ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ mô HÌNH TRỒNG THẢO QUẢ (AMOMUM AROMATICUM ROXB) dưới tán RỪNG - Pdf 20

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
3. Giới hạn của đề tài 2
4. Ý nghĩa đề tài 2
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1.Trên thế giới 3
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.1.3. Thảo quả và những nghiên cứu phát triển 17
1.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu 21
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 21
1.2.2. Tài nguyên rừng 25
1.2.3. Điều kiện kinh tế xã hội 26
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 29
2.1. Nội dung nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 29
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 29
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến quá trình sinh trưởng,
phát triển và hiệu quả mô hình trồng thảo quả tại xã Quan Thần Sán 34
3.1.1. Đặc điểm cấu trúc rừng nơi trồng thảo quả 34
3.1.2. Đặc điểm đất nơi trồng thảo quả 38
3.1.3. Đặc điểm hình thái và sinh trưởng của thảo quả ở khu vực nghiên
cứu 39

Ds Chỉ số đa dạng thực vật
H Chiều cao cây
ha Đơn vị tính diện tích
Hdc Chiều cao dưới cành
Hvn Chiều cao vút ngọn
HĐBT Hội đồng bộ trưởng
G Tiết diện ngang
DC Độ cao so với mặt nước biển
N Số cây
NS Năng suất
MT Môi trường
TC Độ tàn che
TB Trung bình
MUN Mùn
M Trữ lượng
T Tồn tại
t
o
Nhiệt độ
Rla Chiều rộng lá
pH Độ chua
UBND Uỷ ban nhân dân
SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
Ws Độ ẩm
SPSS Phần mềm
X Độ xốp

iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Số liệu khí hậu của khu vực Bắc Hà - Si Ma Cai 23

Bảng 1.2. Các loại đất đai trong xã Quan Thần sán 26
Hình 3.1. Ảnh thảo quả trồng tại ô tiêu chuẩn số 1, Quan Thần Sán
35
Hình 3.2. Ảnh thảo quả trồng tại ô tiêu chuẩn số 2, Quan Thần Sán
36
Hình 3.3. Ảnh cây thảo quả ( Amomum aromaticum Robx.) 40
Hình 3.4. Ảnh rễ và mầm thảo quả 40
Hình 3.5: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao và đường kính thảo quả. .43
Hình 3.6: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao và số lá thảo quả 44
Hình 3.7: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao và chiều rộng lá thảo quả44
Hình 3.8: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao và chiều dài phiến lá 45
Hình 3.9: Biểu đồ liên hệ giữa năng suất và chiều cao thảo quả 47
Hình 3.10: Biểu đồ liên hệ giữa năng suất và đường kính thảo quả 48
Hình 3.11: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao của thảo quả với độ cao
địa hình 50
Hình 3.12: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao thảo quả và độ tàn che
tầng cây cao 51
Hình 3.13: Biều đồ liên hệ giữa chiều cao thảo quả và độ ẩm đất 53
Hình 3.14: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao thảo quả và hàm lượng
mùn đất 55
Hình 3.15: Ảnh đo, đếm chỉ tiêu cây thảo quả 57
Hình 3.16: Biểu đồ liên hệ giữa chiều cao thảo quả và độ pH đất 57
v
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, vai trò của rừng ngày càng được nhận thức rõ hơn bao
giờ hết. Rừng cung cấp gỗ và lâm đặc sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
của hàng triệu đồng bào miền núi. Rừng là nơi nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ
đất, chống xói mòn, làm sạch môi trường và mang giá trị văn hoá, tinh thần. Tuy nhiên,
cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ của dân số thế giới, rừng ngày càng bị thu

sở đề xuất các giải pháp phát triển bền vững".
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn cảnh đến
sinh trưởng và năng suất của thảo quả góp phần xây dựng cơ sở khoa học đề xuất các
giải pháp phát triển bền vững ở xã Quan Thần Sán, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định được quan hệ định lượng giữa sinh trưởng và năng suất của thảo quả
với một số yếu tố hoàn cảnh. Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật chủ yếu
góp phần nâng cao sinh trưởng và năng suất của thảo quả ở khu vực nghiên cứu.
3. Giới hạn của đề tài
Về đối tượng: đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài cây thảo quả 7 tuổi
được trồng phổ biến tại xã Quan Thần Sán huỵên Si Ma Cai.
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn
cảnh dễ xác định, có ảnh hưởng đến nhiều yếu tố hoàn cảnh khác như: (đặc điểm
cấu trúc rừng, độ cao so với mặt biển, độ dốc, độ ẩm đất, độ xốp, độ dày tầng đất,
độ pH, hàm lượng mùn trong đất) và đánh giá hiệu quả mô hình trồng thảo quả dưới
tán rừng (Hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội).
4. Ý nghĩa đề tài
Thông qua kết quả nghiên cứu giúp cho tác giả có một phương pháp nghiên
cứu, tổng hợp và viết báo cáo. Kết quả đề tài là nguồn tư liệu quan trọng để người
dân trồng thảo quả tham khảo, nhằm nâng cao năng xuất hiệu quả Thảo quả dưới
tán rừng trên địa bàn nghiên cứu.
2

Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
1.1.1.1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ

phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa
mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản
phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và
sợi". Theo khái niệm này của Jenne.H. de Beer là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác
với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ.
1.1.1.2. Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ
- Về tính đa dạng của lâm sản ngoài gỗ:
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên
gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ. Khi nghiên cứu sự
đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta
đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm thức ăn. Để thuận
tiện cho việc nghiên cứu một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm
sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau:
A. Cây sống và các bộ phận của cây
B. Động vật và các sản phẩm của động vật
C. Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu nhựa thực vật )
D. Các dịch vụ từ rừng, Mendelsohn (1989) [38] đã căn cứ vào giá trị sử dụng
của lâm sản ngoài gỗ để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo
dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc. Ông cũng căn cứ
vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị
trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch.
Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị. Theo
Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước đây bị lu mờ và ít
được chú ý đến.
4

Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm sản ngoài gỗ trên
thế giới với số lượng khổng lồ các giống loài. Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh
thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng. Tính phong phú của lâm sản ngoài gỗ có ý
nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay. Nó chứng tỏ một tiềm năng lớn không chỉ cho

50% nguồn lợi của rừng không phải là gỗ (Cứu lấy trái đất, 1993[31]). Trong một
số trường hợp lợi ích thu được từ lâm sản ngoài gỗ lớn hơn nhiều so với thu nhập từ
các sản phẩm khác.
Nghiên cứu về tiềm năng kinh tế của lâm sản ngoài gỗ ở Đông Nam Á cho
thấy có ít nhất 30 triệu người chủ yếu dựa vào các sản phẩm ngoài gỗ, đóng góp cho
thị trường thế giới khoảng 3 tỷ USD từ các đồ gia dụng làm từ song mây. Nhiều nước
trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Indonesia, Maylaysia,
Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu sử dụng hợp lý các sản phẩm ngoài gỗ
nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của
các hệ sinh thái rừng địa phương.
Rừng như một nhà máy quan trọng đối với xã hội và lâm sản ngoài gỗ là một
trong những sản phẩm quan trọng nhất của nhà máy này (Mendelsohn, 1992). Phân
tích vai trò của lâm sản ngoài gỗ ở vùng nhiệt đới tác giả còn nhận thấy ý nghĩa đặc
biệt của nó với việc bảo tồn rừng. Bởi vì việc khai thác lâm sản ngoài gỗ có thể luôn
được thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng, đảm bảo cho rừng ở trạng thái nguyên
vẹn tự nhiên. Bằng việc phát triển kinh doanh sản phẩm ngoài gỗ, rừng tự nhiên có
thể được giữ gìn nguyên vẹn, trong khi người dân địa phương vẫn có thể thu được lợi
ích từ các khu rừng này. Tác giả khẳng định rằng, việc kinh doanh lâm sản ngoài gỗ
sẽ ngày càng được phát triển như một yếu tố triển vọng nhất cho quản lý rừng bền
vững, cho giải quyết vấn đề môi trường và phát triển ở vùng núi nhiệt đới.
Như vậy, các nghiên cứu đều đưa ra nhận định lâm sản ngoài gỗ có một vai trò
to lớn, nó không phải là sản phẩm "Phụ", mà là một trong những sản phẩm chính
của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và góp phần
vào bảo tồn và phát triển rừng. Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của lâm
sản ngoài gỗ như khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh
tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình
và đặc biệt là việc khai thác chúng gần như không tổn hại đến rừng đó thúc đẩy
nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ. Phần lớn
6


7

về hệ thống biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển một số loài lâm sản ngoài gỗ nào đã
cho năng suất cao. Có nhiều công trình nghiên cứu về gây trồng quế, sa nhân, cọ
dầu v.v Các công trình nghiên cứu đều khẳng định, trên thế giới đã có nhiều loài
lâm sản ngoài gỗ được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống.
- Về thị trường và các yếu tố xã hội khác liên quan đến phát triển lâm sản
ngoài gỗ
Thị trường là một yếu tố cần thiết đảm bảo tính bền vững kinh tế của một sản
phẩm lâm sản ngoài gỗ. Đây là một trong yếu tố đảm bảo hiệu quả, bền vững trong
quá trình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Nghiên cứu về thị trường luôn đồng nghĩa
với phát triển lâm sản ngoài gỗ, là một mắt xích trong quá trình kinh doanh lâm sản
ngoài gỗ. Kết quả nghiên cứu về thị trường làm cơ sở để xác định quy mô, cơ cấu
cây trồng và tính ổn định của mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ phù hợp với
từng không gian và thời gian cụ thể.
Nhìn chung, trong thời gian qua những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ trên
thế giới đó cho thấy được tiềm năng lớn lao của lâm sản ngoài gỗ ở các nước nhiệt
đới, đã khẳng định vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong đời sống kinh tế -
xã hội nông thôn miền núi, coi đây là một trong những yếu tố triển vọng nhất cho
bảo tồn và phát triển rừng, góp phần giải quyết mục tiêu quản lý rừng bền vững của
các nước nhiệt đới. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân cản trở, những
rào cản chính đối với việc quản lý hiệu quả tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở nhiều
nước là tính chất tự do tiếp cận của lâm sản ngoài gỗ, thị trường lâm sản ngoài gỗ
chưa hoàn hảo. Ngoài ra, việc thiếu những thông tin đầy đủ đó làm cho nhiều người
chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của lâm sản ngoài gỗ, trong đó có cả những người
lập chính sách.
Cho đến nay phát triển lâm sản ngoài gỗ được xem là một trong những nội
dung của chiến lược quản lý rừng bền vững theo hướng "Bảo tồn có khai thác". Tuy
nhiên, những chính sách cho phát triển lâm sản ngoài gỗ thực sự là chưa được chú ý
đúng mức. Biểu hiện của nó mới dừng ở mức nhà nước cho phép khai thác lâm sản

Ngoài ra những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ còn được thực hiện ở một số cơ sở
nghiên cứu và đào tạo của ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và ngành khác như Trường
Đại học Lâm Nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Trường Đại học Quốc gia Hà
Nội, Trường Đại học Dược, Viện Dược liệu, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp
Việt Nam, v.v
9

Trước đây, xuất phát từ tình hình thực tiễn, sản phẩm có giá trị cao được khai
thác từ rừng được gọi là " Đặc sản rừng". Từ năm 1986 cho đến nay, với chủ trương
chuyển nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường, đổi mới quản lý rừng, những
nhận thức về vai trò của lâm sản ngoài gỗ trong quá trình xóa đói, giảm nghèo và
bảo tồn rừng đã có nhiều thay đổi. "Lâm sản phụ" và "Đặc sản rừng" được gọi
chung là "Lâm sản ngoài gỗ". Trong cuốn "Tổng quan lâm sản ngoài gỗ ở Việt
Nam" đưa ra khái niệm lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam như sau: " Lâm sản ngoài gỗ
là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng, nó không bao gồm
gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốc sinh vật. Lâm sản ngoài gỗ
bao gồm các nhóm tre nứa, mây song, cây thuốc, cây làm thực phẩm, gia vị, tinh
dầu, dầu bột, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã
(động vật sống hay các sản phẩm của chúng).v.v ". Khác với định nghĩa của
J.H. de Beer, ở Việt Nam các tác giả đã không xếp củi và than gỗ vào lâm sản ngoài
gỗ trong khi đó khi nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh, một số
chuyên gia đã xếp củi và than gỗ trong nhóm lâm sản ngoài gỗ [39].
1.1.2.2. Nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ
- Về đa dạng lâm sản ngoài gỗ và cách phân loại
Với vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong thời đại hiện nay, việc làm
trước tiên để phát triển chúng ta cần nghiên cứu xác định và phân loại được toàn bộ
lâm sản ngoài gỗ, sau đó tập trung nghiên cứu một số loại lâm sản ngoài gỗ có thế
mạnh ở nước ta. Các kết quả nghiên cứu cho thấy lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam rất
phong phú đa dạng.
Từ năm 1996 -2000, khi nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ, một số nhà khoa học

- Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và mỹ nghệ .
- Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu là các loại cây rừng .
- Các nhóm động vật rừng cho da, lông, xương, ngà, thịt, xạ, mật, dược liệu và
các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác.
Khung phân loại lâm sản ngoài gỗ trên của chúng ta là một mốc quan trọng,
đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam.
Mặc dù còn một vài điểm chưa thật hợp lý như: Coi shellac (loại nhựa cánh kiến đỏ
đã được chế biến) là sản phẩm có nguồn gốc thực vật.
11

Căn cứ vào danh mục phân loại lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam đó được ban
hành, Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản đã dựa vào tính chất của sản phẩm để đưa
ra hệ thống phân loại như sau:
Lâm sản ngoài gỗ gồm 2 hệ là hệ cây rừng và hệ động vật rừng.
- Hệ cây rừng có 4 nhóm: nhóm cây rừng cho nhựa, tinh dầu, ta nanh; Nhóm
cây rừng cho dược liệu; Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ
công và mỹ nghệ; Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu là các
loại cây rừng.
- Hệ động vật rừng gồm 2 nhóm: Nhóm động vật rừng cho da, lông, xương,
ngà, thịt, xạ, mật; nhóm các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu do các loại
động vật rừng cung cấp và shellac được xếp vào một nhóm riêng. Theo cách phân
loại này, thảo quả được xếp vào nhóm cây dược liệu. Trong khi đó, nhóm cây dược
liệu có rất nhiều loài, có những loài có giá trị cao, có loài có tiềm năng lớn. Vì vậy,
cách phân loại này chưa nêu lên giá trị đầy đủ của từng loại lâm sản ngoài gỗ và
được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm:
- Nhóm 1: sản phẩm có sợi.
- Nhóm 2: sản phẩm dùng làm thực phẩm.
- Nhóm 3: các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm.
- Nhóm 4: các sản phẩm chiết xuất.
- Nhóm 5: động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc.

khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta
là phát triển tài nguyên lâm sản ngoài gỗ.
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án "Sử dụng bền vững lâm sản ngoài
gỗ" tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vườn Quốc gia
Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển lâm sản ngoài gỗ là một trong
những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng
sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trong khu
vực. Ngoài những đóng góp vào thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống của người dân
miền núi, lâm sản ngoài gỗ còn được đánh giá là một yếu tố góp phần bảo tồn rừng
và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới. Nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có nguồn
gốc từ các dây leo, cây bụi, cây thảo, cây ký sinh hay phụ sinh sống dưới tán rừng,
nên việc khai thác chúng một cách hợp lý sẽ không làm phá vỡ cấu trúc của rừng.
13

Do đó rừng kinh doanh lâm sản ngoài gỗ vẫn duy trì được vai trò bảo vệ môi trường
và đa dạng sinh học của rừng .
Việc phát triển gây nuôi các loài động, thực vật thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ
đang có nguy cơ bị tiêu diệt cũng được coi là một hình thức bảo tồn ngoại vi
(exsitu) đáng khích lệ. Các kết quả trồng hàng vạn cây sâm ngọc linh ở huyện Trà
Mi (Quảng Nam), trồng cây hoàng liên ở Sa Pa (Lào Cai), nuôi hươu sao ở Hà
Tĩnh, nuôi nai ở Châu Sơn (Buôn Ma Thuật), nuôi trăn và cá sấu ở đồng bằng sông
Cửu Long đã thể hiện sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững. Một trong
những khó khăn nhất của công tác bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam hiện nay là sức
ép của dân cư và nhu cầu thu hái lâm sản của người dân sống trong và quanh Vườn
Quốc Gia và các Khu Bảo tồn thiên nhiên quá lớn. Tình trạng dân số quanh khu bảo
tồn và vùng đệm ngày một tăng, đất canh tác ngày một thu hẹp, người dân có đời
sống quá thấp và thường chỉ sử dụng 3 tháng trong năm cho sản xuất nông nghiệp,
thời gian còn lại phải đi vào rừng để thu hái lâm sản và săn bắn để kiếm sống. Hiện
tượng này là phổ biến ở hầu hết các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam. Nếu
không giải quyết được sức ép của người dân lên rừng thì không thể bảo vệ tốt các

doanh lâm sản ngoài gỗ có hiệu quả, năng suất cao và ổn định, không chỉ sử dụng
kiến thức bản địa mà cần dựa trên một số nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học
với các biện pháp tiên tiến, hiện đại. Ở nước ta, vào những năm 1950-1960, các nhà
khoa học đó cố gắng nghiên cứu nhằm tạo được mô hình phát triển lâm sản ngoài
gỗ có hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung
một số loài cây dược liệu, cây đặc sản có giá trị cao như thông, quế, trúc, thanh
kao, sa nhân Nguyễn Bá Chất (1990) [7]. Đây là các công trình nghiên cứu về hệ
thống các biện pháp kỹ thuật làm cơ sở cho việc gây trồng và phát triển lâm sản
ngoài gỗ. Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về một số loài cây
có giá trị cao lúc đó. Vẫn còn nhiều loài lâm sản ngoài gỗ giá trị cao nhưng chưa
được nghiên cứu đầy đủ, trong đó có giẻ, trầm hương, thảo quả v.v
Nhìn chung cho đến nay còn rất ít các nghiên cứu hướng vào tìm hiểu kỹ thuật
gây trồng lâm sản ngoài gỗ ở dưới tán rừng - cơ sở quan trọng cho bảo tồn rừng
bằng phát triển lâm sản ngoài gỗ.
15

- Về thị trường lâm sản ngoài gỗ:
Thị trường là một trong những thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến
việc kinh doanh và phát triển lâm sản ngoài gỗ, để phát triển trong các mô hình phát
triển lâm sản ngoài gỗ dựa trên cơ sở phân tích thị trường. Nội dung nghiên cứu bao
gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Đánh giá thực trạng hiện nay.
+ Giai đoạn 2: Trên cơ sở phên tích đánh giá thực trạng tiến hành lựa chọn sản
phẩm nhiều hứa hẹn nhất và đưa ra phương pháp tiếp thị.
+ Giai đoạn 3: Xây dựng chiến lược doanh nghiệp và một kế hoạch kinh
doanh bền vững.
Tác giả đó sử dụng phương pháp phân tích thị trường để đánh giá tính hiệu
quả và bền vững của một mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Nó đó chứng minh
về tính bền vững của một mô hình kinh doanh khi tính đến yếu tố thị trường, đồng
thời mở ra một cách nhìn mới trong quá trình đề xuất phương thức kinh doanh lâm

chính sách có liên quan đến lâm sản ngoài gỗ chưa tác động tích cực đến bảo tồn và
phát triển nguồn tài nguyên này.
1.1.3. Thảo quả và những nghiên cứu phát triển
1.1.3.1. Trên thế giới
Thảo quả là loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao
đó được con người biết đến từ lâu. Ở Trung Quốc, thảo quả được gây trồng và sử
dụng cách đây hàng trăm năm. Nhưng những nghiên cứu về thảo quả còn rất hạn
chế. Kết quả nghiên cứu thảo quả ban đầu được trình bày trong cuốn sách về công
dụng và giá trị của một số loại cây dược liệu do các nhà y học của Trung Quốc biên
soạn và xuất bản vào đầu thế kỷ 19. Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại
Vân Nam, Trung Quốc đó xuất bản cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở
Trung Quốc". Cuốn sách đó đề cập đến cây thảo quả với một số nội dung chủ yếu sau:
- Phân loại thảo quả: gồm có tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost et
Lemaire), tên họ (Zingiberaceae).
- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả.
- Vùng phân bố ở Trung Quốc.
- Đặc điểm sinh thái: khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại.
17

- Thu hoạch và chế biến: phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản.
- Công dụng: dùng làm thuốc trị các bệnh đường ruột, bệnh hàn.
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đó giới thiệu một cách tổng quát và có hệ
thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, thu hái chế biến và
bảo quản. Tuy nhiên, đây là cuốn sách viết cho cho nhiều loài cây dược liệu nên cây
thảo quả được giới thiệu ngắn gọn dưới dạng tóm tắt của bản hướng dẫn kỹ thuật cho
một số vùng ở Trung Quốc. Vì vậy, khi áp dụng ở Việt Nam, một số đặc điểm cũng
như biện pháp kỹ thuật có nhiều thay đổi để
phù hợp với điều kiện ở nước ta. Đây vẫn
là cuốn sách ghi lại một cách hệ thống

thảo quả trên thế giới.
1.1.3.2. Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ẩm và là một trong những nơi
phân bố tự nhiên của thảo quả. Từ lâu đời, nhân dân ta đó biết tìm kiếm và khai thác
thảo quả để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh và coi thảo quả là cây "truyền thống".
Theo tài liệu của Pháp, thì công trình đầu tiên đề cập đến thảo quả là công trình
nghiên cứu về hệ thực vật Đông Dương của Lecomte et al gồm 7 tập với tên cuốn
sách "Thực vật chí đại cương Đông Dương". Tác giả đó thống kê được toàn Đông
dương có hơn 7000 loài thực vật, trong đó 1350 loài cây thuốc nằm trong 160 họ thực
vật mà thảo quả là một trong những loài cây có giá trị cao.
Năm 1999 [15], khi nghiên cứu những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, tác
giả Đỗ Tất Lợi đó cho rằng: Thảo quả là loài cây thuốc được trồng ở nước ta vào
khoảng năm 1890. Trong thảo quả có khoảng 1-1.5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi
thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng chữa các bệnh đường ruột. Đây là một
công trình nghiên cứu khẳng định công dụng của thảo quả ở nước ta. Tuy nội dung
nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó đã phần nào mở ra một triển
vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học ở nước ta. Vào những năm
1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở
nước ta có đề cập đến thảo quả. Do thảo quả là cây "truyền thống", có đặc thù
riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân bố hẹp, chúng được
trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang
nên các nhà khoa học ít quan tâm. Các công trình nghiên cứu liên quan còn tản mạn.
Năm 1982[19], Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về "Bảo vệ,
khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên
đất rừng ở Việt Nam". Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệu quý và
thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho
đến nay vẫn chưa có nghiên
cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán
rừng. Năm 1994, nhận thức được
tiềm năng nâng cao đời sống kinh tế xã hội của người dân vùng núi từ nghề rừng.

thảo quả tại một số địa phương ở nước ta. Công trình này đã vẽ nên một bức tranh
khái quát về hiện trạng và xu hướng phát triển của thảo quả ở nước ta. Đồng thời cho
thấy tiềm năng về thảo quả ở nước ta rất lớn nhưng trong quá trình phát triển và mở
rộng gây trồng thảo quả cho năng suất cao còn gặp một số khó khăn. Khó khăn lớn
20

Trích đoạn Một số giải pháp nâng cao sinh trưởng và năng suất của thảo quả ở Lựa chọn lập địa trồng thảo quả Điều chỉnh độ tàn che nâng cao sinh trưởng và năng suất thảo quả Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status