ngàn người (theo điều tra dân số ngày 01/10/2009), gồm có 11 dân
tộc anh em, chủ yếu là các dân tộc: Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1%),
H’mông (10,1%), Dao (10,1%), Việt (5,8%), Sán Chay (1,4%)… Tỉnh Cao
Bằng có 12 đơn vị hành chính cấp huyên và 1 thành phố trực thuộc tỉnh bao
gồm: Các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên
Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng
Khánh và thành phố Cao Bằng.
Tình hình quản lý đất đai của tỉnh Cao Bằng trong những năm qua
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Công tác phân hạng đất
Phân hạng đất là một công tác hết sức quan trọng, việc phân hạng đất của
UBND tỉnh đã được tiến hành từ nhiều năm trước, những kết quả đó hiện nay
vẫn đang được sử dụng làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất. Tuy nhiên
do thời gian tiến hành phân hạng đất đã lâu nên kết quả phân hàng đất nhiều
khi không còn phục vụ đắc lực trong quản lý đất đai.
- Công tác lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất
Tỉnh Cao Bằng đã phố hợp với cơ quan các cấp tiến hành đo đạc bản đồ
địa chính chính quy cho các xã phường trên địa bàn tỉnh, việc lập bản đồ hiện
trang sử dụng đất của tỉnh được UBND tỉnh, sở Tài nguyên và Môi trường chỉ
đạo về chuyên môn, thực hiện tốt theo quy định, định kỳ 5 năm cùng với công
tác kiểm kê đất đai, đồng thời bản đồ quy hoạch sử dụng đất và các bản đồ
hiện trạng sử dụng đất đã được thành lập nên trên nền bản đồ địa chính.
16
* Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản, thông tư, chỉ thị dưới
Luật, hàng năm tỉnh Cao Bằng đã thực hiện công tác lập kế hoạch sử dụng đất
một cách đầy đủ và nghiêm túc theo kế hoạch đã đề ra.
* Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ trong những năm qua
đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. Việc thực hiện
Nghị đinh 64/CP, Chỉ thị số 10, Chỉ thị số 18, Nghị định 85/CP và Luật đất
đai 2003 đã đạt được những kết quả nhất định về công tác giao đất cho thuê
đất này.
- Việc chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất trên địa bàn tỉnh được
tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Hàng năm tỉnh Cao Bằng phối
2.3.2. Sơ lược tình hình công tác quản lý nhà nước về đất đai tại huyện
Hòa An
Đội ngũ cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hòa An gồm
có 10 cán bộ (bao gồm cả 3 cán bộ VPĐKQSDĐ) , và 20 cán bộ địa chính cấp
xã trên toàn huyện Hòa An. Phòng Tài nguyên và Môi trường hiện có một
(01) trưởng phòng phụ trách công việc chung, một (01) phó phòng giúp đỡ
quản lý và một (01) giám đốc VPĐKQSDĐ. Còn lại 20 xã mỗi đơn vị có 01
cán bộ địa chính. Trình độ của cán bộ địa chính toàn huyện còn hạn chế và
không đồng đều, đặc biệt cán bộ địa chính cấp xã, thị trấn đều là trung cấp,
cao đẳng. Điều đó cho thấy tuy các xã, thị trấn có cán bộ địa chính nhưng một
số không được đào tạo bài bản và đúng chuyên ngành, năng lực công tác của
một số cán bộ địa chính xã còn bộc lộ nhiều yếu kém, trình độ hiểu biết về
chuyên môn còn nhiều hạn chế trong khi khối lượng công việc còn nhiều. Đây
là vấn đề nan giải cần phải giải quyết sớm tạo điều kiện cho việc xây dựng hệ
thống quản lý đất đai chặt chẽ và đúng pháp luật.
2.3.3. Sơ lược tình hình công tác quản lý nhà nước về đất đai tại xã Hồng Việt
Cán bộ địa chính xã Hồng Việt hiện nay chỉ có duy nhất một (01) cán
bộ địa chính xã. Trình độ của cán bộ địa chính còn nhiều hạn chế vì chỉ tốt
nghiệp trung cấp và vừa được học khóa huấn luyện bổ sung, trình độ ứng
dụng tin học của cán bộ địa chính còn yếu, khó đáp ứng được yêu cầu công
tác hiện nay trong khi khối lượng công việc phải thực hiện lớn và hầu như sử
dụng ứng dụng tin học vào làm việc. Theo yêu cầu khối lượng công việc thì
hiện nay UBND xã Hồng Việt còn thiếu một (01) cán bộ địa chính xã phụ