Đề tài thực tập giáo trình
………… o0o…………
Báo cáo "Đánh giá hiệu quả mô hình
trồng xen cây sắn và lạc"
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 1
Đề tài thực tập giáo trình
Mục Lục
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 2
Đề tài thực tập giáo trình
Nông nghiệp và phát triển nông thôn được xem là nền tảng để phát triển kinh tế
và tiến hành hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng
hóa định hướng thương mại, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao khả năng cạnh
tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. nhiệm vụ đặt ra là tăng cường
chuyển giao và phát triển công nghệ nông nghiệp mới và cải tiến, cải thiện việc áp
dụng giống, triển khai công nghệ sản xuất mới, cải tiến công nghệ sau thu hoạch, phát
triển kỷ thuật canh tác bền vững.
Muốn phát triển ngành nông nghiệp chúng ta cần chú trọng phát triện các tiềm
lực đất nước, đặc biệt là tiềm lực nông nghiệp nông thôn.
Hiện nay cây Sắn đang đem lại giá trị hết sức quan trọng cho phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn, phát triển kinh tế của đất nước.
Cây Sắn là cây trồng hàng năm, là cây trồng gắn bó hết sức lâu đời với nhân dân
ta. Sản phẩm từ cây Sắn được sử dụng rộng rải trong nhân dân ta và được nhiều người
tiêu dùng ưa chuộng, Sắn có thể chế biến bằng củ tươi, tinh bột từ củ Sắn để chế biến
các loại thực phẩm như các món ăn đặc sản có tù lâu đời, cũng có thể chế biến thành
lát khô để xuất khẩu…cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột phục
vụ cho nghành công nghiệp như: làm nguyên liệu bánh, kẹo, và phụ gia cho dược
phẩm…lá Sắn còn phục vụ cho ngành chăn nuôi như nuôi cá, nuôi lợn, trâu bò, và ủ
+ Phương pháp thống kê toán học.
+ Phương pháp chuyên gia.
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra chọn mẩu ngẩu nhiên với kích thước
mẫu là 50 hộ trồng cây Sắn.
*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng: cây sắn, cây lạc.
+ Phạm vi:- Về không gian: xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: Từ 2007-2009 với các số liệu thứ cấp và trong năm 2010 với
các số liệu sơ cấp.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường,hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của các
nhà sản xuất kinh doanh để hạch toán kinh tế và cũng là mối quan tâm của toàn xã hội,
hiệu quả kinh tế là một động lực, là thước đo phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế,
trình độ tổ chức quản lý sản xuất.
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 4
Đề tài thực tập giáo trình
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất phải đạt cả hiệu quả kỹ
thuật và hiệu quả phân phối.Có nghĩa là yếu tố hiện vật và giá trị đều đóng vai trò rất
quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế.
Khi nghiên cứu về bản chất kinh tế, các nhà kinh tế đã đưa ra những quan điểm khác
nhau, nhưng đều thống nhất một bản chất chung là : người sản xuất muốn sản xuất có
lợi thì phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định, những chi phí tài nguyên,nhân lực,
vật liệu, công, vốn và các chi phí khác…Chúng ta tiến hành so sánh kết quả sau mỗi
quá trình sản xuất kinh doanh, với chi phí bỏ ra thì ta có được hiệu quả kinh tế, sự
chênh lệch càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. trong thực tế khi
nghiên cứu ta thu được kết quả rất đa dạng và phong phú, kết quả đó có thể phản ánh
phương diện kinh tế-xã hội.
tâm đén lợi nhuận, đối với nông hộ kết quả mà nông hộ quan tâm là kết quả thu nhập.
Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là những chi phí cho yếu tố đầu
vào nhu: đất, lao động, nguyên nhiên vật liệu tùy theo từng mục đích nghiên cứu mà
chi phí bỏ ra được tính toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chi phí.
1.2 Đặc điểm của cây Sắn, Lạc có liên quan đến đánh giá hiệu quả sản xuất
1.2.1. Đặc điểm sinh học
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được trồng cách
đây khoảng 5.000 năm. Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi
vào thế kỷ 16. Ở châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 Sau đó, sắn
được trồng ở Trung Quốc, Myanma và các nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế
kỷ 19. Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18.
Ở nước ta sắn được trồng phổ biến từ Bắc vào Nam, đặc biệt phát triển ở các
vùng đồi núi trung du và đã trở thành một loại cây màu quan trọng trong cơ cấu nông
nghiệp cũng như trong đời sống nông dân
Cây sắn cao 2-3 m, lá khía thành nhiều thùy, rễ ngang phát triển thành củ và
tích luỹ tinh bột, thời gian sinh trưởng 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng, tùy giống,
vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng.
1.2.2. Đặc điểm của củ sắn
Sắn là cây thân thảo, phần thu hoạch là củ (rễ củ). Củ sắn thường dài 300 ÷
400mm nhưng cũng có củ dài đến 1000 mm, đường kính có thể đến 100 mm. Củ sắn
có cấu tạo hai lớp vỏ: vỏ gỗ và vỏ cùi rất rõ ràng và dễ tách.
Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38-40%, tinh bột 16-32%; chất protein, béo, xơ,
Trong củ sắn, hàm lượng các acid amin không đươc cân đối, thừa arginin nhưng lại
thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Thành phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ
trồng, số tháng thu hoạch sau khi trồng và kỹ thuật phân tích.
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 6
Đề tài thực tập giáo trình
Thành phần hoá học chính của củ sắn (%):
Nước: 70,25
Tinh bột: 21,45
Để phát triển cây sắn có hiệu quả cao cần chú ý đến các yêu cầu về kỹ thuật
trồng. Các yêu cầu đó là.
1. Chuẩn bị
1.1 Chuẩn bị giống:
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 7
Đề tài thực tập giáo trình
- Giống sắn có năng suất cao: KM 60, KM 95, SM 037-26; KM 98-1, KM 98-5, KM
140, KM94 và các giống có năng suất trung bình từ 28 – 30 tấn, hàm lượng tinh bột từ
28% - 30%, dạng cây gọn.
- Giống sắn trồng lấy từ ruộng sản xuất tốt hoặc ruộng nhân giống riêng, cây sắn đạt
6 tháng tuổi. Cây sắn dùng làm giống phải khẻo mạnh, không nhiễm sâu bệnh, nhặt
mắt, loại bỏ những cây giống bị khô và trầy – sước.
- Thời gian bảo quản giống < 60 ngày, ở nơi khô ráo và có bóng mát: bó từng bó để
đứng hoặc nằng trong bóng râm, hoặc cắm từng cây xuống đất (500 – 1000 cây/cum),
sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng để phòng trừ.
- Hom sắn lấy từ 1/3 ở đoạn giữ thân, chiều dài 15 – 20 cm, đạt 4 – 6 mắt, không
chặt hom quá ngắn hoặc quá dài, dùng dao sắc để chặt và tránh làm hom bị dập.
- Xử lý hom trước khi trồng bằng cách nhúng vào các hỗn hợp diệt nấm.
1.2 Thời vụ trồng:
- Đất đỏ trồng vào mùa mưa (tháng 4 – tháng 5)
- Đối với đất xám, nên chia thành hai thời vụ trồng để rải vụ thu hoạch và giảm áp
lực về công lao động.
* Vụ 1: Trồng từ tháng 4–tháng 5 và thu hoạch và tháng 1–tháng 3 năm sau. Ở vụ này
nên tranh thủ sớm khi đất đủ độ ẩm, khô hạn làm giảm khả năng mọc mầm của hom sắn.
* Vụ 2. Trồng vào tháng 10 – tháng 11; thu hoạch vào tháng 9 – 10 năm sau.
2. BIỆN PHÁP CANH TÁC
2.1. Làm đất:
- Đất trồng sắn nhất thiết phải được chuẩn bị kỹ trước khi trồng, các công việc bao
gồm: thu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng; xử lý cỏ dại.
- Sắn cần đất tơi xốp, sâu để rễ, củ phát triển. Cày sâu 20cm, cày 2 lần, mỗi lần cách
Khoảng 20 ngày nếu đất còn độ ẩm thì dặm lại các hom không nảy mầm hoặc hom
yếu.
3.2 Bón phân
- Cây sắn là một trong những loại cây hút nhiều dinh dưỡng, để có năng suất cao cần
phải bón phân đầy đủ và cân đối.
Lượng phân sử dụng cho 1ha:
- Phân hữu cơ: (phân chuồng, phân xanh) 5 – 7 tấn/ha hoặc phân vi sinh 500kg/ha.
Bón phân hữu cơ, vi sinh cung cấp một lượng dinh dưỡng đồng thời giúp đất xốp, giữ
nước, giữ phân tốt hơn.
Phân hóa học:
* Trồng bình thường: Bón theo công thức 80kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O tương
đương với 170kg Urea + 250 Super lân + 270kg Clorua kali
- Thời gian bón: bón lót phân chuồng + phân lân; phón thúc lần 1 từ 25 – 30 ngày
sau trồng (1/2 phâm đạm + ½ phân Kali); bón thúc lần 2 từ 50 – 60 ngày sau trồng (1/2
phân đạm + ½ Kali còn lại).
- Thời điểm bón: bón khi đất đủ độ ẩm, tránh bón phân vào lúc trời nắng hoặc mưa lớn.
- Kỹ thuật bón: Phân lân + phân chuồng bón lót khi cày bừa hoặc bón theo hốc trước
khi trồng; phân đạm và phân kali bón theo hốc (cách gốc hoặc hom sắn 15 – 20cm).
3.3 Trừ cỏ dại
- Phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 1,5 lít/ha, phun ngay sau
khi trồng, đảm bảo lượng nước phun và độ ẩm đất đủ cho thuốc có thể ngấm xuống đất
từ 2 – 3cm.
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 9
Đề tài thực tập giáo trình
- Kết hoặc giữa làm cỏ bằng tay và phun thuốc: làm cỏ bằng tay 1 lần sau khi trồng
từ 20 – 30 ngày, sau khi làm cỏ xong phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng
dùng 1,2 lít/ha.
- Phủ bề mặt ruộng bằng PE
4. SÂU HẠI: - Bọ cánh cứng: phun các thuốc thông thường điều trị như: Oncol,
Lamte…
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 10
Đề tài thực tập giáo trình
Bảng 1: Tình hình trồng sắn của tỉnh 2006-2009
NĂM TRỒNG SẮN DIỆN TÍCH (HA)
NĂNG SUẤT
(TẤN/HA) SẢN LƯỢNG (TẤN)
2006 7100 14.6 103,900
2007 7300 15.6 114,000
2008 7500 15.7 118,000
2009 7000 18.4 128,800
(số liệu từ tổng cục thống kê)
Những năm gần đây diện tích và năng suất của cây sắn trên địa bàn tỉnh luôn
luôn tăng, sản lượng sắn của năm 2009 tăng 10800 tấn so với năm 2008, chứng tỏ rằng
cây sắn đã đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ
thuật vào canh tác đã khai thác tối đa năng suất của loại cây trồng này.
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa và ngô.
Năm 2005, cây sắn có diện tích thu hoạch 432 nghìn ha, năng suất 15,35 tấn/ha, sản
lượng 6,6 triệu tấn, so với cây lúa có diện tích 7.326 ha, năng suất 4,88 tấn/ha, sản
lượng 35,8 triệu tấn, cây ngô có diện tích 995 ha, năng suất 3,51 tấn/ha, sản lượng gần
một triệu tấn (FAO, 2007). Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân
nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế
nông hộ. Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia súc (22,4%),
chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi.
Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Sắn
lànguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo, siro,
nướcgiải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học và chất giữ ẩm
chođất. Toàn quốc hiện có trên 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công
suấtkhoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi rác tại
Đề tài thực tập giáo trình
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẮN TRÊN ĐỊA BÀN
XẢ QUẢNG AN-HUYỆN QUẢNG ĐIỀN-TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Quảng An là một xã đồng bằng nằm ở phía Nam huyện Quảng Điền, cách trung
tâm huyện lỵ 6 km, cách trung tâm thành phố Huế 13 km.
+ Phía Đông giáp xã Quảng Công, Quảng Điền, Thừa thiên Huế.
+ Phía Nam giáp xã Quảng Thành, Quảng Điền, Thừa thiên Huế.
+ Phía Tây giáp xã Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa thiên Huế.
+ Phía Bắc giáp xã Quảng Phước, Quảng Điền, Thừa thiên Huế
Tổng diện Tích tự nhiên: 1187.04 ha.
Tổng số hộ: 2.223 hộ với nhân khẩu 10.076.
Địa bàn dân cư phân bố đồng đều, hình thành hai HTX sản xuất nông nghiệp, có cơ
cấu hành chính được phân thành 5 thôn, địa bàn trải rộng không đồng đều.
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình Quảng An là vùng trũng thấp, dân cư rải rác chia làm nhiều thôn, đất
đai bị chia cắt không thuận lợi.
2.1.1.3. Đặc điểm về khí hậu thời tiết.
Xã Quảng An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng thuộc loại khắc nghiệt. Mùa
Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa Hạ có gió Tây Nam khô nóng.
2.1.1.4. Hệ thống sông ngòi và thủy văn.
Quảng An là một xã đồng bằng của huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên -Huế,
nằm ở vị trí tỉnh lộ 4B, có 1 con sông lớn là Sông Bồ bao quanh, lưu lượng chảy và
lưu vực khá lớn, kết hợp với 172.01 ha ao hồ, và nguồn nước ngầm, cung cấp đủ nước
tưới tiêu cho nông nghiệp và phục vụ cho đời sống dân sinh.
Cùng với con sông lớn là hệ thống hói (mương). Tổng chiều dài 5 thôn là 9 km,
dẫn nước từ sông bồ về cung cấp cho câc thôn như: thôn Mỹ Xá, Đông Xuyên, Phú
1. Đất nông
nghiệp
639,23 717,28 639,23 78,05 12,21 -78,05
-
10,88
2. Đất phi nông
nghiệp
782,16 463,58 782,16
-
318,58
-40,73 318,58 68,72
3. Đất chưa sử
dụng
1,11 6,18 1,11 5,07 456,76 -5,07
-
82,04
III. Cơ cấu đất
nông nghiệp
1. Đất sản xuất
nông nghiệp
476,92 545,27 476,92 68,35 14,33 -68,35
-
12,54
2. Đất lâm nghiệp
3. Đất NTTS 162,31 172,01 162,31 9,70 5,98 -9,70 -5,64
(Nguồn: Phòng địa chính xã Quảng An).
Thực trạng về sử dụng đất đai đã thể hiện hướng đi mới trong phương hướng
phát triển của toàn huyện. Tuy nhiên, điều quan trọng phải đặt ra hiện nay là làm sao
2.1.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất của xã Quảng An
+Giao thông thủy lợi.
Hàng năm xã đã chỉ đạo cán bộ giao thông thuỷ lợi kiểm tra các tuyến đường
trong xã, gia cố hệ thống tưới nước ở các hồ chứa nước, đê ngăn mặn, hói, trạm bơm
điện, máy bơm dầu giải quyết đủ nước cho sản xuất Đông Xuân, lăm tốt cng tâc
chuẩn bị chống hạn cho vụ Hè Thu, tổ chức đào vét các tuyến hói chống hạn với khối
lượng 15.339 m
3
.
Xây dựng mới một số hạng mục thuỷ lợi như Trạm bơm Mỹ xá, và các hệ thống tưới nước .
+Các phương tiện thị trường:
Các phương tiện tiếp cận thị trường trên địa bàn huyện trong thời gian qua tuy
có phát triển nhưng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm.
+ Về hệ thống thuỷ lợi:
Hệ thống kênh mương chưa được kiên cố hoá hoàn chỉnh nên hiệu quả sử dụng
nước chưa cao.
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY SẮN TRÊN ĐỊA BÀN XẢ QUẢNG AN- HUYỆN
QUẢNG ĐIỀN
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 15
Đề tài thực tập giáo trình
2.2.1. Khái quát về tình hình sản xuất sắn
2.2.1.1. Diện tích, năng xuất, sản lượng
Cây Sắn đã thực sự mang lại giá trị kinh tế cho người dân toàn Huyện Quảng
Điền nói chung và xã Quảng An nói riêng. Dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, xã
Quảng An đã đưa cây sắn vào trồng. Mặc dù diện tích đất màu còn hạn chế, tuy vậy
sau khi thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa, một số bà con đã mạnh dạn đưa một số
diện tích trồng Lạc xen Sắn đem lại năng xuất sản lượng cao, nhằm phục vụ tốt cho
chăn nuôi gia súc, gia cầm góp phần tăng thu nhập cho gia đình và xã hội.
Cây sắn được coi như là cây lương thực hổ trợ gần gủi, gắn bó với người nông
Việc quy hoạch trồng Sắn trên địa bàn huyện còn nhiều bất cập, và hạn chế ảnh
hưởng đến việc tổ chức sản xuất các mạt hang từ Sắn
Một là: Tổ chức sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, một số hộ đầu tư ít nên
năng xuất còn thấp, công tác tập huấn áp dụng các biện pháp khoa học kỷ thuật chua
được chú trọng, việc quan tâm cây Sắn thiếu sự quan tâm, đầu tư phân bón nên đất
ngày càng nghèo dinh dưỡng dẩn đến cây phát triển kém hiệu quả và năng xuất thấp.
Hai là: Quảng An là xã rất khắc nghiệt về thời tiết, cho nên cây trồng phụ thuộc
rất lớn vào điều kiện thời tiết, năm nào thuận lợi về thời tiết thì cho năng xuất cao và
ngược lại.
Ba là: Cư sở hạ tầng còn bất cập, đường giao thong còn xa, chưa có những điểm
thu mua tập trung nhằm làm giảm bớt chênh lệch về giá. Chưa chú trọng áp dụng khoa
hoc vào sản xuất, năng lực sản xuất còn hạn chế.
2.2.1.2. Cơ cấu giống Sắn trên địa bàn xã Quảng An
Việc nhập nội giống Sắn tốt đưa vào sử dụng là hết sức quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp. Hiện nay xã đang tập trung trồng giống Sắn K94, Cao Sản, vì hai
giống này phù hợp với điều kiện tự nhiên trên địa bàn.
Việc nhà máy tinh bột cần nguyên liệu đầu vào lớn như hiện nay đã tạo cho
người dân mở rộng diện tích, chọn lọc sủ dụng các loại giống sắn mới, áp dụng khoa
học kỷ thuật tăng năng xuất, tăng thu nhập cho người dân, giải quyết lao động việc làm
tại địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo hiện nay.
2.2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA
2.2.2.1. Năng lực sản xuất của các hộ điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 50 hộ gia đình có trồng mô hình Lạc xen Sắn
trên địa bàn xã Quảng An, huyện Quảng Điền.
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy rằng chủ hộ là lao động chính quá trình trồng,
chăm sóc và thu hoạch nhưng phần lớn họ lại xuất than từ những người nông dân, do
vậy họ còn rất hạn chế về kỹ thuật trồng cây. Hơn nữa tuôi trung bình của lao động
chính khá cao (xấp xỉ 50) và trình độ văn hóa nhìn chung còn thấp. Đặc điểm này gây
ra rất nhiều khó khăn cho người dân trong quá trình sản xuất, đặc biệt trong công tác
tiếp cận vận dụng kỷ thuật mới vào việc trồng, chăm sóc cũng như khai thác Sắn.
hiện vật tham gia vào quá trình sản xuất, vốn bằng tiền thì rất ít chủ yếu dung để mua
phân vô cơ, các hộ giàu, khá thường sử dụng năng lực của mình để đầu tư vốn cho sản
xuất nên hiệu quả sản xuất cao. Do vậy các hộ nghèo khó khăn hơn trong việc huy
động vốn thường thì phải bán sản phẩm khi còn non nên hạn chế khả năng đầu tư. Đây
là vấn đề khó khăn cho hộ nghèo, giải quyết vấn đề này không một sớm, một chiều mà
cần có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan chức năng để có một chiến lược cho
phù hợp.
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 18
Đề tài thực tập giáo trình
Bảng 7: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất nông nghiệp (bình quân/1hộ)
Chỉ tiêu ĐVT Quảng An
1. Bình phun thuốc Cái 1.02
2. Cuốc, xẻng Cái 2.7
Nguồn số liệu điều tra năm 2010
Hiện nay trang thiết bị kỷ thuật tuy đã được cải thiện đáng kể, người dân ít phải
dùng Trâu, Bò để cày bừa. Thay vào đó đã được thay thế bằng máy cày bừa người dân
thuê để làm, đã giảm thiểu được sự khó khăn của nông dân. Tuy vậy vẩn có một số hộ
sử dụng Trâu Bò và sức người để cày kéo, kỷ thuật thô sơ. Tinh trạng ruộng manh
mún, nhỏ lẻ nên hiệu quả sử dụng máy móc chưa cao, còn tốn kém, việc cơ giới hóa
còn nhiều hạn chế.
2.2.2.3 Tình hình đầu tư của các nông hộ
2.2.2.3.1. Tình hình sử dụng giống Sắn của các nông trong năm 2010
Việc chọn lựa một số giống sắn mới, nhằm tìm ra giống sắn có thời gian sinh
trưởng ngắn, năng xuất cao, giàu tinh bột để cung cấp nguyên liệu phục vụ nhà máy
chế biến tinh bột, bổ sung giống sắn cho sản xuất để giúp nông dân rải vụ thu hoạch.
Hiện nay nhờ áp dụng khoa học kỷ thuật và lai tạo các giống Sắn có chất lượng
cao như K 98, K140, K94, HN124, Cao Sản. Hiện nay qua số liệu điều tra cho thấy
nông dân xã chủ yếu dùn K94 và Cao Sản.
2.2.2.3.2. Tình hình đầu tư cây Sắn
Để đầu tư cây Sắn hiệu quả phải đề cập đến chi phí trung gian (IC) đây là khoản
Năng suất của các hộ điều tra bình quân là 3.8 tạ/1sào. Nhưng thục tế điều tra
hộ có năng suất thấp nhất là 3 tạ/sào và hộ có năng suất cao nhất là 5 tạ/sào, điều này
chứng tỏ rằng có rất nhiều ảnh hưởng trong quá trình đầu tư chăm sóc dẫn đến ảnh
hưởng khi thu hoạch.
Bảng9: phân tổ các hộ theo năng suất thu hoạch
Khoảng cách tổ
tạ/sào
Bình quân chung
Số hộ % Năng suất
BQ(tạ/sào)
Tổng 50 100 3.8
<3.5 6 12 3.2
3.5-4.5 34 68 3.8
>4.5 10 20 7.4
( Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)
Ở mức năng suất dưới 3.5 tạ/sào chiếm 12% và có 6 hộ với năng suất bình quân 3.2
tạ/sào.
Các hộ ở mức năng suất từ 3.5 đến 4.5 tạ/sào có 34 hộ chiếm 68% với năng suất bình
quân 3.8 tạ/sào.
Ở năng suất lớn hơn 4.5 tạ/sào có 10 hộ chiếm 20% với năng suất bình quân 7.4 tạ/sào.
Nhìn chung thì năng suất này là khá phù hợp với thực tế, do ảnh hưởng của điều kiện
tự nhiên và địa hình của xã. Diện tích các thửa còn khá nhỏ lẻ.
2.3.2 Kết quả, hiệu quả sản xuất sẵn.
Bảng10: Kết quả, hiệu quả sản xuất sắn
STT Chỉ tiêu ĐVT BQC
1 GO/sào 1000đ 1274
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 20
Đề tài thực tập giáo trình
2 IC/sào 1000đ 486.8
3 VA/sào 1000đ 787.2
(Nguồn số liệu điều tra năm 2010)
Qua bảng trên, xét về giá trị sx được tạo ra trên một sào ( GO/sào ) thì cây sắn là cây
có giá trị thấp hơn với 1.274.000 đồng/sào, đứng sau cây lạc với giá trị 2.398.900
đồng/sào. Nhưng xét tiếp chỉ tiêu đầu tư chi phí trung gian chỉ với 486.800 đồng/sào
thấp hơn so với lạc 1.109.500 đồng/sào.
Như vậy bình quân cứ 486.800 đồng chi phí bỏ ra để đầu tư cho 1 sào đất khô thì thu
được 1.274.000 đồng giá trị sx và 787.200 đồng giá trị tăng thêm. Tuy đạt giá trị sx
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 21
Đề tài thực tập giáo trình
thấp nhưng diện tích trồng sắn ở trên địa bàn xã chiếm diện tích sản xuất lớn vì những
lý do sau đây:
Một là: Cây sắn dễ tính, chịu canh tác trên đất không có đầu tư thâm canh vẫn
cho năng suất, cây trồng ít kẽn đất ,chịu hạn tốt, ít gặp rủi ro do sâu bệnh, công lao
động ít, có nhiều loại giống cho sản lượng cao.
Hai là: hiện nay do trên dịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có nhà máy tinh sắn ở
huyện Phong Điền là đầu mối tiêu thụ sản phẩm sắn lớn khi có đầu ra ổn định thì nông
dân yên tâm và chú trọng sx.
Ba là: do cây sắn là cây trồng xen với lạc nên cung trên một diện tích canh tác
ma trồng hai loại cây cho hiệu quả cao thì nông dân sẽ tận dụng triệt để diện tích đó để
sản xuất.
Như vậy chúng ta có nên chuyển đổi toàn bộ diẹn tích còn lại để trồng sắn
không? Điều này là không thể thực hiện được vì những lý do sau:
Thứ nhất: đa dạng hoá cơ cấu cây trồng là biện pháp tốt để tránh rủi ro. Nhất là
khi nền nông nghiệp nước ta đang trong thời kì hội nhập với nền kinh tế cạnh tranh
gay gắt.
Thứ hai: việc chuyên canh cây sắn lâu dài trên một thửa đất sẽ là yếu tố dẫn
đến huỷ hoại đất. Và cây sẵn xen canh với cay lạc thì tận dụng dược lượng phân bón
tối đa cho hiệu quả sản xuất cao.
Thứ ba: những diện tích bằng phẳng thuận lợi việc tưới tiêu thì ta trồng loại
cay khác cho hiệu quả cao hơn.
sản xuất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sản lượng sắn của địa phương trong
những năm tới. Góp phhần nâng cao thu nhập của người sản xuất sắn
2.3.4.4 Ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố đầu vào
Sản xuất sắn là nghành sản xuất hàng hoá,do đó gắn liền với thị trương và giá cả. Sự
biến đông của giá sản phẩm và giá đầu vào đều làm thay đổi kết quả và hiệu quả sản
xuất.
Hơn nữa giá các yếu tố sản xuất thay đổi làm thay đổi chi phí ssản xuất,từ đó thay đổi
thu nhập các nông hộ. Sựe không ổnn định của thị trường tiêu thụ,tăng giá đầu vào làm
bà con không yên tâm sản xuất
2.3.4.5 Giống
Hện nay người dân địa bàn nghiên cứu chủ yếu sử dụng giống sắn K94, nhưng giống
lại đươc bà con để qua các năm nên giống bị thái hoá,làm ảnh hưởng đến năng suất và
sản lượng sắn trong những vu tiếp theo
2.3.4.6. Phân bón
Do diện tích sử dụng nhiều lại là đất cát bạc màu nên phân bón là yếu tố đầu
vào quan trọng. Qua thực tế ở địa bàn nghiên cứu người dân bón phân không hợp lý
theo đúng quy trình kỹ thuật. Với thực tế như trên đã làm cho cây sắn sinh trương và
phát triển chậm. Nguyên nhân chủ yếu la do người dân chưa nắm rõ trong việc đầu tư
sản xuất sắn,chủ yếu là làm theo kinh nghiệm. Thu nhập của người dân còn thấp nên
thiếu vốn đầu tư cho sản xuất sắn. Mặt khác giá cả phân bón lại tăng làm ảnh hưởng
đến quá trình sản xuất sắn. Để thấy được khó khăn của người trồng sắn chúng tôi so
sánh giá phân năm 2009 va 2010 thể hiện ở bảng sau :
Bảng 12: Chênh lệch giá phân giữa năm 2009-2010
Loại phân Giá 2009(đ/kg) Giá 2010(đ/kg) Chênh lệch(đ/kg)
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 23
Đề tài thực tập giáo trình
Phân lân 5500 6000 500
Phân kali 6000 7100 1100
Phân NPK 6500 7700 1200
(Nguồn: Số liệu điều tra 2010)
.Giống sắn:
Hiện nay bà con nông dân chủ yếu sử dụng giống sắn K94 nhưng không phải là
giông săn mới mà là do bà con để lại qua các năm,cho nên làm giảm năng suất của sắn
Nhóm 11_Sắn_K41A KTNN 24
Đề tài thực tập giáo trình
vì giống đã thái hoá. Vì vậy bà con nên mua giống mới thay thế giống săn hiên nay tại
địa phương đang trồng để có đươcj năng suất cao hơn
.Phân bón :Cây sắn là cây trồng dể chăm sóc nên người nông dân cchưa chú trọng
đầu tư dẩn tới sản lượng thu hoạch được còn thấp. Đất trồng sắn nhiều vụ sẽ bị thoái
hoá nếu không chăm sóc đất cho tốt. Để thực hiện tốt công tác này thì người nông dân
cần thực hiện một số biện pháp:
- Bón phân chuồng đầu vụ để cải tao đất tạo chất dinh dưỡng cho đất vì địa phương là
đất cát bạc màu
- Bón phân NPK để kích thích sắn sinh trương và phát triển tốt để thu đươc năng suất
cao
*Giao thông thuỷ lợi :
Giao thông :
Hiện nay hệ thống giao thông nội đồng ở vùng đất cát nội đồng của xã vẫn chưa
được hoàn chỉnh. Cần nâng cấp một số tuyến đường nội đồng để người dân thuận lợi
trong việc sản xuất sắn và vận chuyển
.Thuỷ lợi : Vùng đất cát nội đồng của xã chưa có hệ thống thuỷ lợi nên việc trồng
sắn nói riêng và làm nông nghiệp nói chung rất khó khăn khi gặp điều kiện thời tiết
không thuận lợi. Vì vậy cần xâyy dựng các hồ đập chứa nước hệ thông kênh mương,để
thoát nước tiêu úng cho vùng nguyên liệu sắn và tưới tiêu khi gặp nắng hạn
.Đất đai :
Đối với các vùng đất dự kiến mở rông vùng nguyên liệu phải khảo sát cụ thể và có
phương án quy hoạch phân vùng phân bổ. Để tao điều kiện thuận lợi khi giao đất cho
hộ gia đình thực hiện nghiêm ngặt các chế độ thâm canh cải tạo đất.
• Về chính sách vay vốn :
Nhà nước cần có chính sách cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp để nông dân có