Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại dự án xây dựng công viên Na Cồ - thị trấn Bắc Hà – huyện Bắc Hà – tỉnh Lào Cai. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG MINH ĐỨC

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG TẠI DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG VIÊN NA CỒ
THỊ TRẤN BẮC HÀ – HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

tế”. Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên
cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thục tế.
Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại
nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn cô giáo Ths. Dương Thị
Thanh Hà đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực
hiện chuyên đề này.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
Khoa Quản lý Tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền
đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và
rèn luyện tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Phòng TNMT huyện Bắc Hà, các
cán bộ, nhân viên đang công tác tại Phòng đã giúp đỡ em trong suốt thời gian
thực tập tốt nghiệp.
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên
cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Trong quá trình học tập và làm chuyên đề, em đã cố gắng hết mình nhưng
do kinh nghiệm còn thiếu và kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề tốt nghiệp
này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn.

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hoàng Minh Đức

3

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3. Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà 24
3.3.2. Kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 24
3.3.3. Ảnh hưởng của dự án tới kinh tế - xã hội - môi trường 25
3.3.4. Đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân 25
3.3.5. Đề xuất phương án giải quyết 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1. Thu thập tài liệu thứ cấp có liên quan 25
3.4.2. Phương pháp điều tra phát phiếu 25
3.4.3. Sử dụng phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, viết báo cáo . 25
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị trấn Bắc Hà 26
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.2. Kết quả công tác bồi thường GPMB dự án xây dựng công viên Na Cồ -
thị trấn Bắc Hà - huyện Bắc hà - tỉnh Lào Cai 31
4.2.1. Kết quả thống kê về đất, tài sản cây cối, hoa màu, vật kiến trúc đã được bồi
thường trong dự án xây dựng công viên Na Cồ 31
4.2.2. Kết quả bồi thường về đất, cây cối hoa màu, vật kiến trúc trong dự án
xây dựng công viên Na Cồ 34
4.2.3. Kết quả hỗ trợ do bị thu hồi đất 38
4.2.4. Tổng hợp kinh phí bồi thường và GPMB dự án xây dựng công viên Na

Bảng 4.10. Kết quả bồi thường về cây cối, hoa màu 35
Bảng 4.11. Kết quả bồi thường về vật kiến trúc trên đất bị thu hồi 36
Bảng 4.12. Kết quả hỗ trợ bị thu hồi đất do thực hiện dự án 38
Bảng 4.13. Bảng tổng hợp số tiền bồi thường,hỗ trợ của dự án 39
Bảng 4.14. Bảng đánh giá công tác BTGPMB qua ý kiến của người dân 41 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BT : Bồi thường
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CPI : Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN-TM : Công nghiệp thương mại
CT/TU

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi
quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cùng các sinh vật
khác trên trái đất.
Ngay phần mở đầu của Luật đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam có
ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và
quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương
máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà
nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai như quyết định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; hạn mức giao đất, hạn
mức nhận chuyển quyền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất; thu hồi, định
giá đất…
Trong đó, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các
công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế
là một khâu quan trọng, then chốt của quá trình phát triển. Bồi thường, hỗ trợ
giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện
các dự án và góp phần rất lớn trong việc giảm lạm phát. Bồi thường, hỗ trợ và

- Đánh giá trung thực và khách quan quá trình thực hiện chính sách bồi
thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị trấn Bắc Hà và tại dự án điều tra.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập: Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong học tập
và nghiên cứu khoa học, giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại
những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp. Nắm chắc các quyết định về bồi thường và giải
phóng mặt bằng bằng việc áp dụng trực tiếp vào thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Thông qua quá trình nghiên cứu giúp sinh viên
nắm được những thuận lợi và khó khăn để từ đó đề ra các giải pháp góp phần
thúc đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB. Giúp cho các nhà quản lý đất đai
rút ra được kinh nghiệm, nhận ra được những ưu, nhược điểm trong công tác
thường giải GPMB. Từ đó có thể thực hiện dự án theo đúng tiến dộ và yêu
cầu của nhà đầu tư.

3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.1.1. Các văn bản pháp quy của nhà nước có liên quan đến công tác bồi
thường GPMB
- Bộ luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Luật Đất Đai ngày 26/11/2003
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành luật đất đai năm 2003
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2012 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Lào Cai về việc Ban hành quy định về giá các loại đất,
phân khu vực đất, phân loại đường phố, phân vị trí các loại đất trên địa bàn
tỉnh Lào Cai năm 2013.
- Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 18/8/2011 của UBND tỉnh Lào
Cai về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của ban Quy định về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế
trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND ngày 23/5/2013 của UBND tỉnh Lào
Cai về bổ sung giá đất ở đô thị tại Phụ lục số 09 ban hành kèm theo Quyết
định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 của UBND tỉnh Lào Cai ban
hành quy định về giá các loại đất, phân hạng đất, phân vùng đất và phân loại
đường phố, vị trí đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Quyết định số 37/2013/ QĐ-UBND ngày 20/8/2013 của UBND tỉnh
Lào Cai về bổ sung giá đất ở nông thôn khu vực I tại Phụ lục số 04 ban hành
kèm theo Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 của UBND
tỉnh Lào Cai ban hành quy định về giá các loại đất, phân hạng đất, phân vùng
đất và phân loại đường phố, vị trí đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Lào Cai 5

2.2. Các nội dung liên quan tới công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.2.1. Bồi thường thu hồi đất
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại xứng
với giá trị hoặc công lao. Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị
hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thê khác.
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi và những tài sản trên đất

- Chi cho việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm:
lập phương án bồi thường từ khâu ban đầu tính toán các chỉ tiêu bồi thường,
phê duyệt phương án bồi thường, niêm yết công khai phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư.
- Chi cho việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
bằng 0,2% tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ.
- Chi cho việc thẩm định các điều kiện được bồi thường
- Kiểm tra, hướng dẫn thực hiện quy định về bồi thường, giải quyết những
vướng mắc trong công tác bồi thường và tổ chức thực hiện chi trả bồi thường;
- Thuê văn phòng và trang thiết bị làm việc của tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cơ quan thẩm định
- Chi in ấn và văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản
phục vụ cho bộ máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự án;
- Chi phí trả lương, bảo hiểm xã hội cho việc thuê nhân công thực hiện
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm
lập dự toán chi phí cho công tác này của từng dự với điều kiện kinh phí đảm
bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được trích
không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án. Đối với các dự án
thực hiện trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt
khó khăn, dự án xây dựng công trình hạ tầng theo tuyến thì tổ chức được giao
thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được lập dự toán kinh phí
tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo khối lượng công việc
thực tế, không khống chế mức trích 2%
2.2.4. Quản lý nhà nước về đất đai
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
+ Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát

cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất
đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ
sở còn rất yếu. Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật
trong giả quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó việc tuyên

8

truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát sao. Tại nhiều
địa phương đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định
pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai. Cán bộ địa chính, chủ
tịch UBND nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp
thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn. Đó là nguyên nhân
làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất long tin trong nhân dân cũng như
các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB.
2.2.5. Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai và không gian sử dụng đất đai có hạn. Để tồn tại và duy trì cuộc
sống của mình, con người phải dựa vào đất đai, khai thác và sử dụng đất đai
để sinh sống. Quy hoạch sử dụng đất đai là biện pháp quản lý không thể thiếu
được trong việc tổ chức sử dụng đất của các nghành kinh tế - xã hội và các địa
phương, là công cụ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết
định để cân đối giữa nhiệm vụ an toàn lương thực với nhiệm vụ CNH-HĐH
đất nước nói chung và các địa phương nói riêng.
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để
tổ chức việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà
Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường
GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt
được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai

quản lý hồ sơ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai.
+ Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đăng ký đất đai (Land Regitration) là một thành phần cơ bản quan
trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền
sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu
đất. Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai,
người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền (cụ thể là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) và được cấp
GCNQSDĐ. Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn
xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền về đất.
Trong công tác bồi thường GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định
đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay,
công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng
ký biến động về sử dụng đất, việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất. Chính
vì vậy mà công tác bồi thường GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt

10
công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ thì công tác bồi thường GPMB sẽ
thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn.
+ Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò
quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động
sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai. Trước tháng 12 năm 2004, rất
nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định, đặc biệt có nhiều xã,
phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính (khoảng trên 30% số xã đã cấp GCN)
để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập
đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCN như thành phố Hà Nội, các tỉnh Hòa Bình,
Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh,….
- Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải thực hiện theo quy định tại

đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và
chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất.
Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha
trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp
sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu
nhà nước.
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,
người nào sử dụng đất thì người có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi
thường do người sử dung đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ
phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất
bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ
phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể
chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ
442.000 – 2.175.000 nhân dân tệ/ha.
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất
đai, tiền trợ cấp TĐC, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất. Cách tính
tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng
của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy
định. Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo
giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất.

12
Về nguyên tắc bồi thường: Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo
cho người dân bị thu hồi có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Ở Bắc
Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với tiền tiết kiệm
của họ có thể mua được một căn hộ mới. Còn đối với người dân ở khu vực
nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng
một nơi.

giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các
nhà thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự
thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn
hơn rất nhiều chi phí TĐC đúng đắn. Hơn nữa, những người bị bần cùng hóa
đến một thời điểm nhất định sẽ là nguyên làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân.
Do vây, tránh hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân TĐC,
cộng với việc thỏa đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc lợi ích về
nền kinh tế, còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp cho các
chủ thể an tâm trong quá trình triển khai thực hiện dự án .
TĐC được thể hiện theo ba yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ
và phương tiện phù hợp
- Trợ cấp khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng có mức sống đạt
hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án.
Đối với các dự án có di dân TĐ, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di
dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ chu kỳ đấu tiên của việc lập dự án đầu
tư và những nguyên tắc chính phải đề cập đến gồm:
- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di
dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án
- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để việc phát triển
kinh tế xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp
không có dự án: đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi
thường khác tương xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị
ảnh hưởng. Chú trọng đến người dân bản địa, dân tộc thiểu số, nông dân vì họ
là những người có quyền lợi theo phong tục đối với đất và các tài sản khác bị
dự án chiếm dụng
- Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế
hoạch TĐC phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân
sách phù hợp, người di chuyển được hưởng các cơ hội về nơi ở, nguồn lực ổn

QSDĐ nhiều hơn QSH đất. Với khái niệm công khai đất đai, hạn chế sở hữu đất,
hạn chế sử dụng đất, hạn chế lợi ích phát sinh, hạn chế thanh lý các quy chế công
cộng được áp dụng theo luật pháp và các tính cách quy chế như thế này được
xem là đặc trưng của luật liên quan đến đất đai của Hàn Quốc.
Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia thành hai thể chế.
Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng đã đạt

15
được theo thủ tục thương lượng của pháp luật được lập vào năm 1962. hai là
“sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp được lập vào
naem 1975. tuy nhiên, dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật
“đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “sung công đất”
được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng như thế thì lặp đi lặp lại và đôi
khi bị trùng hợp cho nên người thời gian có thể kéo dài và chi phí bồi thường
sẽ tăng lên.
Đặc trưng của luật bồi thường: thực hiện luật bồi thường của Hàn Quốc
theo luật mới thì sẽ thực hiện theo ba giai đoạn:
Thứ nhất: định giá theo quy định tức là tiền đền bù đất đai sẽ được
giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất
phục vụ cho công trình công cộng. Mỗi năm, Hàn Quốc cho thi hành đánh giá
đất hưn 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm
tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá
quy định cho việc bồi thường.
Thứ hai: pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có
QSH đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất. Quy trình chấp
nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai,
thương lượng chấp nhận thu hồi.
Thứ ba: biện phấp di dời là một đặc điểm quan trọng. Chế dộ này được
nhà nược hỗ trợ tích cực về mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con
người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công

công ty thực hiện (1 công ty của Nhà nước, còn lại là của tư nhân), lấy giá
bình quân làm giá bồi thường. Cho người bị thu hồi đất dược chỉ định công ty
định giá thứ 3.
(Nguồn: http://tailieu.vn)[13]
2.3.2. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số địa phương trên
cả nước
2.3.2.1. Công tác bồi thường GPMB của tỉnh Hà Nam
Tỉnh Hà Nam được tái lập năm 1997, nhu cầu sử dụng đất để phục vụ
việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trụ sở cơ quan và phát triển kinh tế - xã hội là rất
cần thiết. Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm đến công tác thu hồi đất, bồi
thường giải phóng mặt bằng (GPMB). Để chỉ đạo thực hiện tốt công tác này,
Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của các
cấp ủy đảng đối với công tác GPMB các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn
tỉnh nhằm chấn chỉnh, đưa công tác bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh đi
vào nề nếp, đúng quy định.

17
Tại mỗi thời điểm thu hồi đất, căn cứ vào Luật Đất đai và các văn bản
pháp quy của nhà nước, UBND tỉnh đã ban hành các quy định về trình tự, thủ
tục thực hiện GPMB; về thu hồi, giao đất; cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ
trợ khi nhà nước thu hồi đất; về giá đất; về đơn giá bồi thường cây trồng, vật
nuôi, tài sản, vật kiến trúc trên đất; về xử lý vi phạm, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc bồi thường đúng chính sách, pháp luật,
bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất.
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, tỉnh Hà Nam đã thu hồi đất và GPMB 1.643
dự án với tổng diện tích 6.199,2 ha để phục vụ đầu tư các dự án quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Từ 01/7/2004
đến nay, tổng dự án thu hồi đất phải thực hiện việc bồi thường GPMB là 983
dự án với tổng diện tích 5.263,5 ha. Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm chỉ
đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể có liên quan tập trung tuyên truyền, phổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status