1
KT & PTNT Kinh tế và phát triển nông thôn
BVTV Bảo vệ thực vật
UBND Ủy ban nhân dân xã
TP Thành phố
RAT Rau an toàn
HTX Hợp tác xã
CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
ĐTH Đô thị hóa
CLĐ Công lao động
HDSD Hướng dẫn sử dụng
ĐVT Đơn vị tính
1
2
!
Trang
2
3
"
Trang
3
4
#
Trang
$#
4
5
nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như: Việc sản
6
xuất kinh doanh còn thủ công, thị trường tiêu thụ còn bó hẹp chưa phát triển,
người sản xuất hầu như chưa quyết định được giá sản phẩm, việc sử dụng
thuốc BVTV chưa đúng quy trình gây ô nhiễm môi trường nước, đất…và ảnh
hưởng đến chất lượng rau và nghề trồng rau tại phường chưa có thương hiệu
gây khó khăn cho việc tiêu thụ và định giá sản phẩm. Hiện nay mong muốn
của người dân là giải quyết được các vấn đề trên và xây dựng thương hiệu để
quảng bá rau cho phường.
Xuất phát từ những vấn đề trên được sự nhất trí của nhà trường, ban
chủ nhiệm khoa KT và PTNT dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TH.S
Nguyễn Hữu Giang tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô
hình sản xuất rau hàng hóa tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên”.
)*2*345,64/01
)*2*)*34,45
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của mô
hình sản xuất rau hàng hóa tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đó rút ra những kết luận và đề xuất một số giải
pháp đúng đắn có cơ sở khoa học.
)*2*2*343,7
Tìm hiểu tình hình kinh tế sản xuất rau tại phường Túc Duyên, thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, tính bền vững của mô hình.
Tìm ra những thuận lợi khó khăn trong sản xuất rau.
Đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn.
)*8*95,://01
)*8*)*95,:/;<5,=>.
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng
dụng kiến thức đó trong thực tiễn.
và còn là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế
[16].
- Trong thực tế để khái quát sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối
quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô
hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho
một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có một mô hình
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
- Do đó ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc
vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để
mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng
đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà có thể
thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng
9
nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được
bản chất của đối tượng nghiên cứu [6].
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm
tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và
sức lao động của con người. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng
minh sự phát triển của các công cụ sản xuất là yếu tố không thể thiếu được
cấu thành trong nền sản xuất. Từ những công cụ thô sơ này thay vào đó là
công cụ hiện đại, đã thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm
chi phí về lao động sống trên một đơn vị sản phẩm. Đó là một trong những
mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại.
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của
sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài
những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình sản xuất là hình mẫu
trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong các điều kiện sản
xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế [7].
giải quyết kịp thời.
- Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu
theo phương pháp thông kê.
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn.
- Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác
động.
!
"#$%: Là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự
án, để xem xét hoạt động hay dự án có thể thực hiện được hay không trong
điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực
hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của hoạt động hay
11
dự án để làm căn cứ cho phê duyệt xem dự án hay hoạt động có được đưa vào
thực hiện hay không.
"#&: Loại đánh giá này thường bao gồm các dạng
sau:
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá trong giai đoạn thực hiện, có thể là
đánh giá toàn bộ công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá
từng công việc ở từng giai đoạn nhất định.
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc dự án hay hoạt
động. Đây là đánh giá toàn diện tất cả hoạt động và kết quả của nó. Mục đích
của đánh giá cuối kỳ là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
- Đánh giá tiến độ thực thi: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai
thực hiện các hoạt động có đúng thời gian dự định hay không.
- Đánh giá tình hình chỉ tiêu tài chính: Là xem xét lại việc sử dụng kinh
phí chi tiêu tiền có đúng theo nguyên tắc đã được quy định không để có
những điều chỉnh phù hợp và rút ra kinh nghiệm.
- Đánh giá kỹ thuật dự án: Là việc xem xét lại những kỹ thuật mà dự
án đã đưa vào có phải là mới không? Quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có
đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không?
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay hoạt
động khuyến nông: Tổng thu, tổng chi, hiệu quả lao động, hiệu quả vốn.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của dự án hay hoạt động khuyến
nông đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường.
2*)*8*M4N4O
Hiệu quả là khái niệm chung dùng để chỉ kết quả hoạt động của các sự
vật hiện tượng bao gồm: Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường
13
01%)
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng
của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình
tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự
nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người.
Như vậy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn
lực đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mối quan
hệ này là thể hiện tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất. Với cách xem xét này,
hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về hiệu quả kinh tế, có thể khái
quát hiệu quả kinh tế như sau:
+ Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối
(thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Với cách biểu hiện này nó đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng
các nguồn lực sản xuất khác nhau. Từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của
các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh giá này là
không thể hiện được quy mô của hiệu quả kinh tế nói chung. Cách đánh giá
khác về hiệu quả kinh tế nữa là được đo bằng hiệu số giữa kết quả sản xuất
đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Như vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt
chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản
xuất xã hội. Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau
sẽ không giống nhau. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mục đích và yêu
2*)*P*M,Q5,R45,64
89:;*<$=->?
@;*.+?:Để xác định được tiềm năng phát triển nghề
trồng rau ở địa phương trước hết phải xác định chỉ tiêu về diện tích. Từ đó
biết được thực tế diện tích hiện có và diện tích có khả năng mở rộng sản xuất.
15
@;*<$A: Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu, bởi muốn
đánh giá được thực trạng sản xuất của một khu vực người ta thường xét đến
năng suất cây trồng. Thông qua đó có biện pháp đầu tư thích hợp tăng năng
suất.
@;*<$6B: Đây là chỉ tiêu có vai trò khách quan, quan
trọng trong việc phản ánh về mặt lượng của quá trình phát triển sản xuất.
89:;*<$1%)<>42C6
1
- Giá trị sản xuất (GO) được xác định là giá trị bằng tiền của toàn bộ
sản phẩm được sản xuất ra (thường là một năm) trên một đơn vị diện tích.
ni
GO = ∑Qi*Pi
i=1
Trong đó:
GO : Tổng giá trị sản xuất
Qi : Khối lượng sản phẩm loại i
Pi : Đơn giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian (IC) là toàn bộ các khoản chi phí, vật chất thường
xuyên và dịch vụ sản xuất. Trong quá trình sản xuất rau chi phí trung gian bao
gồm các khoản chi phí như: Giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất, thuốc
bảo vệ thực vật, cung cấp nước…
- Giá trị tăng thêm (VA) là phần giá trị tăng thêm của người lao động
khi sản xuất ra một đơn vị diện tích (thường tính trong một năm).
Vậy rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng, bữa ăn hàng ngày
của chúng ta và không thể thiếu được. Điều quan trọng là phải đảm bảo rau
sạch, không có vi khuẩn gây bệnh và các hoá chất độc nguy hiểm.
17
"IJ%)
Rau là nguyên liệu và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Vào những năm
1986 - 1990 kim ngạch xuất khẩu đã đạt trên 80 triệu rúp/năm. Hiện nay có
hơn 40 nước là thị trường rau của Việt nam, các mặt hàng rau xuất khẩu chủ
yếu là: Ớt cay, cà chua, dưa chuột…
Bên cạnh đó rau còn là nguyên liệu cung cấp cho các ngành thực phẩm:
Công nghiệp đồ hộp, công nghiệp bánh kẹo, công nghiệp sản xuất nước giải
khát, công nghiệp chế biến thuốc dược liệu, ngoài ra rau còn phát triển ngành
kinh tế khác như chăn nuôi.
"KL<$,52
Sản xuất rau góp phần sắp xếp lao động hợp lý, tăng thu nhập cho
người lao động, mở rộng thêm ngành nghề, giải quyết tốt việc làm cho nông
dân lúc nông nhàn.
Nghề trồng rau phát triển người nông dân có cơ hội được tiếp thu khoa
học kỹ thuật tiến bộ mới trong sản xuất từ đó góp phần nâng cao dân trí, thay
đổi tập quán canh tác lạc hậu từ bao đời nay của nông dân Việt Nam.
Như vậy, rau không chỉ là cây trồng xóa đói giảm nghèo mà còn là cây
trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, từ cây rau người nông dân có thể làm giàu
chính đáng trên mảnh đất của mình.
D#,-
Nghề trồng rau ở Việt Nam đã có từ lâu đời, nhân dân ta có nhiều kinh
nghiệm, người dân Việt Nam lại cần cù, do đó đáp ứng được yêu cầu cơ bản của
nghề trồng rau.
Công nghệ chế biến được củng cố và phát triển tạo điều kiện cho nghề
trồng rau vừa tăng về số lượng vừa tăng về chất lượng và mang lại hiệu quả cao
cho người sản xuất. Hàng loạt những tiến bộ khoa học công nghệ mới trong
(1,72%) nhưng lại cao hơn mức tăng năng suất trung bình hàng năm của cây
họ đậu (1,01%), cây lấy củ (0,67%) và cây ăn quả (0,27%).
19
Một điểm sáng trong việc nâng cao năng suất rau tươi chính là Brazil,
với mức tăng năng suất trung bình hàng năm đạt 2,57%; tiếp đến là các nước
đang phát triển ở châu Á (1,73%) và thấp nhất là khu vực cận Sahara ở châu
Phi, chỉ đạt 0,53% [17].
2*2*2*L,,L,FOT4-;/4,15,U/WM/J
Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời. Với đặc điểm khí hậu thích hợp
với các cây rau màu. Sản phẩm rau của Việt Nam rất đa dạng, từ các loại rau
nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến các loại rau xứ lạnh như su
hào, bắp cải, cà rốt
Những năm gần đây, nhiều loại rau ngoại du nhập vào Việt Nam cũng
đã được nhân giống, lai tạo, trồng thử và thích nghi được với điều kiện khí
hậu Việt Nam. Trong đó, có nhiều loại rau mang lại hiệu quả kinh tế cao như
rau bó xôi (hay còn gọi là rau chân vịt), cây gia vị wasabi (còn gọi là sa tế)
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập
cao và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương trú trọng đầu
tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), TP Hồ Chí Minh,
Lâm Đồng (Đà Lạt)…
"23</?> M=
$NO
Sản xuất rau ở Hà Nội: Năm 2005, tổng diện tích gieo trồng rau các
loại của TP Hà Nội có 8,1 ngàn ha, năng suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8
ngàn tấn.
Chủng loại rau rất đa dạng. Các loại rau ăn lá như: Cải xanh, rau
muống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi chiếm ưu thế về diện
tích và sản lượng (chiếm khoảng 70 - 80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao.
20
Tuy nhiên sản xuất rau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền
Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang: Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang
lên đến 30.000 ha, mỗi năm cho sản lượng xấp xỉ 450.000 tấn với tổng thu
nhập khoảng 150 tỷ đồng.
Vùng trồng nấm Tân Phước - Tiền Giang: Toàn huyện Tân Phước, tỉnh
Tiền Giang có khoảng 500 ha nấm rơm, chủ yếu trồng tập trung ở các xã Tân
Hoà Tây, Mỹ Phước, Phước Lập, Thạnh Mỹ, Tân Hoà Đông… giá nấm rơm
khoảng 18.000 - 20.000 đồng/kg, có khi lên đến 25.000 đồng/kg, vốn đầu tư
thấp, nguồn nguyên liệu sẵn có (rơm rạ), kĩ thuật đơn giản.
Vùng sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng: Diện tích trồng rau tại Lâm
Đồng năm 2005 đạt khoảng 27.315 ha, sản lượng 67.700 tấn, sản lượng xuất
khẩu khoảng 17.324 tấn. Chủng loại rau phong phú, có nhiều loại rau chất
lượng cao như cải bắp, cải thảo, súp lơ (chiếm 55 - 60%), nhóm rau ăn củ
chiếm 20 - 25% (khoai tây, cà rốt, củ dền), nhóm rau ăn quả chiếm 10 - 12%
(cà chua, đậu Hà lan ) [16].
Vậy qua số liệu về tình hình sản xuất rau tại Việt Nam cho ta thấy:
Diện tích, năng suất, sản lượng rau đã và đang rất phát triển, đáp ứng được
nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
2*2*8*L,,L,FOT4-;/4W.,XY5Z4,1,.,Q,
54
Rau là loại cây trồng đã được người dân nơi đây trồng và khai thác
nhiều năm, chủng loại rau rất đa dạng. Rau cũng là một trong những cây trồng
mang lại hiệu quả kinh tế cao, tại điaj bàn nghiên cứu đang thực hiện các mô
hình rau của dự án như: Rau 3 tầng, rau sạch nhưng chưa đưa đến cho người
dân kết quả cụ thể.
22
Đến năm 2011 toàn xã đã có 48,56 ha diện tích trồng rau. Các loại rau
được trồng nhiều ở phường trong giai đoạn hiện nay là: Bắp cải, su hào, cà
chua, khoai tay, đỗ ăn quả, súp lơ, Diện tích đất trồng rau đang bị thu hẹp
do quá trình ĐTH diễn ra mạnh mẽ. Nhưng năng suất rau được tăng lên, do
một số hộ sản xuất trong phường đã chuyển đổi từ mô hình trồng lúa hiệu quả
Toàn phường chia thành 7 khu dân cư trong đó có 24 tổ dân phố, 5 tổ
chức đoàn thể chính trị - xã hội, 7 tổ chức xã hội, 3 tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, các tổ chức hoạt động có hiệu quả góp phần hoàn thành các nhiệm vụ
chính trị, các chỉ tiêu kinh tế xã hội của địa phương.
Phường Túc Duyên có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, là đầu mối
quan trọng để giao lưu hàng hóa, văn hóa trong vùng. Tốc độ đô thị hóa ngày
càng phát triển. Do đó địa phương có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế xã
hội phù hợp với tình hình thực tế của địa phương từng bước phát triển kinh tế
chuyển dịch cơ cấu đúng hướng “Thương mại dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp
- Nông nghiệp’’.
#$%QJ
Phường Túc Duyên có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc
phân bố dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, so với địa hình chung
của thành phố Thái Nguyên địa hình dốc theo hướng từ phía Bắc xuống phía
Nam, nên đã tạo ra một số khu vực thấp trũng, nhất là khu vực đất canh tác ở
phía Nam, nhưng không có tác động nhiều đến các khu dân cư và sản xuất.
'R.S
Phường Túc Duyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 290,28 ha, trong
đó đất nông nghiệp có diện tích là 116,76 ha, chiếm 40,22%; đất phi nông
nghiệp có diện tích là 164,68 ha, chiếm 56,73% trong tổng diện tích đất tự
nhiên và còn lại là đất chưa sử dụng là 8,84 ha chiếm 3.04%.
Tổng diện tích đất nông nghiệp của phường Túc Duyên khá lớn 116,76 ha
là một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất hàng hóa, đặc biệt là nghề
trồng rau được phát triển mạnh xu thế phát triển bền vững.
Trong thời gian tới xu hướng diện tích đất nông nghiệp giảm dần, diện
tích đất chuyên dùng sẽ tăng lên do tốc độ của quá trình CNH - HĐH đang
diễn ra mạnh mẽ. Diện tích đất chưa sử dụng của phường là 8,84 ha. Vậy
24
trong những năm tới vùng phải có quy hoạch đồng bộ, đồng thời có những
biện pháp cụ thể để khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất.
100 290,2
8
100 100 100
I. Đất nông nghiệp 124,7
6
42,98 119,6
3
41,21 116,7
6
40,22 95,88 97,6
1. Đất trồng lúa 80,15 27,61 80,15 27,61 79,73 27,46 100 99,5
2. Đất trồng cây hàng năm khác 34,53 11,9 29,55 10,18 29,13 10,03 0,86 98,53
3. Đất nuôi trồng thủy sản 5,85 2,02 5,85 2,02 3,4 1,17 100 57,9
4. Đất lâm nghiệp 3,59 1,23 4,08 1,41 4,5 1,55 114,6 109,9
II. Đất phi nông nghiệp 156,5
6
53,93 161,6
9
55,7 164,6
8
56,73 103,3 101,9
1. Đất ở 75,12 25,87 77,15 26,58 79,81 27,5 102,7 103,5
2.Đất chuyên dùng 51,68 17.8 53,93 18,58 54,26 18.7 104,3
8
100,64
3.Đất phi nông nghiệp khác 29,76 10,25 30,61 10,54 30,61 10,54 102,8
2
100
III. Đất chưa sử dụng 8,96 3,08 8,96 3,09 8,84 3,04 100,3
2
tháng 7, 8, 9. Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn phường không có sự
chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm.
'Z<A: Phường Túc Duyên nằm chung trong hệ thống thủy văn của
thành phố Thái Nguyên nhưng tác động lớn nhất lên hệ thống thủy văn trên
địa bàn phường là Sông Cầu, nằm dọc danh giới phường theo hướng từ Bắc
sang Đông và Đông Nam, có vai trò quan trọng trong việc điều tiết và cung
cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của phường.
Vậy điều kiện khí hậu của địa bàn nghiên cứu nói chung là: Khí hậu
nóng ẩm, thuận lợi cho phát triển ngành trồng trọt nói chung và ngành trồng
rau nói riêng. Hơn nữa phường Túc Duyên có con Sông Cầu chảy qua nếu