Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang là nước nông nghiệp và hàng năm vẫn phải nhập khẩu một
lượng lớn phân hóa học. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng
11/2009, cả nước đã nhập 546.764 tấn phân bón các loại, trị giá 175.835 USD, tăng
98,7% về lượng và tăng 2,1 lần về trị giá so với tháng 10/2009 và tăng 7,7 lần về
lượng và 5,6 lần về trị giá so với tháng 11/2008. Tính chung 11 tháng đầu năm 2009,
cả nước đã nhập 4,1 triệu tấn với kim ngạch 1,3 tỷ USD, tăng 45,1% về lượng.
Ngoài lượng phân bón nhập khẩu thì ở trong nước cũng có một số nhà máy sản xuất
phân bón tuy nhiên lượng phân bón đó không đủ cung ứng cho thị trường và đảm
bảo tốt chất lượng. Sử dụng phân bón hóa học tuy giúp cây trồng phát triển nhanh
nhưng đã gây ra nhiều tác hại cho con người và môi trường. Mặt khác, chi phí để sử
dụng phân bón là lớn nên hiệu quả sản xuất của người nông dân là không cao.
Hà Nam là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, phần lớn người
dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Thanh Liêm là một huyện phía Nam của Hà
Nam, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn (86,1%) và chủ yếu vẫn sử dụng
phân hóa học để tăng năng suất cây trồng. Hàng năm, huyện vẫn phải dùng một
lượng phân hóa học lớn hơn 5.844 tấn [1]. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng phân
bón hóa học ngày càng nhiều đã làm cho đất đai bị thoái hóa và môi trường bị ô
nhiễm đồng thời ảnh hưởng gián tiếp tới sức khỏe của bà con nông dân. Bên
cạnh đó, phân bón hóa học chủ yếu là do nhập khẩu mà có nên giá thành lại cao,
chi phí người dân bỏ ra lớn. Một trong những yêu cầu hiện nay là làm sao cải tạo
được đất đai, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ môi
trường. Năm 2008, Dự án Môi trường và Cộng đồng (CEDO) thuộc Trung tâm
Phát triển Cộng đồng bền vững (S-CODE) đã hỗ trợ xây dựng mô hình sản xuất
và sử dụng phân vi sinh ở một số xã trên địa bàn huyện Thanh Liêm đã góp
phân vi sinh trong sản xuất nông nghiệp.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
- Đề tài nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất và sử dụng phân vi
sinh của các hộ nông dân trong huyện Thanh Liêm bao gồm:
+ Những hộ có áp dụng mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh dưới sự
hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,
Thanh Hà, Liêm Tuyền.
+ So sánh với những hộ không áp dụng mô hình sản xuất và sử dụng phân
vi sinh của Dự án Môi trường và Cộng đồng trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,
Thanh Hà, Liêm Tuyền.
- Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận một số cán bộ huyện, xã có liên quan đến triển
khai mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh trên địa bàn 3 xã Thanh Tuyền,
Thanh Hà, Liêm Tuyền.
- Các cán bộ chuyên môn phụ trách của Dự án Môi trường và Cộng đồng tại
huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nôi dung
Nội dung chủ yếu của đề tài là đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi
trường của mô hình sản xuất và sử dụng phân vi sinh ở các hộ nông dân được sự
hỗ trợ của Dự án Môi trường và Cộng đồng tại 3 xã Thanh Hà, Thanh Tuyền và
Liêm Tuyền của huyện Thanh Liêm.
1.4.2 Phạm vi về không gian
Như vậy, phân vi sinh là sản phẩm có chứa nhiều VSV có ích được
sử dụng cho cây trồng làm tăng năng suất, chất lượng nông sản đồng thời
góp phần cải tạo đất đai, bảo vệ môi trường.
2.1.1.3 Khái niệm về phân hữu cơ
- Phân hữu cơ là tất cả các loại chất hữu cơ vùi vào đất sau khi phân
giải có khả năng cung cấp thức ăn cho cây trồng và cải tạo đất bao gồm:
phân bắc, nước giải, phân gia súc, gia cầm,…
- Phân vi sinh khác phân hữu cơ, hóa học.
4
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
Bảng 2.1 So sánh sự khác nhau giữa phân hữu cơ và phân vi sinh [9]
Tiêu chí
Phân hóa học
là những hóa chất có chứa
Khái niệm
các nguyên tố dinh dưỡng,
Môi
được bón cho cây trồng
Gây chai cứng đất và ô
phát triển nhanh
trưởng phát triển tốt
trồng chậm hơn
Không cao và ngắn
Thấp hơn phân vi sinh
Cao hơn và lâu dài
(Nguồn: Bài giảng Phân bón của Đặng Thanh Phong, 2008)
2.1.1.4 Khái niệm đánh giá
- Đánh giá là công việc định kỳ, phân tích sâu các công việc. Nó dựa
vào dữ liệu được tạo ra thông qua các hoạt động giám sát cũng như các
nguồn thông tin khác (các bài học, nghiên cứu, phỏng vấn sâu, thảo luận tập
trung theo nhóm, điều tra bảng hỏi,…). Các đánh giá thường được tiến hành
với sự trợ giúp từ người đánh giá bên ngoài.
- Đánh giá là quá trình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan
một dự án, chương trình hoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã
hoàn thành từ giai đoạn thiết kế đến triển khai và các kết quả đạt được. Mục
đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành các
mục tiêu, tính hiệu quả, tác động và tính bền vững. Quá trình đánh giá cần
cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài
học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của các nhà tài trợ và của đối
tượng tiếp nhận tài trợ [1].
2.1.1.5 Khái niệm hiệu quả kinh tế
lực tự nhiên và những phương pháp quản lí hữu hiệu, nó được thể hiện
bằng hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất
phù hợp với các yêu cầu của xã hội” là phù hợp nhất với đề tài nghiên cứu
6
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
này. Đây là khái niệm cho thấy khi đánh giá mô hình cần xem xét tới
những yêu cầu của xã hội. Mà cộng đồng luôn có mong muốn được phát
triển bền vững. Mặt khác khái niệm về hiệu quả xã hội và hiệu quả môi
trường đã làm rõ hơn các mục tiêu mà một mô hình tốt cần đạt được.
* Hiệu quả xã hội: là kết quả các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh
công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hôi. Cùng với hiệu quả kinh tế,
hoạt động sản xuất còn tạo ra nhiều kết quả liên quan tới đời sống xã hội
như: công ăn việc làm cho người lao động, tăng mức hưởng thụ cuộc sống,
sức khỏe, y tế được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần được nâng
cao,...
* Hiệu quả môi trường: là một hiệu quả mà đang được các nhà quản lý
quan tâm. Một hoạt động được cho là có hiệu quả thì hoạt động đó phải
không gây ra ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái. Hiệu quả môi trường
được đánh giá bằng các chỉ tiêu như: bảo vệ đa dạng sinh học, tạo cảnh
quan môi trường sạch, tạo bầu không khí trong lành, tăng cường cải tạo
môi trường đất,...
Như vậy qua các khái niệm trên ta thấy để đánh giá được hiệu quả
của một mô hình thì cần phải xem xét nó trên các khía cạnh kinh tế, xã hội
và môi trường. Hiệu quả kinh tế luôn được những người thực hiện mô hình
Phân bón vi sinh vật là sản phẩm chứa VSV sống, đã được tuyển chọn có
mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của
chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K,
S, Fe,...) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng
nông sản. Phân vi sinh (PVS) phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến
người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản (TCVN
8
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
6168-2002). Tuỳ theo công nghệ sản xuất người ta có thể chia phân vi sinh thành
hai loại:
+ PVS trên nền chất mang khử trùng (chế phẩm VSV) là sản phẩm được
tạo thành từ sinh khối VSV tuyển chọn và cơ chất (chất mang) đã tiệt trùng, có
mật độ vi sinh hữu ích > 10 9 VSV/g(ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn
1/1000 so với VSV hữu ích. Phân bón dạng này được sử dụng dưới dạng nhiễm
hạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lít/ha) canh tác .
+ PVS trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm
nhiễm trực tiếp sinh khối VSV hữu ích vào cơ chất không cần thông qua công
đoạn khử trùng. Phân bón dạng này có mật độ VSV hữu ích >10 6VSV/g (ml) và
được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng ngàn kg (lít)/ha. Trên cơ sở tính
năng tác dụng của các chủng loại VSV sử dụng, phân bón VSV còn được gọi
dưới các tên:
PVS cố định nitơ (phân đạm vi sinh) chứa các VSV sống cộng sinh với
cây bộ đậu, hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả
năng sử dụng nitơ từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây
Phương pháp sản xuất khí sinh học (Biogas) - ủ yếm khí
Cơ sở của phương pháp này là nhờ hoạt động của vi sinh vật mà các chất
khó phân hủy (xenluloza, hemixenluloza, lignin,…) chuyển thành dễ phân hủy.
Sau đó lại được chuyển hóa tiếp thành các chất khí trong đó chủ yếu là metan [6].
- Ưu điểm: thu lại được một loạt các chất khí có thể cháy được và cho
nhiệt lượng cao, sử dụng làm chất đốt, không ô nhiễm môi trường. Phế thải sau
khi lên men được chuyển hóa thành phân hữu cơ có chất dinh dưỡng cao có thể
bón cho cây trồng.
- Nhược điểm: khó lấy chất thải sau khi lên men. Là quá trình kỵ khí nên
bắt buộc việc thiết kế bể ủ phức tạp, vốn đầu tư khá lớn.
Phương pháp ủ phế thải thành đống, lên men tự nhiên có đảo trộn
Phế thải sau khi phân loại được chất đống có chiều cao từ 1,5-2,0m đảo
trộn mỗi tuần 1 lần. Nhiệt độ đống ủ là 55-60 oC, độ ẩm 50-70%. Sau 3-4 tuần
tiếp theo ủ thành đống không đảo trộn [7].
10
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
- Ưu điểm: đơn giản, dễ làm.
- Nhược điểm: mất vệ sinh gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.
Phương pháp ủ phế thải thành đống không đảo trộn và có thổi khí
Phế thải được chất thành đống cao từ 1,5-2,0m. Phía dưới được lắp đặt
một hệ thống phân phối khí. Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức mà quá trình
chuyển hóa nhanh hơn, nhiệt độ ổn định hơn, ít ô nhiễm hơn.
Phương pháp này khá tốn kém.
Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học càng ngày người
ta càng nhận thấy tính ưu việt của phân vi sinh được chế biến từ các loại phế
thải, rác thải. Những quy trình ủ này không những làm sạch môi trường, các phế
thải không còn được coi là phế thải độc hại nữa, mà được coi là nguồn nguyên
liệu có thể tái chế làm phân ủ vi sinh và có tác dụng cải tạo đất tốt. Sản phẩm của
cây trồng được làm an toàn hơn, giá thành cho người sử dụng rẻ hơn, phù hợp
với khả năng tài chính của nhiều quốc gia hiện nay.
Các phương pháp xử lý đó được thống kê thành sơ đồ sau:
Phương pháp đổ
thành đống rác tự
nhiên
Phương pháp ủ
làm phân
Phương pháp sản
Chất thải hữu cơ từ
nguồn động vật và
thực vật
Phương pháp chôn lấp
Phương pháp thiêu
đốt
xuất biogas
Phương pháp Xử lý
công nghiệp
Sơ đồ 2.1 Các phương pháp xử lý chất thải hữu cơ
Như vậy, mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm khác nhau, nhưng xét
về mặt cộng đồng cũng như cá nhân thì phương pháp ủ phân vi sinh là phương
pháp tốt nhất. Làm tốt phương pháp này có thể giải quyết các vấn đề kinh tế: tiết
Ủ thổi khí
Sàng
Ủ chín
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất phân vi sinh ở Cầu Diễn, Hà Nội
Quy trình này mất thời gian 2,0-2,5 tháng để cho ra sản phẩm cuối cùng.
Năm 1993, tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã xây dựng thành công quy
trình ủ kỵ khí nhờ vi sinh vật tự nhiên với quy trình:
Phế thải
Đóng gói
Ủ đống cao 2m, độ ẩm 60 70%, phủ ái bằng than bùn dày
10 – 20cm
Sấy
ủ (2-3 tháng)
Vò viên thêm vi
lượng
Sàng khô
Vun đống ủ tiếp 2
Trộn N, P, K
tuần
Sơ đồ 2.3 Quy trình sản xuất phân vi sinh ở Tp. Hồ Chí Minh
13
động đến cây trồng trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự tác động trực tiếp của VSV, đến cây
trồng thể hiện qua sự tổng hợp, khoáng hoá hoặc chuyển hoá các chất dinh dưỡng
14
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
xảy ra trong quá trình chuyển hoá vật chất của VSV như quá trình cố định nitơ, phân
giải lân, sinh tổng hợp auxin, giberellin, etylen,... Những vi khuẩn này có khả năng
giúp cây trồng tăng khả năng huy động và dễ dàng sử dụng các nguồn dinh dưỡng từ
môi trường. Tác động gián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng xảy ra khi các chủng
VSV có khả năng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn các ảnh hưởng có hại từ môi trường
hoặc từ các VSV bất lợi đối với thực vật.
- Sử dụng phân vi sinh có lợi cho sức khỏe người dân: người dân khi sử dụng
phân vi sinh sẽ tránh được sự độc hại do khi sử dụng phân hóa học gây ra vì thế sức
khỏe của người dân được đảm bảo, tăng chất lượng cuộc sống.
- Cải tạo tăng độ phì nhiêu của đất với hệ VSV có ích có trong phân vi sinh
khi được bón vào đất sẽ làm tăng dinh dưỡng trong đất giúp cây trồng sinh trưởng và
phát triển tốt.
- Giảm lượng rác thải và bảo vệ môi trường: Trong quá trình sản xuất phân vi
sinh một lượng rác thải sẽ được thu gom và phân loại, xử lý để đem đi ủ phân nên sẽ
góp phần giảm lượng rác thải bảo vệ môi trường.
Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là tạo ra các sản phẩm phân vi sinh
giàu dinh dưỡng có bổ sung VSV hữu ích. Để góp phần phát triển nông nghiệp bền
vững, nhiều quốc gia trên thế giới đã khuyến khích người dân sử dụng phân bón sinh
học bằng cách trợ giúp giá bán cho nông dân, đồng thời phát triển mạng lưới khuyến
nông, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng các mô hình trình diễn trên đồng
của men có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng phân vi sinh làm ra. Vì vậy để nâng
cao chất lượng phân sản xuất ra thì cần lựa chọn loại men có chất lượng tốt.
- Kỹ thuật của người sản xuất vi sinh: trong quá trình làm phân thì đòi hỏi
có những kỹ thuật như đảo phân, giữ nhiệt độ và độ ẩm của đống ủ. Người dân
càng làm tốt các kĩ thuật này thì khi sản xuất phân vi sinh sẽ mang lại hiệu quả
cao hơn.
- Nguyên liệu làm phân vi sinh chủ yếu là rác hữu cơ, rơm rạ và bèo tây.
Tuy nhiên, nguyên liệu để làm phân vi sinh còn chưa nhiều nên muốn sản xuất
16
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
liên tục là khó. Vì vậy để đảm bảo được lượng phân vi sinh sản xuất ra đáp ứng
đầy đủ nhu cầu cần phải chuẩn bị nguyên liệu thật tốt hơn, điều này phụ thuộc
nhiều vào công tác phân loại rác thải tại nguồn để có đủ nguồn nguyên liệu.
- Thời gian sản xuất phân vi sinh: theo các quy trình khác nhau thì có
thời gian khác nhau. Tuy nhiên, thời gian sản xuất phân vi sinh còn ảnh hưởng
tới khả năng phân giải các chất hữu cơ. Vì thế, cần lựa chọn quy trình có thời
gian sản xuất phân vi sinh phù hợp với lịch mùa vụ của cây trồng.
2.1.6.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng phân vi sinh
- Điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết của nơi sử dụng. Mỗi vùng miền
sẽ có điều kiện thời tiết khác nhau, sử dụng phân vi sinh vào thời điểm thích
hợp, có điều kiện thời tiết thuận lợi sẽ giúp cho hiệu quả sử dụng PVS tăng
lên. Đối với phân vi sinh khi bón cần tránh mưa lớn vì phân vi sinh rất dễ bị
trôi do tràn nước.
- Chất lượng của phân vi sinh ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng phân vi
Warksman và các cộng tác viên nghiên cứu sự phân huỷ hiếu khí bã thực vật,
động vật. Ông đã kết luận nhiệt độ và các nhóm vi sinh vật có ảnh hưởng đến sự
phân huỷ chất thải hữu cơ [6].
- Ở Mỹ vào những năm 1942, Rodale J.I đã kết hợp các nghiên cứu của
Horward với thực nghiệm của mình và đã đưa ra phương pháp hữu cơ trong
trồng trọt, làm vườn. Phương pháp này cũng đã được rất nhiều nước trên thế giới
áp dụng và thu được kết quả khá khả quan. Khi áp dụng phương pháp này ở
trang trại của mình người dân Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ đều nhận thấy rằng ban
đầu năng suất có giảm đi nhưng đã ổn định qua vài năm thì lợi nhuận tăng
lên rỗ rệt vì đã giảm được chi phí đáng kể khi không phải sử dụng hoá chất
trong nông nghiệp.
- Ở Canada, Golass và cộng sự (1950-1952) đã nghiên cứu các nguyên tắc
cơ bản của phân ủ hỗn hợp rác thải và bùn cống. Kết quả cho thấy, các tác nhân
môi trường như: nhiệt độ, độ thoáng khí, kích thước cơ chất, tần số đảo trộn đặc
biệt là tỷ lệ Cacbon/Nitơ của nguyên liệu thô có liên quan đến hiệu quả của việc
18
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
ủ phân. Đến năm 1980, Haug đã đưa ra kết luận về việc làm phân ủ như sau: ủ
chất thải là quá trình phân giải sinh học các chất hữu cơ dẫn tới sự ổn định khối ủ
trong tồn trữ và sử dụng như một dạng phân hữu cơ [6].
Sử dụng các VSV để sản xuất chế phẩm sinh học xử lý rác thải, phế thải,
tàn dư thực vật người ta nhận thấy khi phối trộn vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn với tỷ
lệ 1:1:1, thì cho hiệu quả xử lý cao nhất. Sử dụng chế phẩm sinh học có tác dụng
rất tốt trong sản xuất nông nghiệp và cải tạo đất bạc màu làm tăng độ phì nhiêu
tập quỹ gen. Các VSV sử dụng trong nghiên cứu và sản xuất phân bón bao gồm
các sinh vật cố định nitơ sống cộng sinh với cây bộ đậu (Rhizobium,
Bzadyrhizobium), sống tự do trong đất, nước (Azotobacter, Clostridium,
Arthrobacter, Klebsiella, Serratia, Pseudomonas, Bacillus, vi khuẩn lam... hay
sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng (Azospirillum), VSV phân giải lân
(Bacillus, Pseudomonas, Penicillium, Aspergillus, Fussarium, Candida), VSV
phân giải xelluloza (Trichoderma, Chetomium, Aspergillus, Gliogladium...),
VSV sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật (Agrobacterium,
Flavobacterium, Bacillus, Enterobacter, Azotobacter, Gibberella...) và các VSV
đối kháng VSV gây bệnh vùng rễ cây trồng.
Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh
học giai đoạn 1991-2000, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã phối
kết hợp cùng gần 20 cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng và triển khai thành
công các quy trình sản xuất phân vi sinh cố định nitơ, phân vi sinh phân giải lân,
phân vi sinh hỗn hợp cố định nitơ và phân giải lân. Sản phẩm phân vi sinh được các
hội đồng khoa học nghiệm thu, đánh giá và công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Sản xuất
phân vi sinh từ rác thải và bèo tây thì phân vi sinh là các chế phẩm chứa các VSV
sống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn. Thông qua các hoạt động, các VSV tạo ra
các chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng làm cho cây trồng phát triển tốt hơn. Sử
dụng phân vi sinh có thể thay thế được lượng phân đạm và phân lân hóa học từ 50
đến 100% tùy theo từng loại cây trồng. Hơn thế khi sử dụng phân vi sinh nông sản
không bị nhiễm độc, lượng độc tố NO3 tồn đọng trong sản phẩm giảm đáng kể. So
20
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
(tháng 7-
Ngô
- Giai đoạn gieo hạt
- Giai đoạn 3-4 lá
Cây chè
Lượng phân bón
8)
Thay thế phân hóa
học
50-100% lượng urê
và lân
50% lượng phân urê
70% lượng phân urê
100% lượng phân urê
10kg/sào Bắc bộ
2kg/sào mạ cấy
50% lượng urê và lân
(10-15kg/sào Bắc
50-100% lượng phân
bộ)
Kết quả của nghiên cứu trên cho thấy hiệu quả phân giải cao, hạn chế
được mùi hôi thối của đống ủ đồng thời rút ngắn được thời gian ủ xuống còn 4560 ngày. Phân vi sinh được tái chế từ phế thải sau ủ bón cho cây trồng có tác
dụng làm tăng năng suất và giảm tác hại của sâu bệnh.
Thu gom tàn
dư thực vật
( xử lý, loại bỏ
tạp chất)
Chế phẩm VSV
Bổ sung phụ gia
NPK
Đống ủ
Theo dõi diễn
biến nhiệt độ
đống ủ
Đống ủ sau
30 ngày
Tái chế làm phân
hữu cơ
Bổ sung nước
đảm bảo độ ẩm
50-70%
Kiểm tra chất
lượng phân giải
Bổ sung thêm
NPK
phân giải như xenluloza, hemixenluloza cao, có khả năng sinh tổng hợp các
enzim ngoại bào như amylaza, proteinaza, pectilaza…. Khi nghiên cứu tác động
của vi sinh vật vào quá trình phân hủy rác, tác giả nhận thấy khi chúng tác động
đồng thời theo tỷ lệ phối trộn giữa xạ khuẩn, vi khuẩn và nấm sợi là 1:1:1 sẽ cho
hiệu quả cao hơn khi chúng có tác động riêng rẽ. (dẫn theo Nguyễn Xuân Thành)
[5].
Phế thải sau ủ được tái chế làm phân hữu cơ vi sinh bón cho cây lạc và rau cải
trắng trên diện tích rộng, hiệu quả như sau:
+ Đối với cây lạc: năng suất thực thu ở vụ Xuân tăng 16,7%, vụ Hè tăng
12,6%, vụ Đông tăng 11,5% so với đối chứng.
+ Đối với rau cải trắng: năng suất tăng 12% so với đối chứng, hàm lượng
đường tổng số tăng 11,5%, vitamin tăng 11,9%, NO3 giảm 5%.
Năm 1999, đề tài cấp Bộ B99-32-46 Nguyễn Xuân Thành và các cộng sự đã
nghiên cứu thành công đề tài: “Xử lý rác thải sinh hoạt và phế thải bùn mía bằng
23
Khóa luận tốt nghiệp đại học
SV. Võ Thị Thu KN_K51
vi sinh vật bón cho cây trồng”. Kết quả cho thấy hàm lượng chất dinh dưỡng dễ
tiêu và độ xốp tăng so với đống ủ không được xử lý, phân hữu cơ được tái chế từ
phế thải đạt TCVN 132B-1996, chất lượng phân sau 4 tháng vẫn đạt TCVN.
Năm 1999, khi nghiên cứu đề tài: “Sử dụng vi sinh vật có hoạt tính phân giải
xenluloza cao, để nâng cao chất lượng phân hủy rác thải sinh hoạt và nông
nghiệp”. Tác giả chi thấy khi xử lý các vi sinh vật có hoạt tính phân giải
xenluloza cao và đống ủ rác thải có tác dụng rút ngắn thời gian ủ xuống còn
77,6% so với đối chứng. Hàm lượng mùn tạo thành của bể ủ có bổ sung chế
0,52
0,95
0,47
TN
5,58
0,09
0,12
0,67
1,05
0,52
128,57
112,5
120
128,85
110,53
từ 12-25% so với công thức đối chứng.
+ Đối với cà phê: giảm tỷ lệ quả rụng đáng kể, tăng năng suất từ 11-19%
so với đối chứng.
+ Đối với cây cao su: tăng tỷ lệ mủ sau một lần cạo mủ.
Qua đó người ta cũng tính được lãi suất tăng khi sử dụng phân hữu cơ vi
sinh là 5,35% đối với mía; 5,63% đối với cây ngô; 4,3% đôi với cây bông;
5,97% đối với cây cà phê và 1,59% đối với cây cao su.
Năm 2000, Lê Văn Nhượng và các cộng sự đã nghiên cứu thành công đề
tài: “Công nghệ xử lý một số phế thải nông sản chủ yếu (lá mía, vỏ thải cà phê,
rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh học”. Kết quả nghiên cứu đã
phân lập và tuyển chọn được 7 chủng vi khuẩn, 6 chủng xạ khuẩn và 11 chủng
nấm sợi có hiệu lực xenlulaza cao và xác định được rằng khi các loại vi sinh vật
này phối trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp sẽ cho hiệu suất phân giải là cao
nhất. Đồng thời khi ứng dụng các loại chế phẩm có hiệu lực phân giải cao này
vào đống ủ lá mía, vỏ cà phê, rác thải sinh hoạt người ta thấy thời gian phân hủy
được rút ngắn xuống, thành phẩm sau ủ có hàm lượng chất dinh dưỡng dễ tiêu
đối với cây trồng cao hơn so với đống ủ đối chứng không qua xử lý. Phân hữu cơ
25