Đánh giá hiệu quả công tác giao đất, giao rừng theo dự án trên địa bàn xã tứ quận huyện yên sơn tỉnh tuyên quang - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
=============
ĐÀO DUNG HUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT, GIAO
RỪNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TỨ
QUẬN – HUYỆN YÊN SƠN – TỈNH TUYÊN QUANG

HÀ NỘI -2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
=============
ĐÀO DUNG HUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT, GIAO
RỪNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TỨ
QUẬN – HUYỆN YÊN SƠN – TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã ngành : 52850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHẠM ANH TUẤN

HÀ NỘI -2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án này là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việ thực hiện đồ án này đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong đồ án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên
Đào Dung Huyền
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp, em đã nhận

8 QĐ Quyết định
DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất rừng và rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của con người và mọi sự
sống trên Trái Đất. Sự tồn tại của hành tinh chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào tài
nguyên đất, tài nguyên rừng dùng để sản xuất ra của cải vật chất phục vụ con
người.
Nếu mục đích sử dụng đúng đắn và quản lý tốt thì sẽ cung cấp cho nhu cầu
của chúng ta không bao giờ cạn, ngược lại nếu quản lý kém thì rừng nhanh
chóng xuống cấp cả về số lượng và chất lượng và không còn cung cấp cho con
người những thứ cần thiết.
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, trong đó diện tích
đất đồi núi là 23 triệu ha, chiếm 70% diện tích đất tự nhiên cả nước. Rừng và đất
rừng đến nay chưa được khai thác, sử dụng hợp lý. Đất chưa sử dụng còn rất lớn
khoảng 13,1 triệu ha, chiếm 40% diện tích cả nước (trong đó hơn 1 triệu ha là
đất trống, đồi núi trọc), cùng với sự phát triển của xã hội vai trò của tài nguyên
đất, tài nguyên rừng cũng trở nên quan trọng hơn và đòi hỏi phải có sự quản lý,
sử dụng một cách hiệu quả bền vững.
Gần đây, Quốc hội nước ta đã đưa ra luật đất đai số 13/2003/QH. Luật
này quy định quyền hạn và trách nhiệm của nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ sử dụng và quản lý về đất
đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản liên quan
đến giao đất, giao rừng và hưởng dụng rừng như nghị định 135/2005/NĐ-CP về
giao khoán đất, quyết định 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng, quyết
định 40/2005/QĐ-BNN về quy chế khai thác gỗ và lâm sản.
1

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giao đất, giao rừng
và công tác quản lý đất rừng.
3. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu công tác giao đất giao rừng, công tác quản lý đất
rừng theo 1 số dự án cụ thể ở xã Tứ Quận.
4. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu:
+ Tình hình cơ bản của xã Tứ Quận
+ Điều kiện tự nhiênvà xã hội
+ Tình hình kinh tế - xã hội
+ Cở sở hạ tầng
- Công tác giao đất, giao rừng theo dự án (hiện trạng sử dụng đất trước
khi thực hiện dự án, tổ chức tiến trình thực hiện, phương án, kết quả)
- Tình hình quản lý, sử dụng đất
- Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác giao đất, giao rừng.
- Hiệu quả của dự án
- Thuận lợi, khó khăn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở
khu vực nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:
Tiến hành điều tra thu thập số liệu về:
3
+ Tài liệu, số liệu thống kê, kiểm kê, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
qua một số năm.
+ Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này.
+ Tiến hành điều tra ngoại nghiệp nhằm kiểm tra và bổ sung những thay
đổi cần thiết.
+ Các tài liệu về công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã Tứ Quận.
5.2 Phương pháp xử lý số liệu:

doanh theo mô hình nông lâm kết hợp.
5
Sau Đại hội Đảng toàn quốc khóa VI (1988) , Đảng và nhà nước chủ
trương đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế nhiều thành
phần, phát triển kinh tế hàng hóa gắn với kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của nhà nước. Chú trọng phát triển kinh tế hộ gia
đình là đơn vị kinh tế cơ bản tự chủ.
Thông tin bộ số 01/TT/LB ngày 06/02/1991 đã hướng dẫn việc giao đất,
giao rừng cho các tổ chức, cá nhân vào mục đích lâm nghiệp.
Ngày 15/09/1992 chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 4A47-
CT về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi ven
biển và mặt nước trong đó ban hành chính sách hỗ trợ 40% tổng vốn đầu tư cho
các hộ gia đình vay theo nguyên tắc lấy lãi, việc hoàn trả vốn vay bắt đầu từ lúc
có sản phẩm. Ngày 22/01/1992 chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng đã ra quyết định
số 264/CT về chính sách đầu tư phát triển rừng. Quyết định này giải quyết khó
khăn về vốn cho nhân dân trồng cây lâm nghiệp ở các vùng định canh, định cư.
Nhà nước hỗ trợ vốn không lấy lãi và cũng từ đây nghành lâm nghiệp đã cùng
với các địa phương vận dụng và thực hiện giao đất, giao rừng đã có những tiến
bộ đáng kể mang lại khởi sắc cho nghề rừng nước ta. Tại những nơi thực hiện
đúng chính sách giao đất, giao rừng thì rừng có người làm chủ cụ thể không còn
tình trạng chủ rừng chung chung mà thực chất là vô chủ. Vì vậy người nông dân
đã yên tâm vào việc kinh doanh rừng và bồi bổ đất đai, nhiều nơi đã có sản
phẩm hàng hóa, diện tích đất trống, đồi núi trọc đã được khai thác, đưa vào sử
dụng ngày càng tăng, nhiều mô hình sản xuất theo phương pháp nông lâm kết
hợp, làm vườn rừng làm trang trại khá phổ biến ở nhiều địa phương. Qua nhận
đất rừng đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt. Những hộ nông dân và
công nhân lâm trường thường nhận đất, nhận rừng thu hoạch từ rừng vài chục
triệu đồng hằng năm không còn là hiện tượng hiếm thấy. Đây là những tiến bộ
ban đầu đáng khích lệ của công tác giao đất, khoán rừng giai đoạn này.
6

- Nghị định số 01/CP (01/11/1995) về giao khoán và sử dụng vào mục
đích nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong các doanh nghiệp nhà nước;
- Quyết định số 661/QĐ-TTg (29/07/1998) về chương trình trồng mới 5
triệu ha rừng;
- Nghị định 163/ CP (16/11/1999) thay thế cho nghị định 02/CP về giao
đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài vào
mục đích lâm nghiệp. Người dân được nhận đất lâm nghiệp có quyền sử dụng
đất kế thừa, chuyển nhượng, thế chấp và chuyển đổi quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật, hạn chế mức giao đất, cho thê đất cho hộ gia đình, cá nhân
do ủy ban nhân dân Tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha. Thời gian giao đất,
cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân là 50 năm, hết thời hạn nếu tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân vẫn có nhu cầu sử dụng đúng mục đích thì được nhà
nước giao tiếp nếu các loại cây trên 50 năm thì sau 50 năm nhà nước sẽ giao tiếp khi
thu hoạch sản phẩm chính.
* Giai đoạn 2003 đến nay
Trên quan điểm tiếp cận, quản lý nguồn tài nguyên có sự tham gia đặc
biệt quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng, đối với nghành lâm nghiệp
giai đoạn 2001-2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề cập ra các
biện pháp và cơ chế chính sách xác định rõ quyền sử dụng đất đai và nguồn tài
nguyên rừng cho các tổng công ty, công ty lâm nghiệp, các lâm trường quốc
doanh, các thành phần kinh tế khác và hộ gia đình… để ổn định sản xuất lâu dài.
Từng bước tiến hành giao đất và phát triển rừng cộng đồng trên cơ sở
nghiên cứu cơ chế và ban hành các quy định cụ thể trong việc bảo vệ, phát triển,
sử dụng và kinh doanh các loại rừng này.
8
Đối với lâm nghiệp giao cho từng hộ gia đình, thúc đẩy nông lâm kết hợp
góp phần xóa đói giảm nghèo.
Định hướng của chính sách lâm nghiệp cũng được đề cập trong giai đoạn
này nhằm cung cấp các hướng dẫn cho ngành lâm nghiệp trong một thời gian dài
về quản lý sử dụng tài nguyên rừng Quốc gia và hướng dẫn pháp luật về phát

Quang, Phú Thọ, Thanh Hóa, Quảnh Bình.
Có thể sau khi có Luật Đất đai 1993, luật bảo vệ và phát triển rừng, các
chính sách nhà nước ta đã chú trọng đến quyền lợi của người dân và việc tham
gia của người dân trong việc sử dụng đất ngày càng tăng cường.
Việc nhà nước cho thuê đất mà đối tượng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
trong và ngoài nước…đồng thời xác lập quyền cho thuê, chuyển đổi, chuyển
nhượng sử dụng đất có khe hở trong chính sách hay không. Có cần thêm những
quy định cụ thể cho điều này?
1.2 Những thành quả của hoạt động giao đất, giao rừng
Hoạt đông giao đất, giao rừng là một công cụ hữu ích trong quản lý và sử
dụng đất lâm nghiệp, tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử của xã hội và
chính sách hỗ trợ mà hiệu quả mang lại của hoạt động giao đất, giao rừng có
khác nhau.
1.2.1. Ở Việt Nam nói chung
* Giai đoạn 1968-1992
Những chính sách xây dựng nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền núi
có nhiều mặt không phù hợp, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, lâm nghiệp
10
làm rập khuôn như đồng bằng là không phù hợp với tính chất và lực lượng sản
xuất ở miền núi.
Sự giải thể hợp tác xã nông nghiệp các cán bộ gia đình nhận lại ruộng đất,
rừng của mình trước khi vào hợp tác xã, tình trạng này dẫn đến tranh chấp đất
đai giữa các cộng đồng dân cư trong thôn bản và dân miền xuôi lên xây dựng
vùng kinh tế mới. Tuy nhiên hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng trong thời
kỳ này chưa cao, nhưng đã tạo động lực phát triển nông lâm nghiệp ở miền núi.
Bước đầu hình thành nên thị trường trung du và miền núi, đặc biệt là ở vùng sâu,
vùng xa chính sách giao đất lâm nghiệp còn nhiều hạn chế.
Qua thực tế cho thấy ở nhiều nơi sau khi tập thể, hộ gia đình, cá nhân
nhận rừng mà tổ chức kinh doanh đã có thu nhập rừng đáng kể, do xác định
được cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều địa

rừng được bảo vệ tốt hơn vì đã có người làm chủ thực sự. Trồng rừng được đảm
bảo với tỷ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống của nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở
ra hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần
xóa đói giảm nghèo, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn. Tuy nhiên trong quá
trình tổ chức thực hiện giao đất lâm nghiệp, bên cạnh những hiệu quả đạt được
còn một số hạn chế sau:
- Ở một số địa phương giao đất khi chưa có quy hoạch sử dụng đất, thực
hiện không đúng quy trình giao đất lâm nghiệp, giao không đúng đối tượng.
- Ở một số nơi trong quá trình thực hiện giao đất còn nhầm lẫn giữa giao
đất theo nghị định 02/CP và khoán đất lâm nghiệp theo nghị định 01/CP.
12
- Giao sai thẩm quyền, một số lâm trường đứng ra giao đất lâm nghiệp
cho hộ gia đình, giao cả vào rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu và rất xung
yếu.
- Trong quá trình giao đất thiếu sự tham gia của người dân, không coi
trọng việc bàn giao rang giới ngoài thuộc địa, dẫn đến tình trạng sau khi giao,
nhiều hộ gia đình, cá nhân không xác định được rang giới của mình ở ngoài
thuộc địa.
- Việc xác định giúp các hộ gia đình hướng sử dụng đất sau khi được giao
còn hạn chế, thiếu cụ thể, dẫn đến tình trạng sau khi giao đất hộ gia đình không
xác định mục tiêu sản xuất cũng như xác định được cây trồng sao cho phù hợp
với điều kiện lập ở địa phương.
1.2.2. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng
Nằm ở trung tâm vùng trung du, miền núi phía bắc, Tuyên Quang có tài
nguyên rừng khá lớn. Trong tổng số diện tích đất đai tự nhiên hơn 1.839,6 km
2
thì rừng và đất lâm nghiệp chiếm hơn 70%. Phần lớn số dân của tỉnh định cư ở
các thôn, bản có tập quán truyền thống sinh sống bằng nghề làm rừng. Ðể khai
thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của rừng đáp ứng yêu cầu của

phương pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm mục đích làm cho lao động nghề
rừng, cũng như toàn xã hội hiểu biết rõ vị trí, vai trò, chức năng của rừng và các
chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước và địa phương về việc bảo vệ rừng,
phát triển rừng. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng người dân và các
thành phần xã hội trên địa bàn đối với sự nghiệp bảo vệ rừng, phát triển kinh tế
rừng.
Theo đó, Tuyên Quang đã đi trước một bước và sớm hoàn thành công việc rà
soát quy hoạch phân ba loại rừng. Trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp hiện
có, cơ cấu giữa các loại rừng được điều chỉnh theo tỷ lệ, rừng đặc dụng chiếm
14
11%, giảm 7%; phòng hộ chiếm 31%, giảm 24,8% và rừng sản xuất chiếm 58%,
tăng 37,8% so với cơ cấu đến năm 2005. Tuyên Quang cũng hoàn thành việc
quy hoạch vùng rừng sản xuất cho năm cơ sở chế biến công nghiệp với quy mô
diện tích tập trung chuyên canh lên tới hàng trăm nghìn ha, gắn với việc thực
hiện các dự án giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp; giao rừng, cho thuê rừng sản
xuất ổn định, lâu dài cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng
dân cư thôn bản theo quy định của pháp luật. Riêng Nhà máy bột giấy và giấy
An Hòa (Tuyên Quang), được tỉnh giao 163.358 ha đất lâm nghiệp và rừng sản
xuất trên địa bàn 105 xã thuộc bốn huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn và
Sơn Dương để đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu. Theo Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, đến nay toàn tỉnh đã giao 31.069 ha đất lâm nghiệp gắn với cấp
GCNQSDÐ cho gần 26 nghìn hộ dân; giao và cho một số doanh nghiệp thuê
hơn 1.500 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng nguyên liệu. Hiện nay, các ngành,
các huyện phối hợp tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính được hơn 333 nghìn
ha trên địa bàn 97 xã trong tỉnh, dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ giao khoảng
hơn 42 nghìn ha cho hơn 25 nghìn hộ khác để đầu tư vốn trồng rừng sản xuất.
Giao đất, giao rừng kết hợp chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đã
làm xuất hiện một số mô hình chuyển đổi từ nghề làm ruộng sang nghề trồng
rừng theo hướng chuyên môn hóa, đến nay tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện nhiều
chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển trang trại trồng rừng trên diện tích

trồng rừng, nghề phụ thường là buôn bán, đánh bắt thủy sản dọc sông Lô và đi
lấy củi trong các rừng tự nhiên, rừng đã giao khoán. Diện tích đất nông nghiệp
nhỏ trong đó chủ yếu là diện tích gieo trồng 01 vụ. Cây trồng chủ yếu là lúa,
ngô, khoai, các loại đậu, sắn. Diện tích trồng cây ăn quả manh mún, kể cả các
cây truyền thống như chanh, cam, mít, chuối và cây mới nhập về ( xoài, vải,
nhãn, ) Do vậy đời sống nhân dân ở đây còn gặp khó khăn, họ sống chủ yếu dựa
vào nghề rừng, cho nên việc thường xuyên vào rừng thu lượm lâm sản phụ, săn
bắn, khai thác lâm sản trái phép là điều tất yếu.
Thấy được khó khăn trên nên trong những năm gần đây chính quyền địa
phương xã, huyện đã tạo công ăn việc làm để tiến tới xóa đói giảm nghèo theo
chủ truong của Đảng và nhà nước. Trong đó chủ yếu lôi kéo họ tham gia vào
nghề rừng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng.
17

Trích đoạn Cơ cấu sử dụng đất theo mục đích sử dụng năm 2005: Tổ chức thực hiện công tác giao đất, giao rừng Hạn mức giao đất theo phương án Phương thức giao đất: xuất một số giải pháp nhằm phát triển nông, lâm nghiệp tại xã Tứ Quận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status