Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây Quýt tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BẾ KIM THƯỢNG

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY QUÝT TẠI ĐỊA BÀN
XÃ QUANG HÁN, HUYỆN TRÀ LĨNH, TỈNH CAO BẰNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2014
i
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập lý thuyết tại trường và thời gian thực tập tốt
nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, bạn
bè, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng
tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây
Quýt tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng.”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, cùng tất
cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường. Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên
hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi
hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp. Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới ban lãnh đạo, cán bộ UBND xã Quang Hán đã nhiệt tình và tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ cho bản khóa luận này.
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt việc học tập, nghiên cứu của mình trong suốt
thời gian vừa qua.
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên mặc dầu đã cố gắng hết

Bảng 3.9. Diện tích, năng suất, sản lượng quýt bình quân /hộ 48
Bảng 3.10. Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha của các nhóm hộ điều tra 49
Bảng 3.11. Kết quả sản xuất một ha quýt của các nhóm hộ điều tra 52
Bảng 3.12. Hiệu quả sử dụng vốn 54
Bảng 3.13. Hiệu quả sử dụng lao động 55
Bảng 3.14. Diện tích, năng suất, sản lượng bình quân của cây quýt và cây mận
của các hộ điều tra 56
Bảng 3.15. So sánh chi phí sản xuất một ha cây quýt và cây mận của các hộ
điều tra 57
Bảng 3.16. So sánh kết quả và hiệu quả sản xuất cây quýt và cây mận 58
Bảng 4.1. Kế hoạch phát triển cây quýt ở xã Quang Hán đến năm 2017 64

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 3.1. Biểu đồ giá trị sản xuất thu từ trồng trọt của các nhóm hộ điều tra
năm 2013 47
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả sản xuất một ha quýt của các nhóm hộ điều tra 53
Hình 3.3. Biểu đồ hiệu quả sử dụng vốn 54
Hình 3.4. Biểu đồ hiệu quả sử dụng lao động 55
Hình 3.5: Sơ đồ tiêu thụ quýt tại của các hộ điều tra 60
Hình 3.6. Một số khó khăn của hộ trồng quýt 61 iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

% : Tỷ lệ phần trăm

2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa trong học tập 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
4. Đóng góp của đề tài 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất cây quýt 4
1.1.1.1. Giới thiệu chung về cây quýt 4
1.1.1.2. Giá trị dinh dưỡng của cây quýt 5
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất 6
1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 9
1.1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế 9
1.1.2.2. Bản chất của hiệu quả kinh tế 10
1.1.2.3. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá 12
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
1.2.1. Tình hình sản xuất cây quýt trên Thế giới 13
vi
1.2.1.1 Sản xuất 13
1.2.1.2. Tiêu thụ 15
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trong nước 16
1.2.2.1. Sản xuất 16
1.2.2.2. Tiêu thụ 18
1.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quýt huyện Trà Lĩnh 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 21
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21

3.2.2.1. Tình hình sản xuất quýt của các nhóm hộ điều tra 47
3.2.2.2. Chi phí sản xuất cho 1 ha quýt của các nhóm hộ điều tra 50
3.2.2.3. Kết quả sản xuất một ha quýt của các nhóm hộ điều tra 52
3.2.3. Phân tích hiệu quả sản xuất một ha quýt của các nhóm hộ điều tra 54
3.2.3.1. Hiệu quả sử dụng vốn 54
3.2.3.2. Hiệu quả sử dụng lao động 55
3.2.4. So sánh hiệu quả kinh tế của cây quýt với cây mận 56
3.2.4.1. So sánh chi phí sản xuất một ha cây quýt và cây mận của các hộ điều tra
57
3.2.4.2. So sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của cây quýt và cây mận 58
3.2.5. Tình hình tiêu thụ quýt của hộ 59
3.2.6. Một số khó khăn trong sản xuất quýt của hộ nông dân 61
3.2.7. Một số nhận xét về tình hình phát triển sản xuất quýt của hộ nông dân
62
Chương 4 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT QUÝT TẠI XÃ QUANG HÁN,
HUYỆN TRÀ LĨNH,TỈNH CAO BẰNG 64
viii
4.1. Phương hướng phát triển cây quýt tại xã Quang Hán 64
4.1.1. Phương hướng 64
4.1.2. Kế hoạch phát triển sản xuất quýt ở xã Quang Hán đến năm 2017 64
4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
quýt tại xã Quang Hán 65
4.2.1. Giải pháp đối với chính quyền địa phương 65
4.2.1.1. Quy hoạch vùng sản xuất quýt 65
4.2.1.2. Giải pháp về giống 65
4.2.1.3. Giải pháp về vốn 65
4.2.1.4. Giải pháp về kỹ thuật 66
4.2.1.5. Giải pháp về cơ chế chính sách 66
4.2.2. Giải pháp đối với nông hộ 66

còn có nhiều dược tính chữa bệnh. Vì vậy, cây quýt ngày càng xuất hiện nhiều
trên thị trường và được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
Quýt là cây công nghiệp dài ngày, nó có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Cây quýt ở Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình,
nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn mang lại
một nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho nước ta. Trong những năm gần đây cây
2
quýt ở nước ta có chiều hướng phát triển mạnh, diện tích trồng quýt và giá trị
xuất khẩu ngày càng tăng rõ rệt.
Quang Hán là xã miền núi của huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Người
dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp
với một số loại cây trồng như lúa, ngô, khoai, sắn, cam, quýt, mận So với
các loại cây trồng khác thì cây quýt là loại cây trồng có thế mạnh nhất. Trong
những năm gần đây diện tích trồng quýt và số hộ trồng quýt ngày một tăng,
theo đó đời sống của người dân trong xã từng bước được cải thiện rõ rệt, là
một hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng đúng đắn.
Cây quýt góp phần tạo công ăn việc làm, tận dụng lao động phụ, sử
dụng lao động hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động, làm phong phú thêm
cơ cấu luân canh. Những năm gần đây, cây quýt đã dần trở thành cây trồng
phổ biến ở

xã Quang Hán và thực tế cho thấy nhiều hộ nông dân đã có cuộc sống
khá hơn. Đây là thực tế đáng mừng bởi như thế có nghĩa là người dân đã tìm ra
được lối thoát xoá đói giảm nghèo cho chính họ. Chính vì hiệu quả của việc trồng
cây quýt cao mà người nông dân ngày một chăm lo đầu tư, áp dụng kỹ thuật mới.
Bên cạnh những thành quả đó vẫn còn nhiều người nông dân chưa dám
mạnh dạn đầu tư nhiều cho cây quýt, vì vậy đã làm cho hiệu quả sản xuất
chưa cao so với mong muốn, sự phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng
hiện có của địa phương.
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của

- Khẳng định được sản xuất quýt tại xã Quang Hán đã dần chiếm ưu thế
hơn các loại cây trồng khác tại địa phương.
- Khẳng định được hiệu quả kinh tế của cây quýt cao hơn nhiều so với
cây mận, vốn là một loại cây ăn quả cũng được trồng nhiều tại địa phương.
- Đánh giá được khó khăn của người dân trong sản xuất cây quýt từ đó
đưa ra giải pháp phù hợp.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất cây quýt
1.1.1.1. Giới thiệu chung về cây quýt
Cam, quýt là cây ăn quả lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ của điều kiện
ngoại cảnh, biểu hiện qua sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng xuất và
phẩm chất quả. Những đặc trưng, đặc tính của cây được biểu hiện qua một
vòng đời hay trong một năm, đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểm
các loài với ngoại cảnh.
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triển
kinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện, tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh về
vùng, lựa chọn cây trồng vật nuôi có lợi thế để tạo ra nhiều của cải vật chất,
đất nước phồn vinh, mức thu nhập của người dân tăng cao.
Trong điều kiện nước ta hiện nay ở khu vực nông thôn có tỷ lệ thất
nghiệp ngày càng tăng, sức ép về việc làm lớn, do đó trong tương lai cần phát
triển sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu với các ngành nghề trong đó có
nghề trồng cây ăn quả ở nông thôn là hướng đi đúng đắn và cần thiết.
Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quýt có lịch sử
trồng trọt lâu đời nhất. Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của cam
quýt, phần lớn đều thống nhất cam quít có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải
dài từ Ấn Độ qua Himalaya - Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin,

sành Hàm Yên, cam sen Yên Bái, cam sen Đình Cả - Bắc Sơn.
1.1.1.2. Giá trị dinh dưỡng của cây quýt
Cam quýt là cây ăn quả có giá trị trên thị trường quốc tế, là một trong
những loại quả được trao đổi buôn bán nhiều, sản lượng thế giới năm 2011
(F.A.O) như sau: Cam quýt 24.580.204 tấn.
Cam quýt là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao. Đường tổng số: 6- 12%.
Vitamin C: 40 - 90mg/100g tươi. Chất đạm: 0,9% Chất béo: 0,1%. Fe:
0,2mg/100g tươi: 15 - 25mg. Ca: 26 - 40mg; năng lượng: 430 - 460 calo/kg.
6
Vì vậy cam quýt có ý nghĩa trong việc bồi bổ sức khoẻ cho con người.
Nó có giá trị trong y học phương Đông, tham gia vào nhiều vị thuốc cổ
truyền. Đặc biệt hàm lượng phong phú về Vitamin C[8]. Quýt rất ngon, ngọt,
thơm, được nhiều người ưa thích, là quả tốt để ăn tráng miệng, để làm nước
giải khát, làm mứt.
Quýt vừa ngon, đẹp vừa có nhiều dinh dưỡng. Trong một qủa quýt, nước
quả chiếm 28-56%, vỏ chiếm 22-22,5%, hạt 1,3-2,5%. Trong nước quýt có 11,6%
đường, 2% axit citric, axit hữu cơ, các vitamin A, B, C, chất khoáng.
Trong vỏ quýt tươi có 3,8% tinh dầu, 61,25% nước, các vitamin A, B…
Vỏ quýt phơi khô là vị thuốc Trần bì nổi tiếng. Trong lá quýt có khoảng 0,5%
tinh dầu. Ở Châu Á, Nhật và Trung Quốc (những nước trồng nhiều Quýt),
nhân dân các nước này rất ưa dùng Quýt[10].

Cam quýt ngay từ xa xưa đã là thức ăn của người nguyên thuỷ, nó có chứa
đủ năm yếu tố cơ bản cho con người (đường, đạm, béo, khoáng và Vitamin).
Ngày nay nó được sử dụng làm thức ăn tráng miệng rất được ưa chuộng.
Cam quýt có nhiều loại, thứ, quả chín sớm muộn khác nhau, có thể kéo
dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường tới 6 tháng trong năm. Nếu ta
trồng ở các vĩ độ khác nhau, hoặc ở các bán cầu khác nhau, cùng với ưu điểm
dễ cất giữ, vận chuyển, thì cam quýt có thể cung cấp quả tươi gần như quanh
năm. Trồng cam quýt sớm cho thu hoạch, đầu tư ban đầu không cao nhưng

- Phân bón: Bón phân cho quýt nhất là quýt kinh doanh là một biện
pháp kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng.
Quýt là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng rãi, nó
có thể sống nơi đất rất màu mỡ cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi mà vẫn có
thể cho năng suất nhất định. Tuy nhiên muốn nâng cao được năng suất,
chất lượng thì cần phải bón phân đầy đủ. Bón phân cho quýt là biện pháp kinh
tế kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng cho cây trồng,
nhưng biện pháp này cũng có những tác dụng ngược. Bởi nếu bón phân
8
không hợp lý sẽ làm cho năng suất và chất lượng không tăng lên được,
thậm chí còn bị giảm xuống. Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng
lúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu như: Đạm, Lân,
Kali, phân chuồng.
c. Nhóm nhân tố về kinh tế
+ Thị trường
Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại
phát triển của các hộ sản xuất quýt, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế
thị trường. Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân
đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào và sản xuất cho ai. Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu,
mang tính định hướng. Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm
kiếm thị trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị
trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra. Thị trường đóng vai trò là khâu
trung gian nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
+ Giá cả
- Đối với người sản xuất nông nghiệp nói chung, của người trồng quýt nói
riêng thì sự quan tâm hàng đầu là giá cả trên thị trường; giá cả không ổn định ảnh
hưởng tới tâm lý người sản xuất.
- Có thể nói sự biến động của thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới đời
sống của người sản xuất nói chung, cũng như người trồng quýt, nói riêng. Do

1.1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho
lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
10
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các
hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế[1].
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
• Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ
tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả
cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là
không lãng phí. Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn
năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh
tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản
lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí.
• Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy
luật kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức
sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội.
• Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của
kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản
xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó.
• Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa
chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử
dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó.
Tóm lại: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được và chi phí nguồn lực bỏ ra. Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ
ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết

Phần lớn những kết quả sản xuất đầu ra có thể lượng hóa được một
cách cụ thể nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hóa được như: Bảo vệ
môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
12
Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại
không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất. Mục đích cuối cùng của sản
xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà
còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn.
Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và
phát triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của
mọi thành viên trong xã hội. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao
năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ
mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng
của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và tiết kiệm
thời gian làm việc.
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải
đạt hiệu quả tối đa và chi phí tối thiểu. Nó được hiểu theo nghĩa rộng là chi
phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực. Chi phí sử dụng nguồn lực
bao gồm cả chi phí cơ hội.
1.1.2.3. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực
tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu
quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định. Việc
nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời
kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng
theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế -

sinh trưởng phát triển. Song phần lớn rất quan trọng khiến nó trở thành vùng
14
cam quýt lớn nhất là để thoả mãn cho nhu cầu của các nước công nghiệp tư
bản ở Châu Âu (như Anh, Pháp, Đức) từ thế kỷ trước. Vùng này có những
nước sản xuất nhiều và xuất khẩu nhiều năm đứng đầu thế giới như: Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha, Israen, Marốc, Italia…Năm 2006 Tây Ban Nha sản xuất
2921 nghìn tấn[5].
* Vùng cam quýt Châu Mỹ.
Các nước sản xuất nhiều như: Mỹ, Mêhicô, Cu Ba, Costarica,…ở Nam
Mỹ có: Brazil, Achentina, Equado, Colombia, Uragoay.
Năm 2006 sản lượng cam quýt của Hoa Kỳ là: 2.903 nghìn tấn.
Tuy vùng cam Châu Mỹ được hình thành muộn hơn nhiều vùng khác,
song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nên công nghiệp
Hoa Kỳ (nhu cầu về sinh tố của người công nhân) mà thúc đẩy ngành cam quýt
ở đây phát triển rất mạnh. Hoa Kỳ nhiều năm có sản lượng lớn nhất Thế giới[5].
* Vùng cam Châu á
Bao gồm các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Malayxia,
Pakistan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippin, Việt Nam.
Vùng này chính là quê hương của cam quýt, song do tốc độ phát triển
kinh tế chậm (nhất là sự phát triển của công nghiệp) nên nghề trồng cam quýt
cũng chậm. Cho đến những năm cuối thế kỷ này, tốc độ có tăng lên. Đặc biệt
là ở Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên ngoài mở rộng sản xuất còn nhập khẩu
lượng lớn cam quýt từ Đại lục Trung Quốc[5].
Sản lượng 2011 của Trung Quốc như sau: cam quýt 12.707.000 nghìn
tấn; Ngoài 3 vùng cam chính trên đây, hiện nay còn có một số vùng ở Châu
Úc như: Australia, Newzeland, Fiji… hàng năm cũng cung cấp khoảng nửa
triệu tấn cam quýt.
Theo số liệu thống kê của FAO (2013), tình hình sản xuất cam quýt
trên Thế giới được tổng hợp như bảng 1.1
15


21.370.767

24.580.204

27.060.756

(Nguồn:FAOSTAT/Statistics,2013)[9]
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trên thế giới trong những năm gần đây
diện tích trồng quýt tăng dần qua các năm. Bắt đầu từ năm 2008 trở lại đây
diện tích trồng cam quýt tăng lên đáng kể, từ 2008 đến 2011 diện tích quýt
tăng đạt 2.680.504 ha, đến năm 2012 lại giảm xuống còn 2.345.020 ha.
Năng suất qua các năm có sự biến đổi, năm 2008 đếm năm 2010 năng suất
liên tục tăng và đạt 10,2866 tấn/ ha. Năm 2010 đến năm 2011 năng suất giảm
xuống chỉ còn 9,170 tấn/ha. Năm 2012 năng xuất tăng lại lên 11,5396 tấn/ha.
Sản lượng qua các năm nhìn chung đều tăng, năm 2010 và 2011 mặc dù
năng suất giảm nhưng diện tích tăng nên sản lượng vẫn tăng tuy không đáng kể.
1.2.1.2. Tiêu thụ
Các nước xuất khẩu cam chủ yếu là Tây Ban Nha, Thái Lan, Ấn Độ,
Italia với các giống cam chanh được ưa chuộng trên thị trường là Washington
navel, Valencia Late của Marốc, Samouti của Israer, Maltaises của Tunisia,
các giống quýt Địa Trung Hải như Clementin, quýt đỏ Đanxy và Uxiu.
Theo tổ chức Fao năm 2008, tổng sản lượng cam quýt là 21.098.444
tấn trong đó tiêu thụ trong nước khoảng 19.258.560 tấn một phần xuất khẩu
sang các thị trường tiêu thụ cam quýt lớn như Mỹ, Nhật Bản, Pháp và các
Nước EU.
Trong tiêu thụ cam quýt dùng ăn tươi một phần còn đa số 2/3 sản lượng
qua chế biến. Các nước ôn đới tỉ lệ cam quýt chế biến lên đến 80 - 90 % trong

Trích đoạn Phương pháp phân tích thông tin Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ Tài nguyên đất Đặc điểm kinh tế của vùng Tình hình phát triển sản xuất cây quýt ở xã Quang Hán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status