ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO “3 GIẢM 3 TĂNG” TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM –TỈNH VĨNH LONG NĂM 2012 - Pdf 19

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu, kết
quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Tác giả Mai Văn Thông

ii
ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
NHẬN XÉT VÀ XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Nhận xét và xác nhận của cán bộ hướng dẫn đề tài “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ
HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO “3 GIẢM 3 TĂNG” TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM –


Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp chứng nhận chấp thuận báo cáo về đề tài: “ĐÁNH
GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO “3 GIẢM 3 TĂNG” TẠI
HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG NĂM 2012” được thực hiện bởi sinh
viên Mai Văn Thông lớp Phát triển nông thôn A
1
khóa 36 – Viện nghiên cứu Phát triển
Đồng bằng sông Cửu Long – Trường Đại học Cần Thơ, thời gian thực hiện đề tài từ
tháng 11 – 2012 đến tháng 3 – 2013.
Báo cáo luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá mức:
Ý kiến hội đồng:

Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2013
Ch
ủ tịch Hội đồng


1.LÝ LỊCH BẢN THÂN
Họ và tên: Mai Văn Thông
Ngày sinh: 25-10-1991
Nơi sinh: Vũng Liêm – Vĩnh Long
Chỗ ở hiện tại: Ấp Hiếu Xuân Đông – xã Hiếu Thành – Vũng Liêm – Vĩnh Long.
Điện thoại: 0169.33.99.877
Email: [email protected]
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Từ năm 1997 đến năm 2002 là học sinh trường tiểu học Hiếu Nhơn B.
Từ năm 2002 đến năm 2009 là học sinh trường cấp 2-3 Hiếu Nhơn.
Từ năm 2009 đến năm 2010 là sinh viên trường Cao đẳng cộng đồng Vĩnh Long.
Từ năm 2010 đến năm 2013 là sinh viên trường Đại học Cần Thơ, ngành Phát triển nông
thôn, Viện nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long.

vi
TÓM LƯỢC

Sản xuất lúa gạo vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Việc nâng cao
năng suất cũng như chất lượng lúa gạo trên cùng một đơn vị diện tích đang là yêu cầu tất
yếu hiện nay. Để làm được điều đó thì ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất được
xem là biện pháp hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản
xuất còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho người nông
dân vẫn chưa mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất lúa. Xuất
phát từ thực trạng trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo “Ba
giảm, Ba tăng” tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long” nhằm thực hiện các mục tiêu:
(1) Đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại vùng nghiên cứu; (2) Đánh giá hiệu quả sản xuất
lúa theo mô hình “3 giảm 3 tăng” và những đóng góp của mô hình đến thu nhập nông hộ;
(3) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ áp dụng và
không áp dụng mô hình; (4) Đề xuất giải pháp nhằm tăng lợi ích cho người sản xuất lúa.

LỜI CẢM TẠ iv
TIỂU SỬ BẢN THÂN v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH BẢNG xi
DANH MỤC HÌNH xiiiv
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Không gian và thời gian 3
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.3 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG 4
2.1.1 Vị trí địa lý 4
2.1.2 Khí hậu 5
2.1.3 Đặc điểm địa hình 5
2.1.4 Dân số 6
2.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 6
2.1.5.1 Tài nguyên đất 6
2.1.5.2 Tài nguyên nước: 6
2.1.6 Tình hình kinh tế - xã hội 6
2.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VŨNG LIÊM 7
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 7


4.2.7 Những khó khăn trong sản xuất của người nông dân 36
4.3 HIỆU QUẢ KỸ THUẬT – TÀI CHÍNH CỦA NÔNG HỘ KHÔNG ÁP DỤNG VÀ
ÁP DỤNG MÔ HÌNH “3 GIẢM 3 TĂNG” 37
4.3.1 Phân tích kỹ thuật canh tác của nông hộ không áp dụng và áp dụng mô hình “ba
giảm ba tăng” 37
4.3.1.1 Diện tích đất canh tác lúa 37
4.3.1.2 Cấp giống sử dụng 37
4.3.1.3 Tên giống sử dụng 38
4.3.1.4 Nguồn giống sử dụng 39
4.3.1.5 Lượng giống sử dụng 39
4.3.1.6 Mùa vụ gieo sạ 40
4.3.1.7 Lượng phân DAP sử dụng trong canh tác của nông hộ 41
4.3.1.8 Lượng phân Urea sử dụng trong canh tác của nông hộ 42

ix
4.3.1.9 Lượng phân Kali sử dụng trong canh tác của nông hộ 42
4.3.1.10 Lượng phân NPK sử dụng trong canh tác của nông hộ 43
4.3.1.11Lượng phân Lân sử dụng trong canh tác của nông hộ 43
4.3.1.12Lượng phân khác sử dụng trong canh tác của nông hộ 44
4.3.2 Hiệu quả tài chính của nông hộ không áp dụng và áp dụng mô hình “ba giảm ba
tăng”………………… …………………………………………………………………………44
4.3.2.1 So sánh hiệu quả sản xuất của nông hộ không áp dụng và áp dụng mô hình “ba
giảm ba tăng” vụ Đông Xuân. 44
4.3.2.2 So sánh hiệu quả sản xuất của nông hộ không áp dụng và áp dụng mô hình “ba
giảm ba tăng” vụ Hè Thu. 50
4.3.2.3 So sánh hiệu quả sản xuất của nông hộ không áp dụng và áp dụng mô hình “ba
giảm ba tăng” vụ Thu Đông 54
4.3.2.4 Các tiêu chí so sánh hiệu quả kinh tế trên năm của nhóm nông hộ không áp dụng
và áp dụng mô hình “3 giảm 3 tăng”. 588
4.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA

IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xi
DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tiêu đề Trang
2.1 Chiết tính số tiền tiết kiệm được khi thực hiện hoàn thành dự án "3 giảm 17
3 tăng" đến năm 2010
2.2 Diện tích sản xuất lúa vụ Hè Thu 2010 theo chương trình “ba giảm ba tăng” 19
của tỉnh Vĩnh Long.
4.1 Độ tuổi của chủ hộ canh tác lúa tại huyện Vũng Liêm – Vĩnh Long 26
4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ canh tác lúa tại huyện Vũng Liêm – Vĩnh Long 26
4.3 Số lao động chính tham gia sản xuất lúa của nông hộ 27
4.4 Thông tin tổng tài sản nông hộ 28
4.5 Điều kiện tài chính và thông tin vay vốn nông hộ 29
4.6 Mục đích vay vốn của nông hộ 29
4.7 Nguồn vay vốn sản xuất của nông hộ trong và ngoài mô hình 30
4.8 Số lần tập huấn kỹ thuật của nông hộ 30
4.9 Người hướng dẫn áp dụng mô hình 3 giảm 3 tăng 31
4.10 Nguyên nhân quan tâm đến mô hình 3 giảm 3 tăng 32
4.11 Lý do nông dân tiếp tục áp dụng mô hình “3 giảm 3 tăng” 32
4.12 Mong muốn của người nông dân khi áp dụng mô hình 33
4.13 Lý do mong muốn của nông dân trong quá trình áp dụng “3 giảm 3 tăng” 33
4.14 Hỗ trợ của chính quyền địa phương cho nông dân trồng lúa 34
4.15 Ảnh hưởng của mô hình “3 giảm 3 tăng” đến giá bán lúa 34
4.16 Hình thức bán lúa của nông hộ 35
4.17 Nơi tiêu thụ lúa hàng hóa của nông hộ 35
4.18 Lý do bán lúa của chủ hộ 35 xiii
DANH MỤC HÌNH Hình Tiêu đề Trang

Hình 2.1 Bản đồ hành chánh tỉnh Vĩnh Long 5

1

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sản xuất lúa gạo hiện vẫn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và
nông thôn Việt Nam. Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích trồng lúa khoảng
4 triệu hecta, chiếm 12% trên tổng diện tích trồng lúa của cả nước. Hằng năm ĐBSCL
cung cấp 20 triệu tấn lúa cho nền kinh tế, chiếm hơn 50% tổng sản lượng lúa và khoảng
90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7,105 triệu
tấn gạo, thu về 3,651 tỷ USD cho quốc gia, trong đó ĐBSCL đóng góp khoảng 90%
(Hiệp hội lương thực Việt Nam, 2012). Mặc dù mức đóng góp của người nông dân ở
ĐBSCL là lớn như vậy nhưng thu nhập của người nông dân vẫn còn rất thấp so với các
ngành kinh tế khác.
Cây lúa hiện vẫn là cây trồng chủ lực của ĐBSCL do là loại cây dễ trồng, phù hợp với
điều kiện khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng và gắn bó khá lâu đời đối với người nông dân ở
ĐBSCL. Vì vậy, ngành sản xuất lúa cần tiếp tục chú trọng phát triển theo hướng sản xuất
bền vững như sử dụng giống lúa chất lượng cao, phẩm chất tốt, quy trình sản xuất mới

thừa phân đạm, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Qua đó, làm giảm chi phí
sản xuất, tăng lợi nhuận cho người nông dân. Tuy nhiên, để thấy được hiệu quả kỹ thuật
và kinh tế từ mô hình nhằm khuyến khích người nông dân mạnh dạn áp dụng vào sản
xuất, đề tài “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo “Ba giảm, Ba tăng” tại
huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long” nhằm củng cố các thông tin cho việc ra quyết định
hợp lý trong sản xuất lúa để tăng hiệu quả sản xuất, qua đó tăng thu nhập nông hộ.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích tình hình sản xuất lúa theo mô hình “3 giảm 3 tăng” nhằm đưa ra những giải
pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sản xuất cho những nông hộ sản xuất theo mô hình tại
vùng nghiên cứu và qua đó góp phần làm tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá hiện trạng sản xuất lúa của nông hộ áp dụng và không áp dụng theo mô hình “3
giảm 3 tăng” tại huyện Vũng Liêm – Vĩnh Long.
Phân tích và so sánh hiệu quả kỹ thuật – tài chính của nông hộ sản xuất lúa trong và ngoài
mô hình.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ áp dụng và không
áp dụng mô hình.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu.
3

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nhằm đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua một
số câu hỏi sau:
 Thực trạng sản xuất lúa hiện nay như thế nào?
 Hiệu quả về kinh tế, xã hội từ việc áp dụng sản xuất theo mô hình và không theo mô
hình tại vùng nghiên cứu?

Tiền và sông Hậu, giới hạn từ 9
0
54’48” đến 10
0
19’48” vĩ độ Bắc và từ 105
0
41’18” đến
106
0
17’03” kinh độ Đông; nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 136 km về phía Đông Bắc
và cách thành phố Cần Thơ 40 km về phía Nam; ; Phía Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh;
Phía Tây Nam giáp tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ; Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng
Tháp; Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.
Diện tích tự nhiên của tỉnh Vĩnh Long khoảng 1.479,128 km
2
, bằng 0,4% diện tích cả
nước. Vĩnh Long gồm có 7 huyện và 1 thành phố. Vĩnh Long có hệ thống sông ngòi
chằng chịt, cù lao nhiều, phù sa màu mỡ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.

Hình 2.1: Bản đồ hành chánh tỉnh Vĩnh Long
5

2.1.2 Khí hậu
Vĩnh Long nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, chia làm 2

- Vùng có cao trình từ 0,8 đến 1,2m, có diện tích khoảng 60.384,93 ha (chiếm 45,86%
diện tích), phân bố ven sông Tiền, sông Hậu và các sông rạch lớn.
- Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4 – 0,8m, có diện tích khoảng 39.875,71 (chiếm 30,28%
diện tích). Đây là vùng chuyên canh lúa của tỉnh (chiếm 80% diện tích đất canh tác lúa).
- Vùng có cao trình nhỏ hơn 0,4m, có diện tích khoảng 1.481,15 ha (chiếm 1,12% diện
tích). Có địa hình thấp trũng, ngập sâu; chỉ thích hợp trồng lúa 2 vụ/năm với điều kiện
thực hiện tốt công tác thủy lợi nội đồng.

6

2.1.4 Dân số
Theo số liệu thống kê dân số trung bình tỉnh Vĩnh Long năm 2011 là 1.028.600 người,
giảm 3.394 người so với năm 2010, xếp thứ 10 trong tổng số 13 tỉnh thuộc ĐBSCL. Mật
độ dân số trung bình là 687 người/km
2
, đứng hàng thứ 2 ở ĐBSCL sau thành phố Cần
Thơ, gấp 1,6 lần mật độ trung bình của ĐBSCL và 2,6 lần mật độ trung bình của cả nước.
2.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
2.1.5.1 Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 1/1/2010, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có
147.912,7 ha được chia ra 5 loại đất sử dụng như sau (tỉnh không có đất lâm nghiệp): Đất
nông nghiệp 116.180,6 ha, chiếm 78,6%; Đất chuyên canh 9.163,9 ha, chiếm 6,2%; Đất ở
nông thôn 5.502,3 ha, chiếm 3,7%; Đất ở đô thị 656,8 ha, chiếm 0,44%; Đất chưa sử
dụng, 105,3 ha, chiếm 0,07%.
2.1.5.2 Tài nguyên nước:
Với 91 sông, kênh, rạch trên địa bàn nguồn nước mặt của tỉnh Vĩnh Long được phân bổ
đều khắp trong tỉnh. Ba con sông lớn cung cấp nước cho hệ thống kênh rạch này là:
- Sông Cổ Chiên nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có chiều rộng từ 800-2500m, sâu từ 20-
40m với khả năng tải nước cực đại lên tới 12.000-19.000m³/s.
- Sông Hậu chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, song song với sông Cổ Chiên, chạy

huyện Mang Thít và huyện Tam Bình; Nam giáp sông Càng Long của tỉnh Trà Vinh; Tây
giáp huyện Trà Ôn cùng tỉnh; Đông giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Vũng Liêm là 294,43 km
2
.
2.2.2 Điều kiện sản xuất nông nghiệp
Về trồng trọt:
 Cây lúa: Thực hiện ổn định sản xuất 3 vụ trên năm, mở rộng diện tích trồng lúa có
năng suất, chất lượng cao theo mô hình cánh đồng mẫu ở xã Hiếu Phụng, Trung Hiếu,
Hiếu Nhơn, đảm bảo xuống giống đồng bộ, đúng lịch thời vụ ở từng khu vực. Tổng diện
tích gieo trồng lúa cả năm 41.200 ha, năng suất bình quân 6 tấn/ ha, sản lượng lúa
247.846 tấn. Chia ra từng vụ như sau:
- Vụ Đông Xuân: diện tích 13.800 ha, năng suất 6,8 tấn/ha, sản lượng 93.404 tấn.
- Vụ Hè Thu: diện tích 13.700 ha, năng suất 5,9 tấn/ha, sản lượng 80.443 tấn.
- Vụ Thu Đông: diện tích 13.700ha, năng suất 5,4 tấn/ha, sản lượng 73.999 tấn.
 Cây màu-cây lác.
- Diện tích gieo trồng rau màu các loại là 2.500 ha (trong đó diện tích luân canh lúa –
màu 1.000 ha) bao gồm các loại màu lương thực, màu thực phẩm, dưa hấu và rau đậu các
loại.
8

- Cây lác: vận động nông dân trồng mới 20 ha, nâng tổng diện tích lác 472,7 ha để tạo
nguồn nguyên liệu cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề se lõi lác mới
hình thành, tiếp tục liên kết các doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm, giúp nông dân an
tâm sản xuất.
 Kinh tế vườn: Tập huấn hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân chăm sóc, thâm canh tăng
năng suất, chất lượng diện tích vườn cây ăn trái hiện có, tập trung cho một số loại cây
trồng như: dừa, xoài, sầu riêng, ca cao, tiếp tục cải tạo vườn kém hiệu quả giai đoạn
2012-2015. Khuyến cáo nông dân quan tâm đầu tư chăm sóc để nâng cao giá trị kinh tế
vườn, gắn với thực hiện dự án trồng cây ca cao năm 2013 diện tích 100 ha, số lượng

chấp nhận và cấp kinh phí triển khai tại Việt Nam, cụ thể là năm 2003, được sự hỗ trợ về
tài chính và kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn đã triển khai thí điểm chương trình sản xuất lúa “3 giảm - 3 tăng” tại Cần
Thơ, An Giang.
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa (2010), thì Ba giảm trong sản xuất lúa “ba giảm ba tăng” tức
là phải:
 Giảm lượng giống gieo sạ.
Hiện nay đa số nông dân đều sử dụng với lượng giống cao hơn hơn 150kg/ha. Gieo sạ với
lượng giống cao như thế trước tiên sẽ làm tăng chi phí tiền giống, thứ hai sẽ làm tăng mật
độ số cây lúa trên ruộng, việc tăng mật độ này kéo theo hậu quả là dễ phát sinh sâu bệnh,
hao tốn thêm số lần phun xịt thuốc. Đồng thời do nhiều cây lúa trên ruộng thì thêm tốn
chất dinh dưỡng nhiều hơn, phải bón thêm.
_
Giảm lượng thuốc trừ sâu bệnh.
Thuốc BVTV đa số đều là những độc chất, việc sử dụng nhiều sẽ đem lại nguy cơ có hại
cho con người, cho gia cầm, gia súc, cho các động vật thủy sinh và cho môi trường nước
và đất.
 Giảm lượng phân đạm.
Trong canh tác lúa nông dân thường bón phân Urea (N) với số lượng cao hơn các phân
còn lại như Kali hay Lân, vì khi bón nhiều phân N thì lúa phát triển tốt. Nhưng nếu bón
thừa phân N so với nhu cầu của cây lúa sẽ làm cho cây lúa mất cân đối về dinh dưỡng dễ
bị sâu bệnh tấn công, gây ảnh hưởng lớn đến năng suất.
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2008), cho rằng để góp phần thực hiện tốt cuộc vận động ba
giảm trong sản xuất lúa hiện nay, trong mỗi yêu cầu giảm được chọn một biện pháp then
chốt.
 Biện pháp thứ nhất: Gieo cấy theo lịch thời vụ, thời vụ gieo trồng có ảnh hưởng rất
lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa và sự phát sinh tác hại của sâu bệnh. Đối
với rầy nâu và bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá ngày nay, việc gieo cấy theo thời vụ hướng
dẫn được xác định là biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất. Việc này có ý nghĩa cực kỳ to
lớn, góp phần chủ yếu làm giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng.

sẽ là: 12.000 gam/1.000m
2
/0,023gam = 520 hạt/m
2

(làm tròn số).
Giả sử khi gieo chỉ có 80% số hạt nảy mầm thì sẽ có: 520 hạt x 80% = 420 cây/m
2
(làm
tròn số), tiếp tục giả sử cây lúa không đẻ nhánh ta sẻ có 420 bông/ m
2
khi thu hoạch.
Năng suất được tính theo công thức:
NS/m
2
= số bông/m
2
x số hạt chắc/bông x trọng lượng hạt.
NS/m
2
= 420 bông x 100 hạt x 70% x 0,023gam = 676,2gam = 0,68 kg/m
2
.
11
Vậy năng suất/công = 1.000m
2
x 0,68kg/m
2
= 680kg/công (6,8 tấn/ha). Qua nghiên cứu
các nhà khoa học cho biết đối với lúa gieo để có năng suất cao cần có số bông/m

 Gieo đều và đúng kỹ thuật theo thời vụ.
Nhìn chung, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn tạp quán gieo sạ với lượng
giống khá cao, bón thừa phân đạm và phun thuốc trừ sâu không cần thiết. Tập quán này
có nguồn gốc từ nhận thức của họ bởi vì họ tin rằng càng đầu tư cao, sạ lượng giống lớn,
bón nhiều phân, phun nhiều thuốc trừ sâu sẽ đạt năng suất khá. Trong khi kết quả nghiên
cứu đã chính minh cây lúa thừa đạm sẽ thu hút nhiều loại dịch hại đến cư trú, đẻ trứng,
vòng đời dài hơn (Lu và ctv, 2004).
Theo Nguyễn Văn Luật và ctv (1998, và 1999), từ năm 1995 Viện Lúa Đồng bằng sông
Cửu Long đã nghiên cứu các thí nghiệm về mật độ sạ, cách gieo sạ đã chứng minh rằng,
sạ theo hàng với mật độ 50kg, 75kg và 125kg/ha cho kết quả là năng suất không khác biệt
ý nghĩa, trong khi sạ lan ở mật độ 100kg/ha thì cho năng suất cao hơn sạ lan mật độ
200kg/ha (cao hơn 20-23%). So với sạ lan, sạ theo hàng tiết kiệm được hơn 100kg/ha
giống, tăng năng suất từ 0,5 – 1 tấn/ha, giảm thuốc trừ sâu bệnh, giảm chuột phá, dễ phân
biệt lúa cỏ, giảm ngã đỗ, giảm tỷ lệ lép, thuận lợi đi lại chăm sóc và dễ nuôi cá trong
ruộng lúa hơn.
Trần Thị Ngọc Huân và ctv (1999), đã phân tích tương quan giữa năng suất và thành
phần năng suất lúa được gieo sạ ở các mật độ từ 50kg, 100kg, 150kg, và 200kg/ha trong
vụ Đông Xuân và Hè Thu đã chứng minh rằng, số bông/m
2
gia tăng khi mật độ sạ tăng
12
trong khi số hạt chắc trên bông giảm, đây là mối quan hệ bù trừ giữa hai đặc tính trên: số
hạt chắc/bông có ảnh hưởng trực tiếp và tương quan thuận với năng suất, bù trừ cho việc
giảm số bông/m
2
.
Nguyễn Văn Luật (2001) cho rằng, lượng giống gieo sạ vẫn còn có thể giảm được nữa
nếu điều kiện canh tác tốt hơn, và chương trình “ba giảm ba tăng” là một gói kỹ thuật mở
để tùy địa phương, tùy điều kiện sản xuất của từng hộ mà áp dụng sao cho phù hợp.
Giảm lượng thuốc BVTV


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status