247
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN SỬ DỤNG
CHẾ PHẨM SINH HỌC Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
Hồ Trọng Phúc, Trần Minh Trí, Nguyễn Ngọc Châu
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Tóm tắt. Việc ứng dụng chế phẩm sinh học được xem là giải pháp khả thi để nâng
cao hiệu quả kinh tế cho hoạt động nuôi trồng thủy sản của huyện Quảng Điền.
Bằng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu – DEA (Data Envelopment
Analysis) và phương pháp hoạch toán sản xuất (sử dụng các chỉ tiêu của hệ thống
tài khoản Quốc gia - SNA), nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình nuôi trồng thủy sản
sử dụng chế phẩm sinh học đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực. Với kết quả có
mức ý nghĩa thống kê, nghiên cứu là cơ sở khoa học để mở rộng ứng dụng chế
phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn toàn huyện và trên toàn tỉnh,
góp phần thúc đẩy hoạt động nuôi trồng thủy sản của tỉnh phát triển theo hướng
hiệu quả và bền vững.
1. Đặt vấn đề
Việc mở rộng diện tích cùng với lạm dụng thức ăn và nuôi trồng thiếu quy hoạch
đã làm cho môi trường đầm phá bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Thực trạng đó
cũng làm cho tình hình dịch bệnh xảy ra ngày càng phức tạp, dẫn đến hiệu quả hoạt
động nuôi trồng thủy sản của huyện giảm sút. Trước tình hình đó mô hình ứng dụng chế
phẩm sinh học (Effective Microorganism - EM) vào nuôi trồng thủy sản được xem là
giải pháp khả thi để phát triển hoạt động thủy sản của huyện theo hướng hiệu quả và
nhóm hộ nuôi trồng thủy sản có sử dụng chế phẩm sinh học và nhóm hộ không sử dụng.
Từ đó, có thể kết luận nhóm hộ nào sử dụng các yếu tố đầu vào hiệu quả hơn.
Xem xét N hộ nuôi xen Tôm sú – Cá Kình – Cua, mỗi hộ sử dụng K đầu vào để
sản xuất ra M đầu ra. K yếu tố đầu vào trong nghiên cứu này là tổng chi phí Giống,
Thức ăn và Lao động cho vụ nuôi xen Tôm sú – Cá Kình – Cua năm 2011. M đầu ra là
Tôm Sú, Cá Kình và Cua thu hoạch trong năm. Gọi các véc-tơ x
i
và y
i
lần lượt là tập
hợp đầu vào và đầu ra tương ứng. Tập hợp các véc-tơ đối với các hộ nuôi trong nghiên
cứu được ký hiệu bởi KxN - ma trận đầu vào (X) và MxN - ma trận đầu ra (Y). Mô hình
màng bao dữ liệu theo định hướng đầu vào, biến đổi theo quy mô đầu tư (input –
oriented VRS DEA) có dạng:
Min
θ,λ
(θ),
- y
i
+ Y λ ≥ 0,
θ x
i
- X λ ≥ 0,
N
∑ λ
i
= 1
i=1
Mean Std.Dev Mean Std.Dev
I. Đầu vào
Giống (1000đ/ha) 7.365,08
2.951,61
8.001,9 3.047,81 7.625,08 2.981,41
Thức ăn (kg/ha) 1.501,67
911,13 1.944,07 721,38 1.639,49 834,24
Lao động (giờ/ha) 1.016,16
454,11 1.303,35 612,88 1.134,09 521,62
II. Đầu ra
Tôm (kg/ha) 376,41 151,43 359,78 109,99 368,87 136,13
Cá Kình (kg/ha) 202,82 52,67 182,05 58,23 193,4 54,82
Cua (kg/ha) 130,32 52,64 113,53 86,46 122,71 68,05
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011).
- Về hiệu quả kỹ thuật:
So sánh hiệu quả kỹ thuật giữa 2 mô hình cho thấy, những hộ có sử dụng EM đạt
hiệu quả kỹ thuật cao hơn hẳn những hộ không sử dụng EM. Chỉ số hiệu quả kỹ thuật
VRSTE của hộ có sử dụng EM bình quân là 0,9 trong khi đó các hộ không sử dụng EM chỉ
0,87 và tỷ lệ số hộ đạt TE = 1 của nhóm hộ có sử dụng EM cao hơn nhóm hộ không sử dụng.
Điều này cho thấy những hộ có sử dụng EM sử dụng các nguồn lực tối ưu hơn so với những
hộ không sử dụng. Số liệu được minh họa cụ thể qua Bảng 2. 250
Bảng 2. So sánh chỉ số hiệu quả kỹ thuật giữa 2 mô hình của hộ
30,0
35,0
40,0
Hiệu quả kỹ thuật
Tỷ lệ % số hộ
crste vrste scale
crste
0,0 1,3 1,3 6,4 5,1 9,0 16,7 14,1 17,9 7,7 20,5
vrste
0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 1,3 14,1 9,0 21,8 17,9 35,9
scale
0,0 1,3 0,0 2,6 3,8 7,7 6,4 11,5 12,8 33,3 20,5
0-0,1 0,1-0,2 0,2-0,3 0,3-0,4 0,4-0,5 0,5-0,6 0,6-0,7 0,7-0,8 0,8-0,9 0,9-1 1
Biểu đồ 1. Tần suất phân phối của các hộ đạt hiệu quả kỹ thuật 251
Nhìn vào biểu đồ 1 ta thấy, phần lớn số hộ đạt hiệu quả kỹ thuật trong khoảng từ
0,8 – 1, tỷ lệ số hộ đạt hiệu quả kỹ thuật dưới 0,5 rất thấp. Nhưng bên cạnh đó, tỷ lệ số
hộ đạt hiệu quả từ 0,6 – 0,8 còn tương đối cao. Điều này chứng tỏ các hộ sử dụng chưa
hiệu quả các nguồn lực đầu vào, gây lãng phí.
3.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế
Về chi phí đầu tư: tổng chi phí bình quân mỗi hecta mà hộ đã đầu tư là 56 triệu
đồng, trong đó chi phí trung gian là 40 triệu đồng và chiếm tới 72% tổng chi phí. Nếu so
sánh giữa hai mô hình ta thấy tổng chi phí của các hộ có sử dụng chế phẩm EM và hộ
không sử dụng gần như có cùng mức chi phí, cụ thể: đối với các hộ có sử dụng chế
phẩm EM tổng chi phí hết 56,2 triệu đồng/ha và các hộ không sử dụng EM là 56,8 triệu
đồng/ha.
a. Chi phí nạo vét, tu bổ ao
nuôi
10.692,62
19,02 10.110,21
17,80 10.454,35
18,52
b. Chi phí xử lý 1.523,73 2,71 929,60 1,64 1.279,06
2,27
2. Chi phí Giống 7.365,08 13,10 8.001,90
14,09 7.625,08
13,51
3. Chi phí thức ăn 15.550,91
27,67 19.020,85
33,49 16.973,59
30,07
4. Chi phí EM 4.579,13 8,15 0,00 0,00 2.700,51
4,78
5. Tổng Chi phí LĐ 8.689,01 15,46 9.314,87
16,40 8.945,43
khoảng 61 triệu đồng/ha. Với chi phí trung gian (IC) hầu như không có sự khác biệt
nhiều nên giá trị gia tăng (VA) của các hộ sử dụng EM cao hơn những hộ không sử
dụng. Cụ thể VA của những hộ sử dụng EM thu được là trên 33 triệu đồng/ha, còn các
hộ không sử dụng chỉ gần 21 triệu đồng/ha.
Bảng 4. Phân tích kết quả và hiệu quả NTTS của hộ theo mô hình
Chỉ tiêu ĐVT
Sử dụng
EM
Không SD
EM
BQC
1. Tổng giá trị sản xuất (GO) 1000đ/ha 74.039,88 61.438,91 67.153,84
2. Chi phí trung gian (IC) 1000đ/ha 40.856,70 40.565,19 40.735,01
3. Giá trị gia tăng (VA) 1000đ/ha 33.183,18 20.873,72 26.418,83
4. Khấu hao tài sản cố định 1000đ/ha 6.661,01 6.911,72 6.798,02
5. Tổng chi phí (TC) 1000đ/ha 56.206,72 56.791,78 56.443,46
6. Lợi nhuận (LN) 1000đ/ha 17.833,16 4.647,13 10.710,38
7. GO/IC lần 1,81 1,51 1,65
8. VA/IC lần 0,81 0,51 0,65
9. VA/GO lần 0,45 0,34 0,39
10. LN/IC lần 0,44 0,11 0,26
11. LN/TC lần 0,32 0,08 0,19
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ năm 2011).
So sánh lợi nhuận, những hộ sử dụng EM có lợi nhuận là trên 17,8 triệu đồng/ha,
trong khi đó những hộ không sử dụng thì lợi nhuận tương đối thấp chỉ khoảng 4,6 triệu
đồng/ha. Lý giải điều này là do những hộ không sử dụng EM nên tỷ lệ mắc bệnh của đối
tượng nuôi cao hơn, gây sụt giảm về năng suất, sản lượng cũng như chất lượng sản
phẩm, thậm chí có hộ mất trắng nên không có thu hoạch. Còn những hộ có sử dụng EM
thì đối tượng nuôi sinh trưởng tốt hơn, khả năng bị dịch bệnh được khống chế, nhờ đó
sản lượng và chất lượng sản phẩm tăng lên.
2. Coelli, T., Rao, P., Battese, G., An introduction to Efficiency and Productivity Analysis,
Kluwer Academic Publishers, Boston/Dordrecht/London, 1998.
3. Cooper, W. W., Seiford, L., Tone, K., Data Envelopment Analysis: A comprehensive
text with models, applications, references and DEA-solver software, Kluwer Academic
Publishers, Boston/Dordrecht/London, 1999.
4. Zhu, J., Theory and methodology. Super-efficiency and DEA sensitivity analysis,
European Journal of Operational Research, 2001.
5. Tôn Nữ Hải Âu, Bùi Dũng Thể, Hiệu quả kỹ thuật của mô hình nuôi xen Tôm Sú – Cá
Kình ở Phá Tam Giang, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 62, (2010), 15-21.
6. Đặng Hoàng Xuân Huy, Phạm Xuân Thuỷ, Terje Vassdal, Phân tích hiệu quả kỹ thuật
cho các trại nuôi Tôm sú thương phẩm tại Thành phố Nha Trang, Việt Nam, Tạp chí
Khoa học – Công nghệ Thuỷ sản, số 4, (2009), 70-75. 254
7. Nguyễn Tài Phúc, Phạm Xuân Hùng, Khảo sát, so sánh hiệu quả kinh tế các mô hình
nuôi trồng thuỷ sản vùng Đầm Phá huyện Quảng Điền - tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí
Khoa học, Đại học Huế, số 54, (2009), 113-119.
8. Phòng Thống kê huyện Quảng Điền, Niên giám thống kê huyện Quảng Điền năm 2011.
9. UBND huyện Quảng Điền, Báo cáo kinh tế - xã hội huyện năm 2010, 2011.
ASSESSMENT OF THE EFFECTIVENESS OF AQUACULTURE MODEL
USING BIO-PRODUCTS IN QUANG DIEN DISTRICT
Ho Trong Phuc, Tran Minh Tri, Nguyen Ngoc Chau
College of Economics, Hue University
Abstract. The application of bio-products (Effective Microorganism) is considered
as a feasible solution to increase the economic efficiency of aquaculture in Quang
Dien district. By using Data Envelopment Analysis and Production Planning