Đánh giá hiệu quả mô hình trồng hoa hàng hóa tại xã linh sơn, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên - Pdf 13


 
KT & PTNT Kinh tế và phát triển nông thôn
BVTV Bảo vệ thực vật
UBND Ủy ban nhân dân xã
HTX Hợp tác xã
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CLĐ Công lao động
TP Thành phố
ĐVT Đơn vị tính
HDSD Hướng dẫn sử dụng

 !"
Trang

#
$
%&'
#
(
)
Trang
PHỤ LỤC
(
5
*+,
-./0
,1,12+34+&56
Khi nền kinh tế phát triển, đời sống con người ngày được cải thiện,

biệt là các loại hoa: Hoa cúc, hoa ly, hoa đồng tiền, hoa lay ơn…
Tuy nghề trồng hoa trên địa bàn xã đang phát triển nhưng còn gặp
nhiều khó khăn: Thiếu kiến thức về kỹ thuật, thiếu các phương tiện sản xuất,
thị trường giá cả và tiêu thụ chưa ổn định, việc sử dụng thuốc BVTV chưa
đúng quy trình, còn thiếu vốn trong sản xuất và sản phẩm chưa có thương
hiệu khó khăn cho việc quảng bá hoa cho xã Linh Sơn.
Trên thực tế quá trình phát triển các mô hình trồng hoa tại xã Linh Sơn
đã đạt được kết quả như thế nào? Những thuận lợi và khó khăn? Và các giải
pháp nào để nhân rộng? Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu để tìm ra
câu trả lời cho địa phương.
Xuất phát từ những nhu cầu trên, được sự đồng ý của khoa KT & PTNT,
Trường Đại học Nông Lâm và cơ sở thực tập tại xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TH.S Nguyễn
Hữu Giang tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình
trồng hoa hàng hóa tại xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên’’.
,1189'+:9&56

Nghiên cứu thực trạng sản xuất hoa hàng hóa tại xã Linh Sơn, huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của mô hình.
Trên cơ sở đó rút ra những kết luận và đề xuất một số giải pháp đúng
đắn có cơ sở khoa học và những cơ chế chính sách mới nhằm thúc đẩy nghề
trồng hoa tại địa phương.

Tìm hiểu tình hình kinh tế sản xuất hoa hàng hóa tại xã Linh Sơn,
huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2011.
;
7
Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng hoa hàng hóa và so sánh
hiệu quả của mô hình với một số mô hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.
Nghiên cứu tác động của mô hình đến những vấn đề: Xã hội, môi

Mô hình là một trong các phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng
rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan điểm, nội
dung và cách hiểu riêng:
Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình cùng hình dạng nhưng
thu nhỏ lại. Khi tiếp cận để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu
tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu [11].
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày
đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng
nghiên cứu [15].
Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và
còn là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế [2].
Trong thực tế để khái quát sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối
quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô
hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho
một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có một mô hình
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
Do đó ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc
vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để
mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng
đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà có thể
thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng
Q
9
nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được
bản chất của đối tượng nghiên cứu [7].
2.1.1.2. Mô hnh sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm
tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và
sức lao động của con người. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng

- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn
bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được.
- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động
khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.
- Trong đánh giá dự án người ta có thể hiểu như sau:
+ Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: Liệu dự
án có đạt được các kết quả và tác động hay không và mức độ mà dự án đã đạt
được so với mục tiêu của dự án thông qua các hoạt động đã chỉ ra trong tài
liệu dự án.
+ Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách
có hệ thống các kết quả và hiệu quả của dự án. Nó cũng điều tra những vấn đề
có thể làm chậm tiến độ thực hiện dự án nếu như các vấn đề này không được
giải quyết kịp thời.
+ Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu
theo phương pháp thông kê.
+ Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn.
+ Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
2.1.2.2. Cc loại đnh gi
* Đnh gi tiền khả thi: Là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự
án, để xem xét hoạt động hay dự án có thể thực hiện được hay không trong
điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực
hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của hoạt động hay
,S
11
dự án để làm căn cứ cho phê duyệt xem dự án hay hoạt động có được đưa vào
thực hiện hay không.
* Đnh gi thực hin: Loại đánh giá này thường bao gồm các dạng sau:
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá trong giai đoạn thực hiện, có thể là
đánh giá toàn bộ công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá
từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ

ánh chất lượng của công việc dựa trên định tính nhiều hơn: Cây sinh trưởng
chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu. Việc xác định các chỉ tiêu này thường
thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của những người tham gia giám
sát và người dân.
- Đối với các chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng.
Là các chỉ tiêu đo đếm được cụ thể, các chỉ tiêu này thường được sử
dụng để kiểm tra tiến độ của công việc. Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có
thể được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra phỏng vấn
cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng và trên hiện trường: Sự sinh
trưởng của cây trồng, tăng trọng của vật nuôi, năng suất cây trồng
* Cc loại tiêu chí dùng cho đnh gi
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của các hoạt động khuyến nông theo
mục tiêu đã đề ra: Diện tích, năng suất, cơ cấu, đầu tư, vốn sử dụng.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay hoạt
động khuyến nông: Tổng thu, tổng chi, hiệu quả lao động, hiệu quả vốn.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của dự án hay hoạt động khuyến
nông đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường.
%&'(
Hiệu quả là khái niệm chung dùng để chỉ kết quả hoạt động của các sự
vật hiện tượng bao gồm: Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường
,
13
2.1.3.1. Hiu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng
của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình
tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự
nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người.
+ Hiệu quả kinh tế được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa
lượng kết quả đạt được với lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng

mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ hội
để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập.
Không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất lẫn tinh thần trên cơ sở đó
thực hiện xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
2.1.3.3. Hiu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi
trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp
nông thôn theo hướng phát triển bền vững. Có nghĩa là phát triển liên tục trên
cơ sở khai thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn
chúng cho các thế hệ tương lai.
1,1(1+T9'+:9
2.1.4.1. Những chỉ tiêu đnh gi về pht triển ngành trồng hoa
* Chỉ tiêu din tích trồng hoa
Để xác định được tiềm năng phát triển nghề trồng hoa ở địa phương
trước hết phải xác định chỉ tiêu về diện tích. Từ đó biết được thực tế diện tích
hiện có và diện tích có khả năng mở rộng sản xuất.
* Chỉ tiêu về năng suất
Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, bởi muốn đánh giá được thực
trạng sản xuất của một khu vực người ta thường xem xét đến năng suất cây
trồng. Thông qua đó có biện pháp đầu tư thích hợp tăng năng suất.
* Chỉ tiêu về sản lượng
Đây là chỉ tiêu có vai trò khách quan, quan trọng trong việc phản ánh
về mặt lượng của quá trình phát triển sản xuất.
,(
15
2.1.4.2. Những chỉ tiêu đnh gi về hiu quả kinh tế và mức độ đầu tư trong
qu trnh sản xuất hoa
- Giá trị sản xuất (GO) được xác định là giá trị bằng tiền của toàn bộ
sản phẩm được sản xuất ra (thường là một năm) trên một đơn vị diện tích.
1

)*+,-./0
2.1.5.1. Khi nim cơ bản về vai trò của hoa
Hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ
đẹp của thiên nhiên được cây cỏ chắt lọc ban tặng cho con người. Hoa trong
cuộc sống của con người chiếm một vị trí thẩm mỹ quan trọng, hoa là tượng
trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống.
Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái thư giãn khi thưởng
thức vẻ đẹp của chúng mà còn đem lại cho người sản xuất hoa giá trị kinh tế
cao hơn hẳn so với những cây trồng khác. Nhiều nước trên thế giới như Hà
Lan, Pháp, Bungari… đã có nền sản xuất hoa rất phát triển và là nguồn thu
nhập quan trọng của đất nước.
Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của đất nước, cây
hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp 5 - 15 lần so với các cây trồng khác.
Điển hình như các mô hình trồng hoa lớn: Hà Nội, Đà Lạt và TP Hồ Chí
Minh đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng sản xuất.
2.1.5.2. Đặc điểm của sản xuất hoa
Kỹ thuật sản xuất hoa ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền
thống: Áp dụng kỹ thuật nhân giống cổ truyền, trồng trong điều kiện tự nhiên
ngoài đồng ruộng, giá thành thấp.
Các loại hoa được nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào như: Hoa lan,
cúc, hồng, cẩm chướng Nhưng nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào đòi
hỏi có thiết bị, giá thành cây giống cao. Hiện nay thị trường hoa nước ta
chưa phát triển nên nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào chưa được ứng
dụng rộng rãi.
Điều kiện bảo vệ cây hoa ở Việt Nam còn hạn chế, diện tích hoa chủ
yếu trồng trong đều kiện tự nhiên ngoài đồng ruộng, không có điều kiện che
chắn bảo vệ cây hoa.
Cây hoa còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố ngoại cảnh: Yêu cầu về
nhiệt độ, yêu cầu về ẩm độ, yêu cầu về ánh sáng, yêu cầu về đất sản xuất, yêu
,;

18
hoa châu Á được thị trường châu Âu và châu Mỹ ưa chuộng.
Theo khảo sát của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, tập quán tặng
hoa và chi tiêu mua hoa của người Nhật Bản đang tăng mạnh trong các dịp kỷ
niệm và ngày lễ trong năm. Hiện nay hàng năm, Việt Nam xuất khẩu sang
Nhật Bản khoảng 6,2 triệu USD, chiếm 1,4% thị phần nhập khẩu hoa của
Nhật Bản. Trong đó có hoa sen là loài hoa mà người dân xứ hoa anh đào rất
yêu thích [12].
1"",(2365
Nước ta có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để trồng được nhiều
loại hoa và cây cảnh. Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh
đó tiềm năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn. Hoa và cây cảnh Việt Nam nếu
được tổ chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh
tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng.
Với diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa ở
Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai. Hoa được trồng lâu đời và tập
trung một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Tây Tựu
(Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh),
Triệu Sơn (Thanh hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh) với tổng diện
lích trồng khoảng 3.500 ha.
Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được
chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh. Trong đó phát triển hệ thống trồng
hoa thâm canh đã được nhà nước quan tâm và hỗ trợ. Theo Viện Nghiên cứu
Rau - Quả thì hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10 - 15
lần so với trồng lúa và 7 - 8 lần so với trồng rau. Gần 90% các loài hoa được
trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy nhiên thị trường xuất
khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt Nam (hoa sen,
hoa nhà và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong mùa
Đông (hồng, cúc ). Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có

số liệu năm 2011 Đà Lạt là thành phố trồng và xuất khẩu hoa lớn nhất cả
nước với diện tích trên 3.500 ha, chiếm 40% diện tích và 50% sản lượng. Mỗi
,R
20
năm thành phố cung ứng cho thi trường trong nước và xuất khẩu khoảng 10
triệu cây hoa giống. Năm 2011 Đà Lạt lập kỷ lục mới trong xuất khẩu hoa
tươi với hơn 53 triệu cành hoa các loại.
Năm 2011, diện tích hoa tươi của Việt Nam khoảng hơn 8.000 ha với 4,5
tỷ cành, trong đó 1 tỷ cành đã được xuất khẩu trong đó 85% là hoa hồng, cúc
và lan. Doanh thu từ xuất khẩu hoa đạt 60 triệu USD [16].
Hiện nay vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tích
trồng hoa, mà còn là chất lượng và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng hóa
các loại hoa phục vụ nhu cầu trong nước, mặt khác, trú trọng các loại hoa chất
lượng cao phục vụ xuất khẩu.
1"",(237289+:;&#<%=:>1$?;
Hoa là loại cây trồng đã được người dân nơi đây trồng và khai thác
nhiều năm trở lại đây. Nhưng chưa được sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của các
cấp lãnh đạo. Mặc dù vậy với sự cố gắng của các nông hộ sản xuất, cây hoa
đã bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân nơi đây.
Đến năm 2011 toàn xã đã có 27,54 ha đất trồng hoa. Các loại hoa được
trồng nhiều trong giai đoạn hiện nay là: Hoa cúc, đồng tiền, hoa lay ơn, hoa
huệ. Đặc biệt là 2 năm trở lại đây các hộ tham gia sản xuất mô hình trồng hoa
ly với vốn đầu tư lớn nhưng hiệu quả kinh tế cao. Tỷ lệ cây cho thu đạt hơn
90%. Năng suất bình quân của các loại hoa đạt khoảng 360.000 bông/ha.
Những năm gần đây người dân đã tự tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm
của các địa phương có truyền thống trồng hoa lâu năm như: Hưng Yên, Hải
Phòng, Đông Anh Do vậy diện tích và năng suất hoa đã tăng lên nhiều.
Năm 2009 diện tích trồng hoa của toàn xã là 16,25 ha, năm 2010 diện tích là
22,5 ha tăng 6,25 ha tương đương 38,5%, năm 2011 diện tích đất trồng hoa
của xã là 27,54 ha so với 2010 tăng 5,04 ha tương đương 22,4% [1].

bố địa hình phức tạp, toàn xã có khoảng 30% là đồi núi, có độ cao trung bình
,
22
154.4 m so với mực nước biển, cao nhất ở núi Quặng giáp Khe Mo (240.7m)
và thấp nhất ven Sông Cầu (25 m). Địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc
xuống Tây Nam, trừ một số khu vực đồi cao, phần còn lại là những cánh đồng
bằng phẳng ven Sông Cầu và Sông Linh Nham, đây là một trong những điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế mà đặc biệt là cơ giới hóa đồng ruộng
cũng như áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp. Tuy nhiên
một số khu vực thấp trũng hàng năm vẫn bị ngập úng bởi hệ thống thủy văn
Sông Cầu, Sông Linh Nham chưa hợp lý.
* Tnh hnh sử dụng đất
Xã Linh Sơn nằm ở phía Bắc huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện 3,5
km. Năm 2011 với tổng số dân 8690 người, mật độ dân số là 200 người/km
2
được chia làm 14 thôn, xóm. Có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.550,94 ha đất
tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp có diện tích là 927,9 ha, chiếm 59,82%,
đất phi nông nghiệp có diện tích là 623,04 ha, chiếm 40,17%. Tổng diện tích
đất tự nhiên và còn lại là đất chưa sử dụng là 8,32 ha chiếm 0,53%.
- Đất nông nghiệp: Năm 2011 diện tích đất nông nghiệp toàn xã có
927,9 ha chiếm 59,82% diện tích đất tự nhiên của xã. Nhìn chung đất nông
nghiệp giảm qua các năm. Từ năm 2009 đến năm 2010 giảm 35,47 ha tương
đương với 2,65%, năm 2010 đến năm 2011 giảm 95,01 ha tương đương với
6,13%. Đất nông nghiệp của xã đã được đưa vào sử dụng tương đối hợp lý và
hầu hết đã giao cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài.
- Đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên. Năm
2009 đến năm 2010 tăng 36,62 ha tương đương với 2,63%, năm 2010 đến
năm 2011 tăng 106,48 ha tương đương với 6,87%. Chuyển diện tích từ đất
nông nghiệp sang các mục đích khác.
- Đất chưa sử dụng: Toàn xã chỉ còn 8,32 ha đất chưa sử dụng. Diện

S,Sh
SSR
S,,h
S,S
A. Tổng diện tích tự
nhiên
1550,94 100 1.550,9
4
100 1.550,94 100 100 100
I. Đất nông nghiệp 1.058,38 68,24 1.022,9
1
65,95 927,9 59,82 96,64 90,7
1. Đất trồng lúa 690,58 44,52 670,21 43,21 670,57 43,23 97,05 100,04
2. Đất trồng các cây hàng
năm khác
178,56 11,51 190,79 12,3 95,79 6,17 106,86 50,16
3.Đất lâm nghiệp 148,60 9,58 121,14 7,81 120,73 7,78 81,52 99,61
3. Đất nuôi trồng thủy sản 14,81 0,95 12,28 0,79 12,07 0,77 83,15 97,46
4. Đất nông nghiệp khác 25,83 1,66 28,49 1,83 28,65 1,84 110,24 100,54
II. Đất phi nông nghiệp 479,94 30,94 516,56 33,3 623,04 40,17 107,62 120,63
1. Đất ở 86,75 5,59 79,59 5,13 80,29 5,17 91,77 100,77
2. Đất chuyên dùng 237,82 15,33 219,15 14,13 208,45 13,44 92,17 95,11
3. Đất phi nông nghiệp khác 155,37 10,01 217,82 14,04 325,98 21,01 140,25 149,64
III. Đất chưa sử dụng 12,62 0,81 11,47 0,74 8,32 0,53 91,35 71,62
(Nguồn: Bo co tổng kết của UBND xã Linh Sơn)
2.3.1.3. Điều kin khí hậu, thời tiết, thủy văn
* Khí hậu
Xã Linh Sơn cũng như toàn huyện Đồng hỷ có khí hậu đặc trưng của
vùng trung du miền núi Bắc bộ: Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng
10, mùa lạnh mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình

đến năm 2011 tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm 0,29%.
- Lao động: Tổng số lao động chính toàn xã năm 2011 khoảng 5.340
người. Số lao động chính qua các năm cũng tăng, trong đó tập trung chủ yếu
là lao động nông nghiệp. Hàng năm vào thời kỳ nông nhàn có một số bộ phận
lao động vào thành phố làm thuê. Số lượng lao động hàng năm không ổn
định, phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình thời vụ và tình hình thị trường.
- Mức sống dân cư: Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước
khởi xướng, lãnh đạo, nông thôn cả nước nói chung và nông thôn xã Linh Sơn
nói riêng đã có những thay đổi rõ rệt, đời sống nhân dân được cải thiện và
nâng lên một bước đáng kể. Năm 2010 toàn xã có 167 hộ nghèo, đến năm
2011 con số này chỉ còn 120 hộ, giảm 40 hộ đây là bước phát triển rất lớn của
(
25
xã. Đồng thời số hộ giàu cũng tăng: Năm 2010 có 209 hộ năm 2011 tăng lên
295 hộ. Cùng với sự chuyển dịch kinh tế, tổng sản phẩm xã hội tăng lên và
thu nhập bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 đạt 9,5
triệu đồng/người/năm và đến năm 2011 đã đạt 12 triệu đồng/người/năm. Đời
sống người dân đã được cải thiện đáng kể, được hưởng nhiều thành quả của
công cuộc đổi mới, cả vật chất lẫn tinh thần.
K'1iN++N+[jDe&U])+^C'&P\SSR_S,,
+T9 .CX
aL ^P^+bcd
SSR S,S S,, S,ShSSR S,,hS,S
1. Tổng số hộ Hộ 1.895 2.018 2.294 106,5 113,7
2. Tổng số
nhân khẩu
Khẩu 8.813 8.715 8.690 98,94 99,71
3. Tổng số
lao động
Người 4.500 5.210 5.340 115,8 102,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status