LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một phần rất quan trọng trong quá trình học tập
của sinh viên. Trong thời gian thực tập tốt nghiệp sinh viên có nhiều cơ hội áp
dụng những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời tạo điều kiện cho sinh
viên có khả năng tự mình nghiên cứu, trau dồi và bổ sung thêm những kiến
thức chuyên môn, rèn luyện tư cách đạo đức, phẩm chất, tác phong của người
cán bộ khuyến nông.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình trồng lúa BT13 tại xã Đa Thông – huyện
Thông Nông – tỉnh Cao Bằng”.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & PTNT nói
riêng, đã hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
tại nhà trường và tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt tôi xin
chân thành cảm ơn thầy giáo Ths. Lành Ngọc Tú đã giành nhiều thời gian chỉ
bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bác, các cô, các
chú cùng toàn thể các anh chị tại Trạm khuyến nông huyện Thông Nông,
UBND xã Đa Thông và toàn thể bạn bè và gia đình, đã tận tình giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài.
Do thời gian có hạn và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên
khóa luận của tôi không tránh được những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày 09 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
BVTV Bảo vệ thực vật
KHKT Khoa học kỹ thuật
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
DT Diện tích
NS Năng suất
SL Sản lượng
CC Cơ cấu
PTBQ Phát triển bình quân
PTNT Phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân dân
NN Nông nghiệp
CN Công nghiệp
TTCN Tiểu Thủ công nghiệp
XD Xây dựng
GTXS Giá trị sản xuất
HTX Hợp tác xã
Đ Đồng
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích 2
1.3. Mục tiêu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở lý luận về mô hình 4
2.1.1. Lý luận chung về mô hình 4
4.5. Phân tích những thuận lợi, khó khăn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô
hình sản xuất lúa BT13 57
4.5.1. Thuận lợi 57
4.5.2. Khó khăn 58
4.5.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất lúa VT13 58
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1. Kết luận 62
5.2. Kiến nghị 63
TÀI LIỆU LIỆU THAM KHẢO 65
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất
là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công
nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp không lớn
nhưng khối lượng sản phẩm nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên và giữ vai
trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn lịch sử của các nước trên
thế giới đã chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế nhanh chóng mới có sự an
toàn lương thực. Nếu không đảm bảo an toàn lương thực thì khó có thể ổn
định về chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển.
Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với
ngô, lúa mì, sắn và khoai tây. Lúa đứng thứ hai về diện tích và sản lượng. Lúa
gạo còn là nguồn lương thực cho hơn nửa dân số thế giới. Trong khi dân số
thế giới tiếp tục tăng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm theo thời gian
thì việc tăng sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu của con người là một
vấn đề cấp bách cần được giải quyết để đảm bảo an ninh lương thực thế giới.
Đối với người dân châu Á nói chung hay người dân Việt Nam nói riêng thì
cây lúa là cây lương thực hàng đầu. Lúa gạo có vai trò quan trọng trong đời
sống con người, gắn liền với bữa ăn hàng ngày của chúng ta. Ngoài ra lúa còn
làm thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp hay lúa là hàng hóa
tính bền vững và khả năng nhân rộng cao của mô hình.
1.3. Mục tiêu
- Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Đa Thông,
huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.
- Đánh giá được thực trạng sản xuất của mô hình lúa BT13 tại xã Đa
Thông – Thông Nông – Cao Bằng.
- Đánh giá được hiệu quả và mức độ tham gia của người dân đối với mô
hình.
- Phân tích được tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình.
- Phân tích được những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình, đề
xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trong thực tiễn sản xuất.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
2
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà
trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những
kiến thức ngoài thực tế.
- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến
thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được
những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập,
nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả
năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định
hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Nghiên cứu đề tài là cơ hội đề mỗi sinh viên có cơ hội để vân dụng
những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học và là cơ sở để hình
thành các ý tường sau này.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó
tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô
hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng
nghiên cứu.
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình,
các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng
mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng
cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
4
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc
vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để
mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng
đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được
thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng
nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được
bản chất của đối tượng nghiên cứu.
* Mô hình sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo
ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức
lao động của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng
minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu trong nền
sản xuất. Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công cụ
sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm,
đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại.
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong những nội dung kinh tế của
sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài
những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà mô hình sản xuất là hình mẫu
trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các điều kiện sản xuất trong điều kiện sản
Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai
thực hiện mô hình, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của
mô hình trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu[4].
Đánh giá để khẳng định những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn
bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được.
Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản
và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được.
Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:
- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:
+ Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không.
+ Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông
qua các hoạt động đã chỉ ra.
- Đánh giá sử dụng các phương pháp để điều tra một cách có hệ thống
các kết quả và hiệu quả của mô hình. Nó cũng điều tra những vấn đề có thể
làm chậm tiến độ thực hiện mô hình nếu như các vấn đề này không được giải
quyết kịp thời.
6
- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có khoa
học, lấy mẫu theo phương pháp thống kê.
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn.
- Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
2.1.2.2. Các loại đánh giá
Đánh giá có nhiều loại khác nhau. Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3
loại chính như sau:
* Đánh giá tiền khả thi/ khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô
hình, để xem xét xem liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay
không trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức
tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô
quả của sự phối hợp đó.
- Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét lại các kỹ thuật mà mô hình đã
đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm
bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi
trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta cần phải quan tâm
đến vấn đề môi trường.
- Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả của mô hình
có thể áp dụng rộng rãi hay không, nếu có áp dụng thì cần diều kiện gì không.
* Tổng kết
Thông thường sau khi kết thúc một mô hình hay hoạt động, người ta tổ
chức hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện, đánh giá về
những thành công hay chưa thành công, phân tích các nguyên nhân gây thất
bại, lấy đó làm các bài học để tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình sau này.
2.1.2.3. Tiêu chí đánh giá
* Khái niệm tiêu chí
- Khái niệm tiêu chí: Tiêu chí như là một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có
thể định lượng được dùng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay một
mô hình nào đó.
* Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá
- Đối với các tiêu chí mang tính định lượng
Là các tiêu chí đo đếm được cụ thể, các chỉ tiêu này thường được sử
dụng để kiểm tra tiến độ công việc. Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể
được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra hoặc phỏng
8
vấn… cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng hoặc trên hiện trường:
sự sinh trưởng của cây trồng, tăng trọng của vật nuôi, năng xuất cây trồng…
- Đối với các chỉ tiêu định tính
Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được. Nhóm chỉ tiêu này thường phản
nhất. Nói cách khác là ở một mức khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì
phải làm thế nào để chi phí sản xuất là thấp nhất.
Như vậy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn
lực đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mối quan
hệ này là thể hiện tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất. Với cách xem xét này,
hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về hiệu quả kinh tế. Có thể khái
quát hiệu quả kinh tế như sau:
+ Hiệu quả kinh tế được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa
lượng kết quả đạt được với lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng
chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào. Mối tương quan
này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối quan hệ chặt chẽ
giữa hai đại lượng đó. Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ
thuật hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
+ Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối
(thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Với cách biểu hiện này nó đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng
có hiệu quả các nguồn lức sản xuất khác nhau. Từ đó so sánh được hiệu quả
kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh
giá này là không thể hiện được quy mô hiệu quả kinh tế nói chung.
Cách đánh giá khác về hiệu quả kinh tế nữa là được đo bằng hiệu số
giữa kết quả sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
+ Cách xem xét khác về hiệu quả kinh tế là so sánh giữa mức độ biến
động của kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó. Biểu hiện của cách đánh
giá này có thể so sánh chênh lệch về số tương đối và tuyệt đối giữa hai tiêu
thức đó. Cách đánh giá này có ưu thế khi xem xét hiệu quả kinh tế của việc
đầu tư theo chiều sâu hoặc trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
tức là nghiên cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Tuy nhiên hạn
chế của cách đánh giá này là không xem xét đến hiệu quả kinh tế của tổng chi
là đơn giá sản phẩm thứ i
Q
i
là khối lượng sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất
thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân
bón, thuốc BVTV, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng trong một vụ sản xuất.
IC = ∑C
i
Trong đó: C
i
là khoản chi phí thứ i
+ Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của
doanh nghiệp hay người sản xuất tính theo công thức:
VA = GO – IC
11
Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó.
+ Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần tuý
của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản
xuất 1 đơn vị diện tích trong một vụ rau.
MI = VA – (A + T)
Trong đó : VA là giá trị tăng thêm (gia tăng); T là thuế nông nghiệp
A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân
bổ
+ Lợi nhuận:
TP
r
= GO – TC
Trong đó: GO là giá trị sản xuất
2.1.3.3. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi
trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện phát triển nông, nghiệp
nông thôn bền vững. Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai thác hợp lý
các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho các thế hệ
tương lại[3].
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO,2010) cho thấy, có 114
nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích trồng lúa
trên trên 1.000.000 ha tập trung ở Châu Á, 31 nước có diện tích trồng lúa
trong khoảng 100.000ha - 1.000.000 ha. Trong đó có 27 nước có năng suất
trên 5 tấn/ha, đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc(9,5 tấn/ha) El Salvador (7,9
tấn/ha) (Hoàng Long, 2012).
Năng suất lúa ở các châu lục chênh lệch với nhau khá xa. Châu Úc có
năng suất đứng đầu thế giới 81,70 tạ/ha sau đó là châu Âu 55,9 tạ/ha rồi đến
Bắc Mỹ. Có thể giải thích về điều này như sau: đây là những vùng có đất đai,
khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa nước. Hầu hết các khu vực này đều có
nền công nghiệp phát triển nên nông nghiệp được hỗ trợ mạnh mẽ, hơn nữa
với diện tích trồng lúa không lớn buộc họ phải thâm canh để có đủ sản lượng
lương thực đáp ứng nhu cầu trong khu vực, mặt khác trình độ dân trí, trình độ
canh tác cao, các tiến bộ kỹ thuật được đáp ứng đầy đủ là những yếu tố làm
cho năng suất ở những khu vực này là khá cao. Châu Mỹ Latinh và châu Phi
có năng suất lúa thấp nhất thế giới. Năng suất lúa châu Á được xếp vào hàng
13
thứ 4 sau châu Úc, châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng năng suất lúa ở châu Á vẫn
cao hơn năng suất bình quân của thế giới.
Chiếm trên 90% diện tích và sản lượng lúa gạo toàn cầu, châu Á có
Việt Nam là đất nước có truyền thống trồng lúa nước từ lâu đời. Sản
xuất lúa gáo ở nước ta tập chung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
và Đồng bằng song Hồng, khoảng 80% hộ gia đình nông thôn trong cả cstham
gia vào sản xuất gạo.
Trong giai đoạn 1968 – 1975 cuộc Cách Mạng Xánh sảy ra cả 2 miền
Nam và Bắc Việt Nam nhớ thành tựu về hệ thống tưới tiêu, phân bón và đặc
biệt về giống đã làm cho sản lượng lúa tăng 8,8 triệu tấn trong năm 1967 –
1975. Tuy nhiên do chiến tranh và áp dụng biện pháp kinh tế không hữu hiệu,
trong giai đoạn 1962 – 1988 nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái
Lan, Mỹ… Số lượng nhập cao nhất là 1.260.000 tấn vào năm 1970. Năm
1989 đến nay nhờ cơ chế chính sách của nhà nước thay đổi Việt Nam đã
chuyển vị trí từ nước nhập khẩu thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế
giới.
Từ đó đến nay sản lượng lúa gạo của Việt Nam không ngưng tăng lên
trong 10 năm từ 1990 – 2000 tăng từ 19.225 triệu tấn lên 32,700 triệu tấn.
Lượng xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng lên, năm 2000 là 4.500 triệu tấn.
Một tốc độ tăng hiếm gặp cũng là cao nhất những nước trông lúa trên thế giới.
Trong những năm gần đây, từ năm 2000 đến nay diên tích trồng lúa của
nước ta có xu hướng giảm dần. Đây cũng là xu hướng tất yếu vì các nguyên
nhân: Thay đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với từng vùng, từng loại đất để
tăng hiệu quả kinh tế và do tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh chóng nên đất
đai nông nghiệp bị giảm nhanh. Nhưng sản lượng lúa của nước ta không giảm
mà còn tăng lên, lượng xuất khẩu ra thế giới cũng tăng theo[11].
Theo thống kê của FAO thì trong những năm gần đây thì sản xuất lúa
của Việt Nam có sự tăng trưởng rõ rệt. Cụ thể từ năm 2010 -2012 sản lượng
năng suất và diện tích trổng lúa của Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2. Diện tích năng suất và sản lượng trồng lúa của nước ta năm
2010-2012
15
( cao hơn các giống lúa thuần khác từ 3,5 – 4,0 tạ/ha) và có chất lượng gạo
thơm ngon.
16
Trên cơ sở thành công của quá trình khảo nghiệm của cả vụ xuân và vụ
mùa, 5 giống lúa thuần PB1, PB2, PB8, T10 và BT13 đã được Sở NN&PTNT
Hà Giang đề nghị UBND tỉnh đưa vào cơ cấu gieo trồng trên địa bàn của tỉnh
trong vụ mùa 2012 và những năm tiếp theo[13].
Kết quả theo dõi sâu bệnh hại trên đồng ruộng tại một số điểm khảo
nghiệm trong vụ xuân 2008 tại tỉnh Phú Thọ thu được kết quả sau: So với đối
chứng là giống KD18 tại hầu hết các điểm BT13 đều có mức độ nhiễm thấp
hơn. BT13 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống đối chứng 7 – 12 ngày,
đồng thời năng suất thực thu đạt trung bình 7,0-7,5 tấn/ha, cao hơn đối chứng
KD18 tới 0,8-9,5 tạ/ha. Kết quả khảo nghiệm giống BT13 tại xã Tú Lệ-Văn
Chấn- Yên Bái tại vụ xuân 2007 thấy năng suất BT13 đạt 51 tạ/ha cao hơn đối
chứng 16,5 tạ/ha, tăng 46,7%.
Từ các kết quả khảo nghiệm trong năm 2007 và 2008 cho thấy BT13 là
giống cho năng suất khá ổn định trong các điều kiện canh tác và thời vụ khác
nhau của từng tiểu vùng sinh thái ở miền núi phía Bắc. Như đã nói BT13 là
giống lúa thuần ngắn ngày. Thích ứng rộng, tiềm năng năng suất cao, ít sâu
bệnh, thích hợp cho canh tác vụ mùa vùng trung du và vụ xuân vùng cao[12].
Trên cơ sở các khảo nghiệm về giống lúa BT13 đã thành công tại các
tỉnh Hà Giang, Phú Thọ, Yên Bái… Viện KHKT nông lâm miền núi phía bắc
đã xây dưng kế hoạch triển khai thực hiện tại Cao Bằng vào năm 2013.
2.2.2.2. Tại Cao Bằng
Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã xây dựng kế hoạch
ngay từ đầu năm nên đã chủ động triển khai các nội dung của dự án kịp thời,
đúng tiến độ và thời vụ, phù hợp với kế hoạch sản xuất tại địa phương.
Trong quá trình triển khai thực hiện, Viện đã phối hợp với Sở
NN&PTNT tỉnh Cao Bằng và các cơ quan địa phương: Trạm Khuyến nông
phẩm là sản phẩm xuất khẩu.
- Có các chính sách hỗ trợ như: Vốn, giống, vật tư nông nghiệp… từ dự
án, chính sách của nhà nước.
18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các xóm thực hiện mô hình sản xuất lúa BT13
tại xã Đa Thông - huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Xã Đa Thông - huyện Thông Nông - tỉnh Cao Bằng.
- Thời gian nghiên cứu: 10/01/2014 – 15/4/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Các xóm tham gia mô hình trong xã Đa Thông –
huyện Thông Nông – tỉnh Cao Bằng.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Đa Thông - huyện Thông
Nông - tỉnh Cao Bằng.
- Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thực trạng sản xuất của mô hình lúa BT13 tại xã Đa Thông - huyện
Thông Nông - tỉnh Cao Bằng.
Đánh giá hiệu quả và mức độ tham gia của người dân đối về mô hình.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
- Đánh giá hiệu quả xã hội của mô hình
- Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình
Đánh giá tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình.
- Đánh giá tính bền vững của mô hình
- Đánh giá khảnăng nhân rộng của mô hình
Phân tích những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình, đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trong thực tiễn sản xuất.
Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cưu,
tiến hành tổng hợp và phân tích.
- Số liệu thu thập được trong các phiếu điều tra tổng hợp từng nội dung.
- Xử lý định tính, định lượng dựa trên phần mền xử lý số liệu excel.
20