Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại công trình đường giao thông phát triển khu vực biên giới kéo háng – thua đỏng khoang, xã chí viễn, huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng - Pdf 26

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỆU QUANG HẢI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
TẠI CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG GIAO THÔNG PHÁT TRIỂN KHU
VỰC BIÊN GIỚI KÉO HÁNG – THUA ĐỎNG KHOANG
XÃ CHÍ VIỄN, HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Lớp : K9 – QLĐĐ
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2013 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Hữu Chiến
Thái Nguyên, năm 2014

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Tên đầy đủ
1 BTC Bộ Tài chính
2 BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
3 BT&GPMB Bồi thường và giải phóng mặt bằng
4 CP Chính phủ
5 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
6

Nghị định
7 GPMB Giải phóng mặt bằng
8
HĐBT
Hội đồng bồi thường

Reference source not found
Bảng 4.10: Kết quả tổng hợp ý kiến của người dân Error: Reference source not
found
MỤC LỤC
Phần I 1
MỞ ĐẦU 1
- Văn hoá 25
- Môi trường 25
- Kinh tế 26
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với tốc độ đô thị hoá ngày càng cao hiện đang là một xu thế tất yếu của
các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đối với mỗi
quốc gia, đô thị luôn đóng vai trò là trung tâm văn hoá kinh tế - xã hội quan
trọng, thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt. Trong công cuộc đổi mới để xây
dựng đất nước trở nên phồn vinh, Nhà nước ta luôn quan tâm chú trọng đặc
biệt vào công tác phát triển đô thị. Sự ra đời ngày càng nhiều của các công
trình cơ sở hạ tầng đã làm cho bộ mặt của cả nước ngày càng văn minh, hiện
đại. Tuy nhiên, để có thể triển khai được những dự án đầu tư phát triển kinh tế
xã hội đó đòi hỏi phải có một quỹ đất rất lớn để tạo mặt bằng thi công. Điều
này liên quan đến công tác GPMB (giải phóng mặt bằng), một bước tất yếu và
là điều kiện tiên quyết với mỗi dự án đầu tư xây dựng.
Trong giai đoạn hiện nay, GPMB là một yêu cầu khách quan của quá
trình đổi mới, góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và là yêu
cầu tất yếu của các dự án đầu tư xây dựng. Trong điều kiện đất đai ngày càng
khan hiếm hiện nay, thì GPMB càng khẳng định vai trò quan trọng, là điều
kiện cần để mọi dự án đầu tư xây dựng có thể bắt đầu. Trong quá trình thực
hiện, nhiều dự án xây dựng đã bị kéo dài, không thực hiện được đúng tiến độ
chỉ vì vướng mắc do khâu GPMB chưa thực hiện được. Như chúng ta đã biết,

- Các giải pháp đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với thực tế địa phương.
- Đề tài có độ chính xác và mang tính thiết thực.
2
1.4. Ý nghĩa đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học
trên lớp; học hỏi, tiếp cận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế nhằm hiểu rõ
hơn về công tác Quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác BT&GPMB,
hỗ trợ tái định cư.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra
được những thuận lợi, khó khăn trong công tác BT&GPMB của dự án để từ
đó rút ra những giải pháp khắc phục, góp phần đẩy nhanh tiến độ của dự án ở
hiện tại và trong tương lai.
3
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Khái niệm về bồi thường giải phóng mặt bằng
Thực chất của việc GPMB là chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển
mục đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Theo điều 4 của Luật Đất đai 2003 có ghi rõ:
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
- Thu hồi đất: Là Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn quản lý theo quy định của Luật này.
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị
thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để
di dời đến địa điểm mới.
- Tái định cư: Là việc Nhà nước bố trí chỗ ở cho người có đất bị thu hồi
mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí chỗ ở.

6. Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị
thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất. [2]
5
2.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng
Bồi thường GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện sự khác
nhau giữa các dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia
và lợi ích của toàn xã hội. Chính vì vậy, công tác bồi thường GPMB có các
đặc điểm sau:
- Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau
với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và trình độ dân trí nhất định. Do vậy,
quá trình bồi thường thiệt hại cũng mang những đặc điểm riêng biệt.
- Tính phức tạp: Do đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân.
2.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
2.2.1. Các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan đến công tác bồi
thường và giải phóng mặt bằng
- Luật Đất đai năm 2003.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003.
- Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và
Thông tư số: 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực
hiện nghị định số: 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
6

2013 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 5 năm 2013 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc sửa đổi, bổ sung quy định ban hành kèm
theo Quyết định số 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009 và
Quyết định số 638/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 04 năm 2011của Ủy ban
nhân dân tỉnh về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 05 năm 2013 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc Ban hành bảng giá nhà và các công trình
xây dựng gắn liền với đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
- Quyết định số 891/2011/QĐ-UBND ngày 20 tháng 05 năm 2011 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về việc Ban hành bẳng giá bồi thường cây
cối, hoa màu và thủy sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
2.2.3. Trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Căn cứ theo Quyết định số: 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12
năm 2009 của UBND tỉnh V/v ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại Điều 26
- Lập phương án về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại Điều 27
- Các bước tiến hành lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy
định tại Điều 28.
- Thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
quy định tại Điều 29.
- Công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại quy
định tại Điều 30.
8
- Thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại quy
định tại Điều 31.
- Quy định về bàn giao đất quy định tại Điều 32.
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định

dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị
và nông thôn. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường
bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các
tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá. Với người dân nông thôn, nhà
nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng
khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất
đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có
những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
do thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối
với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho
người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định
cư. Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh.
Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương
trình bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho
việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở
nông thôn. Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà
được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các
cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính quyền thôn, xã
chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng.
10
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là
vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng
mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư [1]
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á,
quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ
chế thị trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý,
việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định
giá đền bù.

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính
– Xây dựng - Tổng cục Địa chính – Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi
hành Nghị định 87/CP.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi nhà
nước thu hồi đất thay thế Nghị định 90/1994/NĐ-CP, quy định rõ phạm vi áp
dụng, đối tượng phải đền bù, đối tượng được đền bù, phạm vi đền bù, đặc biệt
người có đất bị thu hồi có quyền được lựa chọn một trong ba phương án đền
bù bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và bằng tiền.
- Thông tư 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành
Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội
dung và chế độ quản lý, phương án đền bù và một số nội dung khác.
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục Quản lý Công sản -
Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác đền bù GPMB.
12
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 29/6/2001 quy
định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và GPMB, cụ thể:
- Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của
người sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ. Việc bồi
thường hoặc hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
- Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu
hồi. Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua
nhà ở của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở.
Trong trường hợp phương án bồi thường được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy
định của pháp luật mà người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi
thì cơ quan quyết định thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế. Trong
trường hợp Chính phủ ra quyết định thu hồi đất thì UBND Tỉnh, Thành phố
trực thuộc Trung ương ra quyết định cưỡng chế. Trong trường hợp cộng đồng
dân cư xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng theo quy

Trên đây là những văn bản hướng dẫn bồi thường thiệt hại khi nhà nước
thu hồi đất được áp dụng trên phạm vi cả nước. Ngoài ra do điều kiện, tình
hình cụ thể của mỗi tình mà có những văn bản kèm theo để cụ thể hóa hoặc
điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi địa phương.
2.3.3. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Cao Bằng
Trong những năm qua mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng
thực hiện công tác GPMB, toàn tỉnh đã bàn giao đất để triển khai hàng trăm
công trình, dự án đầu tư. Song nhìn chung công tác GPMB trong tỉnh còn
14
nhiều trì trệ, chưa đáp ứng nhu cầu đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội,
gây tác động xấu đến môi trường đầu tư của tỉnh.
Trước tình hình đó, nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 17 tháng 01 năm
2008 của hội nghị lần thứ 11 ban chấp hành đảng bộ tỉnh Cao Bằng khóa XVI
về mục tiêu và một số nhiệm vụ trong tâm năm 2008 đã đề ra một số biện
pháp lãnh đạo nhằm tạo sự đột phá trong công tác GPMB. Theo đó các cấp ủy
đảng, chính quyền, đoàn thể phải tập chung chỉ đạo tổ chức thực hiện và
tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt công tác GPMB các dự án. Các
huyện, thị ủy phải có nghị quyết chuyên đề về công tác GPMB tại địa phương
mình, đặc biệt là các dự án trọng điểm; đồng thời chỉ đạo các đảng ủy xã,
phường, thị trấn ra nghị quyết chuyên đề về chỉ đạo thực hiện nội dung công
tác GPMB. Ban thường vụ cấp ủy thường xuyên nghe báo cáo và chỉ đạo
công tác GPMB các dự án xây dựng tại địa phương mình.
Nghị quyết cũng yêu cầu cán bộ, đảng viên, công nhận viên chức, cán bộ
chiến sĩ lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh phải gương mẫu thực hiện và tuyên
truyền, vận động gia đình chấp hành nghiêm chế độ, chính sách của Nhà nước
về đền bù GPMB để đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án. Đồng thời xử lý
nghiêm, kịp thời những cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang, nhất là người đứng
đầu đơn vị, địa phương làm chậm công tác GPMB, ảnh hưởng đến tiến độ xây
dựng các công trình, dự án.
Với nội dung của nghị quyết nêu trên, tỉnh ủy Cao Bằng đã đưa việc lãnh

16
- Đánh giá những ảnh hưởng của công tác GPMB tới đời sống của nhân
dân khu vực GPMB.
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác BT&GPMB.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan tại các phòng ban liên quan đến
công tác BT & GPMB.
- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp gia đình, cá nhân thuộc diện bồi thường
thiệt hại về đất và những ảnh hưởng của dự án, sử dụng bộ câu hỏi, phiếu
điều tra.
- Thu thập tài liệu, số liệu từ báo chí, từ các phương tiện truyền thông.
- Các văn bản pháp lý của Nhà nước hướng dẫn thực hiện công tác
BT&GPMB.
3.4.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu đã thu thập được về tổng
diện tích bị thu hồi, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ cũng như chi tiết từng
hạng mục, từng loại đất và mức ảnh hưởng của dự án.
- Phương pháp so sánh: Từ số liệu đã điều tra và thống kê trong phạm vi
của dự án về diện tích bị thu hồi và số tiền bồi thường so sánh với giá thị
trường, khung giá của Chính phủ và bảng giá đất của tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu điều tra thu thập được sử dụng
phần mềm, Word, Excel để tổng hợp xử lý.
17
Phần IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý

giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình 7,5
0
C; giữa ngày và đêm
cũng lớn, tháng 12 là 8,8
0
C.
18
- Lượng mưa bình quân hàng năm 1665,5 mm, năm cao nhất 2870,6
mm, năm thấp nhất 1188 mm, lương mưa lớn nhưng phân bố không đều; mùa
mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 9 chiếm 82,5% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, tháng ít chỉ đạt 0,1 –
0,2 mm, thậm chí có tháng không mưa.
- Độ ẩm tương đối bình quân năm là 81% giữa các tháng trong năm
biến thiên từ 77 – 82%. Mùa khô nhất là từ tháng 11 đến tháng 1 độ ẩm tương
đối thấp, có ngày có lúc chỉ đạt 10 – 14%.
- Gió: Mùa hè có gió đông nam và gió nam; mùa đông có gió mùa đông
bắc thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Ngoài ra có những năm
còn xuất hiện hiện tượng mưa đá vào tháng 4, 5 hoặc tháng 9, 10; sương muối
vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, bình quân 6 ngày/năm, số ngày xuất hiện
thường từ 1 – đến 20 ngày, có từ 1 – 2 đợt.
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm 1.950 giờ/năm.
4.1.1.3. Địa hình, địa mạo
Chí Viễn là xã miền núi, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 500
– 800m. Địa hình xã được phân chia làm ba khu vực:
- Khu vực 1: Khu vực địa hình thấp tương đối bằng phằng, có độ cao 500
m so với mặt nước biển, nằm dọc hai bên sông Quây Sơn trồng lúa màu; thuận
lợi cho giao thông thủy lợi, phát triển trồng trọt, xây dựng cơ sở hạ tầng…
- Khu vực 2: : Là khu vực núi đá, độ cao trung bình từ 600 – 800m so
với mực nước biển, tập trung chủ yếu ở bắc sông Quây Sơn giáp với Trung
Quốc. Xen kẽ các dãy núi đá là các thung lũng nhỏ, rãi rác.

vôi, đất nâu vàng trên phiến sét và đất dốc tụ trong thung lũng. Đây là loại đất
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status