Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Uỷ ban Nobel Hoà Bình của Na uy (Ông Ole Danbolt Mjoes
năm 2006) đã từng nói rằng: “ Không thể hoà bình vĩnh cửu nếu các nhóm
dân chúng không tìm được cách thoát khỏi cảnh nghèo khó”[14]. Và phát
triện kinh tế hộ gia đình là một điều tất yếu phải thực hiện.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loại người, gia đình có một vai trò
rất quan trọng, vì nó không chỉ là “tế bào”mà nó còn là đơn vị sản xuất, hay
một chủ thể tiêu dùng cơ bản với nhưng nhu cầu phong phú để đảm bảo cuộc
sống cho các thành viên trong gia đình. Lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế,
góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị - xã hội.
Kinh tế hộ gia đình có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất
lúa gạo đạt tỷ suất hàng hoá khoảng trên 50%, cà phê 4,5%, cao su 85% , chè
trên 60%, điều trên 90% (bản tin khoa học & công nghệ phục vụ lãnh đạo, tạp
chí hoạt động khoa học ngày 01 tháng 7 năm 2009)[6]. Tuy nhiên, một thực tế
đáng lo ngại đó là vẫn còn một số bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay
hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc thẩm chí còn nhiều hộ sản xuất tự
nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh tế hàng
hoá phát triển thấp, đồng thời dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo. Tỷ lệ hộ
nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng
Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%)[6]. Theo điều tra của
các cơ quan chuyên môn thì chênh lệch về thu nhập giữa nông dân với các
thành phần dân cư khác, hiện cách nhau từ 5- 7 lần, cá biệt có nơi tới hàng
1
chục lần. Sự chênh lệch quá xa về kinh tế, đời sống sẽ dẫn đến bất ổn về xã
hội, chính trị.
Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay kéo theo một thưc
trạng đáng lo ngại là việc di dân của người dân từ nông thôn lên thành thị để
tìm kiếm việc làm nhằm tăng thu nhập cho đời sống do cuộc sống của họ ở
mạnh sẵn có của địa phương trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình. Chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“ Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế
hộ gia đình tại xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Mục đích của nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình góp phần đẩy mạnh kinh tế
nông nghiệp và nâng cao đời sống cho người dân xã Chí Viễn.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu.
- Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã giai
đoạn 2009 – 2011.
- Nghiên cứu tác động của các chính sách có tác động tới phát triển
kinh tế hộ gia đình tại xã.
- Phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong quá
trình phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã.
- Đề xuất được một số giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm
nâng cao đời sống cho người dân xã Chí viễn.
1.4. Ý nghĩa của đề tài.
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và trong khoa học.
3
- Đề tài giúp cho bạn thân vận dụng được những kiến thức đã học vào
trong thực tế.
- Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập trước khi ra trường.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, tích luỹ được kinh nghiệm cho bản
thân sau khi tốt nghiệp ra trường.
- Đề tài cũng được coi là tài liệu tham khảo cho trường, khoa, lớp
trong cùng ngành và các sinh viên của các khoá học sau.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho các nhà quản lý, các
ban ngành lãnh đạo nhận thấy rõ thế mạnh, cơ hôị của địa phương từ đó khắc
phục những khó khăn, thách thức nhằm phát triển kinh tế hộ.
vụ xuất khẩu. Trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, đã có 6 mặt hàng đạt kim
ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Cụ thể là: Thuỷ sản 5 tỷ USD, Lâm sản và gỗ
3,6 tỷ USD, cà phê trên 1 tỷ USD, điều hơn 1tỷ USD, gạo trên 3 tỷ USD, cao
su 2 tỷ USD (tác giả Xuân Thanh, cập nhật ngày 30 tháng 12 năm 2010) [7].
Do đó thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển là thúc đẩy kinh tế chung của xã
hội phát triển.
+ Kinh tế hộ gia đình là nền tảng kinh tế góp phần đảm bảo an ninh lương thực
An ninh lương thực luôn là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam và
nhiều nước trên thế giới. Với Viêt Nam, từ một nước phải triền miên nhập
khẩu lương thực, chúng ta đã vươn lên vị trí “ cường quốc” xuất khẩu gạo,
Năm 2010 đạt sản lượng gần 7 triệu tấn xuất ra thị trường thế giới (Nguyễn
Trần Minh – Báo công an nhân dân ngày 07 tháng 3 năm 2011). Để có được
những kết quả là nhờ sự đóng góp đáng kể của kinh tế hộ gia đình. Thành tựu
này có vai trò rất quan trọng với sự ổn định chính trị, xã hội; Góp phần thúc
đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. để đạt được những
thành tựu này phải kể đến vai trò không nhỏ của các hộ gia đình, hộ nông dân
trong việc sản xuất nông nghiệp.
+ Kinh tế hộ gia đình có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp sử dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) và góp phần đổi mới công nghệ sản
xuất. Ví dụ như áp dụng các mô hình trang trại: Mô hình sản xuất chuyên
canh trong nông nghiệp (chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá; tôm; cua , chuyên
trồng trọt: Chè; cà phê; cao su ); Mô hình nông lâm kết hợp (mô hình này
6
được phát triển rộng rãi tại các vùng trung du và miền núi, cây trồng gồm:
Cây rừng, đậu đỗ, cây ăn quả ).
2.1.1. Khái quát chung về kinh tế hộ gia đình.
- Khái niệm về hộ gia đình
Chỉ là một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm
nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và
địa lý. Ở nông thôn có nhiều kiểu tổ chức hộ gia đình, như hộ gia đình nông
hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần có đủ điều kiện cho một môi
trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được
đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực [4].
Qua những khái niệm trên ta có thể nói một cách khái quát khái niệm
về phát triển kinh tế hộ gia đình như sau: Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc
áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và mô hình canh tác thích hợp với khả năng lao
động của gia đình và điều kiện đất đai, tự nhiên để sản xuất kinh doanh, tăng
thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, góp phần xây
dựng đất nước.
2.1.2. Vai trò của kinh tế hộ gia đình trong nông nghiệp nông thôn
- Khái niện về nông nghiệp
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia
súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng
chính và chăn nuôi đàn gia súc. Công việc nông nghiệp cũng được biết đến
bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát
8
minh thì tìm cách cải tiến phương pháp công nghệ và kỹ thuật để đạt tăng
năng suất cây trồng và vật nuôi (bách khoa toàn thư mở Wikipedia)[5].
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi
nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
và nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế.
Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế
biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch.
- Khái niệm về nông thôn.
V Stroverov – Nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa khá
bao quát, khi ông cho rằng: “ Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu
xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu
trong lịch sử. Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của
môi trường nhân tạo với các điều kiện địa lý - tự nhiên ưa trội với kiểu loại tổ
chức xã hội phân tán về mặt không gian”. Tuy nhiên nông thôn cũng có nét
năm 2007, giá trị xuất khẩu đạt xấp xỉ 12,5 tỷ USD thì năm 2008 , con số này
là 16 tỷ USD và năm 2009 xuất khẩu đạt 15,6 tỷ USD. Cán cân thương mại
nông lâm thuỷ sản năm 2007 xuất siêu 5,450 tỷ USD, năem 2008 tiếp tục tăng
xuất siêu với mức 5,874 tỷ USD và năm 2009 là 7,3 tỷ USD[16].
Như vậy, khi hội nhập WTO với 3 cú sốc về giá lương thực, giá xăng
dầu, và khủng hoảng kinh tế toàn cầu phủ “óng đen” lên Việt Nam, nông
nghiệp đã thể hiện được vai trò “ trụ đỡ” trong việc chống chọi với những
tác động của khủng hoảng kinh tế.
10
2.1.3. Các yêu cầu để phát triển kinh tế hộ gia đình.
Để phát triển kinh tế hộ gia đình cần những yêu cầu sau [9]
Thứ nhất: căn cứ vào điều kiện, khả năng của từng hộ gia đình mà
chọn từng cách phát triển kinh tế hộ gia đình. Có các cách phát triển kinh tế
hộ gia đình như
+ Sản xuất nông nghiệp theo hướng chỉ sản xuất một loại sản phẩm
nông nghiệp (lương thực, nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, cây lâm nghiệp, cây
công nghiệp ); hoặc có thể nhiều loại kết hợp (VAC, VACR ).
+ Kết hợp vừa làm nông nghiệp vừa làm ngành nghề: Ví dụ; Làm rừng
- nghề mộc; nuôi tằm - dệt lụa
+ Chuyên làm nghề thụ công nghiệp, nghề truyền thống: Ví du: Làm
mỹ nghệ; Mộc; Chế biến nông sản; Làm thổ cẩm; Mây tre đan;
+ Buôn bán: Những hộ gia đình có điều kiện thuận lợi ở những nơi dân
cư tập trung đông hơn thì có thể mở quán bán những mặt hàng phục vụ cho
cuộc sống hàng ngày của người dân. Còn nếu những người dân không có
những điều kiện thuận lợi như vậy có thể trung chuyển sản phẩm theo hình
thức bán lẻ, bán buôn, kinh doanh thu gom phân phối
Thứ hai: Để một hộ gia đình ở nông thôn phát triển được kinh tế thì cần
phải có những điều kiện sau: Điều kiện cần: Đất sản xuất (ruộng, đất lâm
nghiệp, đất trồng cây hoa màu, đất để chăn nuôi gia cầm, gia súc ),sức lao
động, vốn và tài sản của hộ gia đình; điều kiện đủ: Kiến thức sản xuất, thị
12
Thứ năm: Sản xuất phải gắn liền với thị trường và khả năng tiêu thụ sản
phẩn, áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện sản
xuất và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng.
2.1.4. Một số mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình.
Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng mà có
thể vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hoá nhằm nâng
cao năng lực sản xuất và đời sống của các hộ gia đình [6].
Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp
Chuyên chăn nuôi: Bò sữa, cá, tôm, cua, hươu, rắn mô hình này đang
phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng Sông
Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung.
Chuyên ngành trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở
trung du, miền núi phía bắc, tây nguyên nam trung bộ. Đây là mô hình các hộ
kinh tế mà sản phẩm của họ làm ra là nguyên liệu dành cho doanh nghiệp
(DN) chế biến.
Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở
gần các đô thị, DN (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp chế
biến giấy). Mô hình này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hoá nhiều,
cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiên. Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro
do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu.
Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – nuôi gia cầm.
Phát triển chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL, các tỉnh vùng trũng. Mô
hình này thực sự có hiệu quả. Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm
triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng. Đây là những nông hộ cung
13
cấp lượng nông sản hàng hoá lớn cho xuất khẩu. Tuy nhiên, những vấn đề
như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng
lớn đến sự bền vững của mô hình.
Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp
đặc sản. Vật nuôi gồm: Trâu, bò, lơn, dê, gia cầm, chim Hoạt động lâm
nghiệp như bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng Phương
thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc.
Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh
thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu. Mô hình này còn khó khăn về vốn,
khả năng ứng dụng TBKH, hạ tầng cơ sở
Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển
thành quy mô nhiều làng, xã. Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát triển,
nhưng đa phần các hộ gia đình đều không quên giữ đất để sản xuất và chăn
nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm. Mô hình này đang có những tồn tại
về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có quy hoạch lại.
Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp
Mô hình này hình thành ở các Thị Trấn, Thị Xã hoặc các trung tâm
cụm xã theo đầu mối giao thông. Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng
hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương, nhất là
ở các Tỉnh Trung du, miền núi.
15
Xu hướng phát triển các hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình
hoặc DN tư nhân. Đồng thời có quy mô và vốn lớn, các hộ này có kinh doanh
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản
phẩm.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình tại một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Tín dụng vi mô để giúp người nghèo tự tổ chức sản xuất, kinh doanh
ở quy mô kinh tế hộ gia đình tại Bangladesh
Bangladesh là một quốc gia ở vùng Nam Á, ba phía tây, bắc và đông
giáp với Ấn độ, cực đông nam giáp với Myanmar và phía nam là vịnh bengal.
Với dân số xềp thứ bảy trên thế giới 147 triệu người, Bangladesh là một trong
những nước nghèo có mật độ dân số cao nhất thế giới và thu nhập quốc dân
nguồn vay không chính thống khác.
2.2.1.2. Phát triển kinh tế hộ bằng cách phát triển nông nghiệp bền vững tại Hà lan
Hà lan là một nước nghèo tài nguyên, diện tích nhỏ song đã xây dựng
được một nền nông nghiệp có tính cạnh tranh cao phát triển bền vững và có
hiệu quả cao nhất thế giới.
Đất đai Hà Lan hiến hoi, diển tích đất canh tác 910.000 ha, đất trồng cỏ
1.020.000 ha, diện tích đất canh tác khoảng 0,058 ha/người, là mức thấp nhất
của thế giới. Trên đất lục địa, đất nông nghiệp và phi nông nghiệp có tỷ lệ
30/70. Trong đất nông nghiệp tỷ lệ sử dụng để trồng cỏ 51,4%, cây nông
nghiệp là 41,3 %, cây hoa – rau – cây cảnh 5,7%. Trong đất phi nông nghiệp,
17
rừng chiếm 9,5 %, đất ở là 6,6 %, đất bảo hộ tự nhiên 4,1 %, đất nghỉ 2,4 %,
đất đường xá 4,0%, đất công nghiệp và xây dựng 3,8 %. Hà Lan đã đạt được
những thành tựu vượt trội về phát triển nông nghiệp [13].
Hiệu suất xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới
Có 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu thế giới, có 3 mặt
hàng đứng thứ hai thế giới.
+ Mức xuất khẩu về nông sản cũng vượt nhiều cường quốc nông
nghiệp thế giới.
+ Theo cách tính của Bộ Nông nghiệp Mỹ dựa vào “ đồng USD quốc
tế” của tổ chức FAO, thì hiệu suất sản xuất của đất ở Hà Lan năm 1991 Đạt
2.468 USD/ ha, hiệu suất lao động đạt 44.339 USD/ người. Hiệu suất lao
động tuy thấp hơn Mỹ một chút, hiệu suất đất thì cao hơn hẳn mọi nước trên
thế giới[13].
Trên thị trường thế giời, các mặt hàng nông sản của Hà Lan có sức
cạnh tranh cao dựa vào những giải pháp chủ yếu sau đây:
- Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh
là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một
hệ thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước
ngoài. Khoai tây, vốn là một loại “ thực phẩm bình dân” của thế giới, giá cả
3. Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với tài nguyên môi trường.
19
4. Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vẫn đề xoá đói giảm
nghèo, nâng cao mức sống của cư dân nông thôn.
5. Phát triển nền nông nghiệp phải phù hợp với quy luật của thị trường .
2.2.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình tại Việt Nam.
Việc phát triển kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý
lẫn lao động sản xuất, nhất là từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực
phát triển. Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của chỉ thị 100,
ngày 13/ 01 / 1981 của ban bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán
sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã. tiếp theo đó, nghị
quyết 10, ngày 5/ 4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã
tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông
nghiệp [17]
Hiện nay nhờ tiến bộ của KTKT, các hộ gia đình làm kinh tế hiệu quả
thường áp dụng các mô hình sản xuất áp dụng kết hợp nhiều loại sản phẩm
nông nghiệp vừa tận dụng được thế mạnh và kinh nghiệm của địa phương, gia
đình vừa nhằm hạn chế được rủi ro, thất thu và tăng thu nhập, tận dụng được
lực lượng lao động nhàn rỗi do thời vụ .
Một số mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất điển hình sử dụng kỹ thuật
canh tác tiến bộ phổ biến theo trình độ phát triển, thích hợp với vùng sinh thái
tự nhiên và khu vực địa lý mà các hộ gia đình áp dụng làm ăn có hiệu quả là:
Một số mô hình kinh tế làm ăn hiệu quả của một số gia đình trong việc
phát triển mô hình
1. Làm giàu từ mô hình vườn rừng của gia đình Bà Chu thuý Sung ở
thôn Quảng trung 2, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn, 60 tuổi và là công
nhân đã nghỉ hưu:
20
+ Học hỏi những khoa học kỹ thuật và cách chăm sóc trong trồng trọt
và chăn nuôi.
+ Ông quy hoạch ao, một phần diện tích ao rào lại để nuôi 500 con vịt
siêu trứng, diện tích ao còn lại ông nuôi cá thịt.
+ Ông xây lò ấp trứng với số trứng ông thu được mỗi ngày, một phần
trứng ông bán, phần còn lại mang ấp để bán trứng vịt lộn.
+ Đến năm 2003 ông xây hệ thống chuồng trại nuôi lợn cạnh ao cá thịt,
vừa thuận tiện vệ sinh chuồng trại, vừa tận dụng chất thải làm thức ăn cho cá.
Phương pháp nuôi kết hợp cho ăn thức ăn công nghiệp và ngô, sắn của gia
đình sản xuất ra, cộng thêm bỗng rượu, mỗi năm gia đình ông nuôi 2 lứa lợn,
mỗi lứa từ 50 đến 55 con lợn.
+ Cùng với với chăn nuôi, ông Sơn nhận 2 ha đất đồi để trồng keo, mỡ (cây
keo to hiện có đường kính trên 40 cm). trên vườn rừng ông kết hợp nuôi gà thả.
Kết hợp thu được:
Với cách làm này, từ năm 2005 đến nay mỗi năm ông bán được trên 5
tấn thịt thu trên 180 triệu đồng.
Năm 2008, tổng thu nhập của gia đình ông từ nuôi vịt, cá, gà, lợn, vườn
rừng, cây ăn quả đạt 844,4 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi 190 triệu đồng. Với
mô hình kinh tế trang trại, gia đình ông Sơn còn tạo được việc làm cho hai lao
động tại địa phương, với mức thu nhập 1,5 triệu đồng/người/tháng.
22
Kinh nghiệm của gia đình
+ Năng động, nhạy bén, dám nghĩ dám làm
+ Nghiên cứu khả năng của bản thân, gia đình học tập kinh nghiệm các
mô hình sản xuất giỏi, tranh thủ sự giúp đỡ từ nhiều phía: Gia đình, anh em,
người thân trong thôn.
+ Tham khảo ý kiến với cán bộ xã, với những người có chuyên môn,
cán bộ khuyến nông.
+ Sắp xếp lao động hợp lý, đổi công cho anh em trong gia đình, họ
hàng; Sử dụng lao động dư thừa của bà con dân tộc vào lúc nông nhàn như:
Thuê, vay công
+ Tranh thủ sự giúp đỡ, trợ giúp của lâm trường, tập thể và Nhà nước.
tích rừng trồng, chỉ vài năm nữa sẽ cho thu hoạch, mang lại nguồn thu lớn cho
nhân dân trong xã. Từ kinh tế rừng mang lại, đời sống nhân dân Bình Trung
được cải thiện rõ rệt mỗi năm giảm bình quân 5% số hộ nghèo, đến nay 80%
số hộ trong xã có điện lưới quốc gia, có ti vi và cơ bản không còn nhà tạm.
+ Tồn tại
Tuy nhiên trong khi nghề rừng đang trở thành nghề sản xuất chính của
vùng, thì những lớp tập huấn về lĩnh vực này lại chưa được mở nhiều, do cấp
xã không có kinh phí để tổ chức lớp học, mời giáo viên. Những năm gần đây,
nhân dân trong xã tự bỏ vốn trồng hàng trăm ha rừng sản xuất, nhưng lại chưa
có kỹ thuật, chủ yếu làm theo kinh nghiệm. Vốn để thâm canh rừng cũng rất
24
thiếu nên mới chỉ trồng rừng ở mức độ quảng canh, chất lượng trồng rừng
chưa đạt yêu cầu, năng suất rừng trồng thấp. Điều này gây láng phí tài nguyên
đất lâm nghiệp. Hơn nữa vì chu kỳ trồng rừng phải sau bảy đến tám năm mới
cho khai thác mà thời gian vay vốn chỉ có hạn. Nếu giải quyết được hai vẫn
đề này thì kinh tế lâm nghiệp ở huyện Chợ Đồn sẽ phát triển hơn.
Xã Chí viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự
nhiên là 4.395,43 ha trong đó
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 3.177,31 ha, đất sản xuất nông nghiệp
là 921,34 ha và có những điều kiện tự nhiên - xã hội tương tự như xã Bình
Trung,huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, vì vậy có thể học hỏi thông qua những
kinh nghiệm trồng rừng và sử dụng rừng một cách kinh tế và bền vững của
người dân xã Bình Trung nhằm tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân trong xã.
Vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình đã được nhiều nhà khoa học nghiên
cứu và đưa ra những giải pháp
Phát triển kinh tế hộ gia đình luôn là đối tượng được mọi người quan
tâm và nghiên cứu, nếu kinh tế gia đình phát triển, đời sống con người được
nâng cao thì nền kinh tế của đất nước đó mới có thể một cách bền vững được.
Vì vậy, nghiên cứu vẫn đề này sẽ không bao giờ là cũ cả, do nếu đặt kinh tế