Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là loại thực phẩm quan trọng không thể thiếu được trong đời sống con
người, rau cung cấp vitamin A, B, C, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như
Ca, P, Fe, muối khoáng và chất xơ rất cần cho sự phát triển của cơ thể con người.
Mặc dù chất xơ không tiêu hóa hấp thu được, không cung cấp năng lượng, nhưng
nó tạo ra khối lượng chất thải lớn trong ruột, làm tăng nhu động ruột, chống táo
bón. Khẩu phần ăn mà thiếu chất xơ cũng tăng tỷ lệ ung thư tiêu hóa, đại tràng, gây
xơ vữa động mạch. Ngoài ra, chất xơ còn thúc đẩy sự hấp thu của cơ thể đối với 3
nhóm thức ăn là đạm, béo, đường. Rau là loại thức ăn rẻ tiền nhưng lại có vai trò
dinh dưỡng rất cao.
Ở các nước phát triển trên thế giới như Hà Lan, Pháp, Mỹ,… công nghệ sản
xuất rau quả sạch được hoàn thiện ở trình độ cao, rau sản xuất trong nhà lưới, nhà
kính và công nghệ thủy canh đạt được năng suất cao, chất lượng được kiểm soát.
Sản xuất rau an toàn ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến thủ đô Hà
Nội và Tp. HCM vào năm 1996, 1997, sau đó chương trình rau an toàn được mở
rộng ra một số tỉnh khác như: Vĩnh phúc, Hải Phòng, Đồng Nai… Hiện nay, đã có
trên 30 quy trình trồng rau an toàn được ban hành dễ hiểu, dễ áp dụng. So với
những năm đầu 1996 -1997 thì hiện nay chủng loại rau cao cấp được sản xuất theo
quy trình trên gia tăng như Ớt ngọt, cải bắp trái vụ, dưa chuột bao tử, súp lơ xanh,
măng tây, cà chua ăn tươi và cả một số loại rau gia vị…
Văn Lâm là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên, giáp ranh với huyện Gia
Lâm - Hà Nội với lợi thế có đường Quốc lộ 5 chạy qua và gần đây hình thành khu
công nghiệp chạy dọc theo Quốc lộ 5, Đường 19, Đường 206. Vốn là một huyện
nông nghiệp, hiện tại diện tích đất nông nghiệp của Văn Lâm còn trên 3.500 ha đất
màu mỡ, rất thuật lợi cho việc cấy lúa và trồng rau, màu. Tại đây đã hình thành
vùng chuyên canh rau, màu với diện tích hàng trăm ha, tập trung ở một số xã như:
Tân Quang, Lạc Đạo, Như Quỳnh,… với hệ số quay vòng đất 4 - 5 lứa rau/năm.
Các chủng loại rau chính được sản xuất là su hào, cải bắp, súp lơ, cà chua, rau gia
vị,… Thị trường tiêu thụ khá ổn định tại địa phương, Hà Nội. Hàng năm, Văn Lâm
- Đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn
tại địa phương từ 2005 - 2008.
- Phân tích tác động xã hộ của mô hình.
- Đánh giá được tính bền vững của mô hình.
- Đề ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản
xuất rau an toàn tại thôn Ngô Xuyên - thị trấn Như Quỳnh - Văn Lâm - Hưng Yên.
2
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
2.1.1. Những vấn đề chung về mô hình
2.1.1.1. Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và
phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp
cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế riêng được sử dụng
trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong các phương pháp nghiên
cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung
và cách hiểu riêng. Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là vật cùng hình
dạng nhưng thu nhỏ lại. Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô
phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu [13]. Khi mô
hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn
đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu [20]. Mô hình
cũng được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu [2] và cũng là kiểu
mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.
Như vậy, mô hình có thể các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó là tuỳ
thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người
ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu [5].
Trong thực tế, để khái quát hoá các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối
quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có
pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể. Nó giúp cho các nhà
khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hoá hệ thống. Nhờ các mô hình ta có thể kiểm
tra laị sự đúng đắn của các số liệu quan sát được và các giả định rút ra. Nó giúp ta
hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp. Và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta
lựa chọn quyết định tốt nhất về quản ký hệ thống, giúp ta chọn phương pháp tốt
nhất để điều khiển hệ thống.
Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng người nông dân có thể
đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại
một khu vực nào đó. Từ đó đưa ra được quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối
đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đó có.
2.1.1.3. Các nhân tố trong mô hình sản xuất rau an toàn
Các nhân tố trong mô hình sản xuất rau an toàn gồm chủ thể sản xuất và
khách thể sản xuất.
4
Tác
động
Giữa chủ thể và khách thể sản xuất có một mối liên hệ, mối liên hệ đó thể
hiện bằng mức độ tác động giữa chủ thể và khách thể. Sự mô phỏng mô hình sản
xuất RAT được thể hiện qua hình 2.1:
Môi trường sản xuất
Tự nhiên KT- XH Kỹ thuật
Hình 2.1: Sơ đồ mô phỏng các nhân tố tham gia mô hình sản xuất RAT
- Chủ thể sản xuất:
Mô hình sản xuất nói chung và mô hình sản xuất rau an toàn nói riêng là một
chỉnh thể thống nhất, mọi tác động vào mô hình đều có xu hướng tập chung vào chủ
thể sản xuất. Do đó, chủ thể sản xuất là bộ phận giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các
hoạt động của mô hình, chủ thể ở mô hình sản xuất RAT là các chủ hộ và các thành
viên tham gia mô hình sản xuất RAT. Chủ thể trực tiếp điều tiết các hoạt động sản
xuất và đưa ra các quyết định của mô hình.
- Khách thể sản xuất:
- Đánh giá là so sánh những gì đó thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và
những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đó đạt được.
- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động
khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.
- Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:
+ Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:
Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không.
Mức độ mà mô hình đó đạt được so với mục tiêu đặt ra thông qua các hoạt
động đó chỉ ra trong tài liệu của mô hình.
+ Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách có hệ
thống các kết quả và hiệu quả của mô hình. Nó cũng điều tra những vấn đề có thể
làm chậm tiến độ thực hiện nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời.
+ Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu theo
phương pháp thống kê.
+ Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn.
+ Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động.
2.1.2.2. Các loại đánh giá
Đánh giá có nhiều dạng khác nhau. Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3 loại
chính như sau:
Đánh giá tiền khả thi/khả thi:
- Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của mô hình, để xem xét xem
liệu mô hình có thể thực hiện được hay không trong điều kiện nhất định. Loại đánh
giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả
6
năng thực hiện của mô hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt mô hình có
được đưa vào thực hiện hay không.
Đánh giá thực hiện:
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá
toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công
việc ở từng giai đoạn nhất định. Tùy theo loại mô hình
Tổng kết:
Thông thường sau khi kết thúc một mô hình, người ta tổ chức hội nghị tổng
kết để cùng nhau nhìn nhận lại quá trình thực hiện, đánh giá về những thành công hay
chưa thành công, phân tích các nguyên nhân gây thất bại, lấy đó làm các bài học để
tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình tiếp theo.
Tổ chức hội nghị tổng kết thường bao gồm các việc sau:
- Xác định những người tham gia
- Thành lập Ban tổ chức hội nghị
- Công tác chuẩn bị hội nghị
- Các nội dung chính của hội nghị
Trong tổng kết, một văn kiện quan trọng cần được chuẩn bị và thông qua đó là
báo cáo tổng kết. Báo cáo tổng kết cần đạt mục tiêu:
- Đánh giá thành tựu, các hoạt động đó hoàn thành, đồng thời phân tích các
thiếu sót, tồn tại, để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Mục tiêu, kế hoạch cho giai đoạn kế tiếp.
2.1.2.3. Tiêu chí đánh giá
Khái niệm tiêu chí:
- Khái niệm tiêu chí: Tiêu chí như là một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có thể
định lượng được dựng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay một dự án nào đó.
Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá.
- Đối với các chỉ tiêu mang tính định lượng.
Là các tiêu chí có thể đo đếm được, các chỉ tiêu này thường được sử dụng để
kiểm tra tiến độ công việc. Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể được thực hiện
qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra hoặc phỏng vấn cũng có thể đo
lường trực tiếp trên đồng ruộng và trên hiện trường: sự sinh trưởng của cây trồng,
tăng trọng của vật nuôi, năng suất cây trồng…
- Đối với các chỉ tiêu định tính
Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được. Nhóm chỉ tiêu này thường phản ánh chất
lượng của công việc dựa trên định tính nhiều hơn: cây sinh trưởng chậm hay nhanh,
màu quả đẹp hay xấu việc xác định các chỉ tiêu này thường thông qua phỏng vấn,
- Mục đích và kết quả của mô hình đó đạt được hay có thể đạt được tới mức
độ nào?
- Tính hiệu quả mô tả các kết quả đạt được tốt như thế nào để giúp cho việc
đạt tới mục đích của mô hình.
9
Tính bền vững
- Các yếu tố được đánh giá là bền vững là: môi trường chính sách, tính khả thi
về kinh tế - tài chính, năng lực thể chế, khía cạnh văn hóa - xã hội, sự tham gia, quyền
sở hữu, vấn đề giới, môi trường và công nghệ thích hợp?
- Điều gì sẽ diễn ra đối với các tác động tích cực của mô hình sau khi sự hỗ
trợ từ bên ngoài kết thúc?
Tại địa phương đã có các chính sách hỗ trợ kinh phí cho sự phát triển sản xuất
rau an toàn: kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng (xây cống, làm đường điện phục vụ sản
xuất, khoan giếng, nhà lưới, nhà chờ), hỗ trợ kỹ thuật của Viện nghiên cứu rau quả.
Tính hiệu lực
Hiệu lực của một mô hình nào đó là giới hạn tác động của nó theo thời gian,
không gian (lãnh thổ) và phạm vi đối tượng của mô hình.
2.1.3. Hiệu quả sản xuất
Là sự phản ánh chung giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra mối quan hệ mật thiết
giữa chúng. Hiệu quả sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực có sẵn tại cơ sở trong một điều kiện nhất định để đạt được hiệu quả
cao với chi phí thấp. Hiệu quả sản xuất có hai mặt của nó được xác định bằng chi
phí sản xuất và kết quả sản xuất thu được trong một lĩnh vực nhất định, hiệu quả sản
xuất được xác định bằng nội dung kinh tế xã hội. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản
xuất chính là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế.
2.1.3.1. Hiệu quả kinh tế và bản chất của nó
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội
phải xuất phát từ những luận điểm của triết học Mác và những luận điểm của thuyết
hệ thống.
Bản chất của hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là sự thực hiện yêu cầu của
được khối lượng quy mô mà người sản xuất đạt được cũng như kết cấu tốc độ phát
triển của loại rau an toàn. Tuy nhiên khi tiến hành sản xuất chúng ta phải căn cứ vào
mục tiêu do xã hội đặt ra bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường hiện này thì điều quan
tâm nhất của các nhà sản xuất ra những loại rau an toàn với chi phí ít nhất mà đem
lại hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả kinh tế được tính bằng cách so sánh kết quả sản xuất thu được với
lượng chi phí để sản xuất ra sản phẩm rau an toàn đó.Thể hiện qua dạng thức thứ
nhất của hiệu quả sau:
H =Q/C Max
Trong đó - H hiệu sản xuất
- Q là kết quả sản xuất (có thể là sản lượng, giá trị sản xuất, giá
trị gia tăng, lợi nhuận)
- C là tổng chi phí sản xuất
11
Ý nghĩa: cho biết 1 đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng doanh thu,
lợi nhuận.
Hiệu quả kinh tế là tối ưu khi đưa ra giá trị chỉ tiêu đó đạt đến cực đại (H đạt
giá trị cực đại thì hoặc là tăng Q hoặc giảm C hoặc đồng thời tăng Q và giảm C.
Trong trường hợp sản xuất rau an toàn để H đạt cực đạt thì Tăng Q và giảm C là
phương án khá thi làm cho lợi nhuận của người sản xuất rau an toàn tăng và chi phí
sản xuất giảm đi, tạo lòng tin cho người sản xuất.
Trong công thức trên ta thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chi phí sản xuất rau an
toàn với kết quả sản xuất thu được, hiệu quả sản xuất có mối quan hệ tỷ lệ với sản
xuất. Tuỳ thuộc vào mục đích đối tượng nghiên cứu mà chúng ta lựa chọn chỉ tiêu
tính toán đánh gía cho phù hợp. Gồm các chỉ tiêu như: hiệu quả sử dụng một đồng
vốn hay một đồng chi phí, hiệu quả một đơn vị diện tích đất, hiệu quả một đơn vị lao
động đầu tư. Nâng cao hiệu quả kinh tế là làm tăng lượng giá trị của các chỉ tiêu trên.
Kết quả kinh tế sản xuất rau an toàn được xác định bằng hiệu số giữa giá trị
kết quả được của sản xuất rau an toàn và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Thể
hiện qua dạng thức thứ hai của kết quả kinh tế sau:
0
là lượng chi phí ở hai thời kỳ có nội dung kinh tế khác nhau.
- Q
Ä
là mức gia tăng kết quả.
- K
Ä
là mức gia tăng chi phí để tạo nên mức gia tăng kết quả.
- H là hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn so sánh giữa 2 thời kỳ hay có nội
dung kinh tế khác.
Ý nghĩa: công thức trên cho biết một đồng chi phí bổ sung tạo ra bao nhiêu
đồng doanh thu, lợi nhuận bổ sung.
12
Dạng thứ ba của hiệu quả kinh tế có nội dung rất quan trọng đặc biệt được sử
dụng đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật và vốn đầu tư.
2.1.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu
+ Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn.
+ Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường một năm), đây là tổng thu của hộ.
GO = ∑Q
i
*P
i
Q
i
: Là khối lượng sản phẩm loại i.
P
i
: Là giá của sản phẩm loại i.
+ Chi phí trung gian (IC): chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật
+ Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian: GO/IC
Qua chỉ tiêu này ta thấy bỏ ra một đồng chi phí trung gian thì thu lại được bao
nhiêu đồng giá trị sản xuất. Chỉ tiêu nay càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh tế mang lại
càng cao.
+ Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (T
VA
): tỷ suất GTGT theo chi phí
trung gian là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của đầu tư trong sản xuất kinh doanh, T
VA
được
thể hiện bằng công thức:
T
VA
= VA/IC
Qua chỉ tiêu này cho thấy: cứ bỏ ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ thu được
bao nhiêu đồng GTGT. T
VA
là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt chất lượng, T
VA
càng lớn thì sản xuất nông nghiệp càng có hiệu quả cao. Đây là cơ sở rất quan trọng cho
việc ra quyết định sản xuất.
+ Tỷ suất giá trị lợi nhuận theo chi phí trung gian: TPr/IC
- Tính hiệu quả kinh tế theo công lao động:
Năng suất lao động: là số lượng hoặc giá trị của yếu tố đầu ra trong một đơn
vị thời gian.
Năng suất lao động = GO/CLĐ
Về phương pháp tính toán: đáng lưu ý khi tính toán chỉ tiêu này là việc xác
định chính xác lượng hao phí sức lao động. Thông thường, để tính toán chính xác
được công lao động người ta phải quy đổi từ giờ công ra ngày công theo quy định 8
giờ làm việc bằng 1 công lao động.
kháng của cây trồng. Phòng trừ sinh học, vệ sinh đồng ruộng. Nếu cần thì dùng
thuốc thảo mộc.
Làm đất cần cải thiện đất thuận lợi cho hoạt động vi sinh vật học trong đất,
làm đất nông 10-15 cm. Không cầy sâu lật đất, vùi phân xuống sâu, bón ruộng thúc
đẩy họat động của vi sinh vật. Làm đất tối thiểu, luân canh hợp lý [4].
Viện Nghiên Cứu Rau Quả đã xây dựng một quy trình chung mang tính
nguyên tắc trong sản xuất rau an toàn [12].
- Chọn đất
Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và
phát triển của rau. Tốt nhất là đất cát pha hoặc thịt nhẹ, hoặc đất thị trung bình có
15
tầng canh tác dày (20 - 30cm). Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải
công nghiệp và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất
200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nặng nhưng không được tồn dư hoá
chất độc hại.
- Nước tưới
Vì trong rau nước chứa trên 90% nên nước tưới ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm. Cần sử dụng nước sạch để tưới. Nếu có điều kiện nên sử dụng
nước giếng khoan nhất là đối với vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị. Nếu
không có giếng, cần dùng nước sông, ao hồ trong không ô nhiễm. Nước sạch còn
dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc BVTV. Tuyệt đối không dùng trực tiếp
nước thải công nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao mương tù đọng.
Nguồn nước phải được giám sát hàng năm (theo yêu cầu tiêu chuẩn Việt Nam -
TCVN 6773:2000).
- Giống
Chỉ gieo những hạt tốt và trồng cây con khoẻ mạnh không có mầm bệnh.
Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực
vật. Hạt giống trước khi gieo trồng cần được xử lý hoá chất hoặc nhiệt. Trước khi
đưa cây con ra ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này.
- Phân bón
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng…
Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo nước rồi cho vào bao, túi sạch trước khi
mang tiêu thụ tại các cửa hàng. Trên bao bì phải có phiếu bảo hành, có địa chỉ nơi
sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
2.1.6. Vai trò của rau an toàn
- Vai trò đối với người tiêu
Trong cuộc sống con người, rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung
cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế được như các
loại vitamin A, B, C, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần
cho sự phát triển của cơ thể con người. Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng
chất mà còn có tác dụng chữa bệnh. Chất xơ trong rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh
tim, huyết áp, bệnh đường ruột, vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày và lợi.
Vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế những biến cố về ung thư phổi [7].
Một số nhà dinh dưỡng của Việt Nam cũng như của thế giới nghiên cứu về
khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam đã tính rằng hàng ngày chúng ta cần khoảng
1300 - 1500 calo năng lượng để sống và hoạt, tương đương với lượng rau dùng hàng
ngày TB cho 1 người vào khoảng 250 - 300gr/ngày (tức khoảng 7,5 -
17
9kg/người/tháng). Nghiên cứu của nhà khoa học Pháp, ông Doralle (1942) đã cho
biết: lượng rau phải cung cấp TB/người khoảng 360 gr/ngày (tức khoảng 10,8
kg/tháng/người).
Rau an toàn có hàm lượng nitrat, kim loại nặng, vi sinh vật, dư lượng thuốc
BVTV trong rau ở trong giới hạn cho phép không ảnh hưởng đến sức khoẻ người
tiêu. Một số chủng loại rau trái vụ đã sản xuất quanh năm làm phong phú thêm
chủng loại rau, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn cho bữa ăn gia đình.
- Vai trò đối với người sản xuất
Cây rau còn là cây để trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tận dụng đất đai,
nâng cao hệ số sử dụng đất.
Sản xuất RAT đã làm thay đổi cách sản xuất truyền thống của người nông
dân, bảo vệ sức khỏe trong quá trình sản xuất.
3000
4000
5000
6000
7000
2005 2006 2007 2008
Tổng kim ngạch xuất khẩu
rau quả năm 2005- 2008
Tổng kim ngạch xuất khẩu
nông sản năm 2005 - 2008
Hình 2.2: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam
năm 2005 - 2008
Rau quả nước ta được xuất khẩu chủ yếu vào các nước như: Đài Loan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga…
Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam trong năm 2006 đạt
259.082 triệu USD, tăng 10% so với năm 2005 đạt 235.482 triệu USD. Kim ngạch
xuất khẩu rau quả 2008 đạt 391.645 triệu USD chiếm 16,3% tổng kim ngạch xuất
khẩu nông sản của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu rau quả 3 tháng đầu năm 2009
tăng 7,8% so với cùng kỳ 2008 ước tính đạt 95,3 triệu USD.
Mục tiêu của ngành sản xuất rau những năm tới theo đề án phát triển rau -
quả - hoa cây cảnh đến năm 2015, bên cạnh việc giữ mức rau bình quân đầu người
hiện nay (115 - 200kg/năm) là: phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu rau quả lên 760
triệu USD vào năm 2010, xuất khẩu rau đạt 200.000 tấn tương đương 155 triệu
USD đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006 - 2010
là 23 - 25% và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2015 [11].
19
Tóm lại, sản xuất rau có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung
cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho chế
biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho
Đối với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU 15, hàng năm phải
nhập khẩu một lượng rau tươi khổng lồ thì chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
rau quả là điều quan tâm hàng đầu. Vì vậy, từ những năm sau chiến tranh thế giới
lần thứ 2, quân đội Mỹ đã xây dựng một quy mô lớn ở Nhật Bản để sản xuất rau an
toàn trong dung dịch, năng suất cao gấp 3 lần so với trồng trên đất và năng suất
Hành cao cấp 2 lần so với trồng đất.
Từ năm 1983 - 1984 ở Nhật Bản người ta đã trồng rau an toàn với công nghệ
không dùng đất tăng khoảng 500 ha, năng suất cà chua đạt 130 - 140 tấn/ha/năm,
dưa leo 250 tấn/ha/năm và xà lách đạt 700 tấn/ha/năm.
Ở Pháp, từ năm 1975 người ta đã ứng dụng công nghệ này không những
trồng rau mà trồng cả hoa với quy mô 300ha. Theo FAO, năm 2007 diện tích trồng
rau tươi của Pháp là 21.000 ha với năng suất đạt được là 245.238 kg/ha tăng gấp
80% so với năm 2004. Đây là một bước nhảy vọt trong quá trình sản xuất nông
nghiệp của Pháp.
Tại Gabông với kỹ thuật trồng không dùng đất, năng suất dưa tây đạt 3 kg/m
2
sau trồng 75 ngày, dưa chuột 7 kg/m
2
sau trồng 90 ngày.
Tại Anh, người ta xây dựng 1 hệ thống kỹ thuật màng mỏng dung dịch sử
dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1ha để trồng cà chua [1].
Ở Singapore, người ta đã trồng các loại rau diếp, cải bắp, cà chua, su hào và
một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật Aeropnic. Trước đây, loại rau ôn đới trồng
ở Singapore rất khó khăn, nhưng với kỹ thuật mới này thì các loại rau hiện nay
được trồng tương đối dễ dàng. Các loại rau ôn đới nếu được được trồng tương đối
dễ dàng. Các loại rau ôn đới nếu được trồng theo kỹ thuật Aeropnic thì chỉ tốn một
nửa thời gian sinh trưởng so với trồng đất tự nhiên.
Ở Bắc Âu, năm 1991 đã có 400 ha trồng rau trong dung dịch, ở Mỹ có 220
ha trồng trong nhà kính, trong đó có 75% diện tích rau được trồng bằng công
nghệ không dùng đất. Hà Lan có 3.600 ha và Nam phi có 400 ha trồng rau trong
thể cho năng suất cao với chất lượng đảm bảo và giá thành hạ nếu được áp dụng các
quy trình nghiêm ngặt. Thêm vào đó ngày nay với công nghệ bảo quản, chế biến
tiên tiến người ta có thể dự trữ và cung cấp rau ăn cho cả mùa đông.
22
2.2.2. Tình hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam
Rau là ngành hàng sản xuất đa chủng loại có địa bàn phân bố trên hầu hết
khắp lãnh thổ cả nước với đa dạng các giống rau có khả năng thích nghi với điều
kiện nóng ẩm mùa hè hoặc lạnh khô mùa đông hoặc những giống rau trái vụ, rau
nhập nội có nguồn gốc ôn đới.
Nước ta được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, miền Bắc có 4 mùa rõ rệt, miền
Nam có 2 mùa (khô và mưa) chính vì thế Việt Nam có khả năng sản xuất đủ rau cho
tiêu dùng và xuất khẩu, giá thành tại ruộng rẻ.
Sản xuất rau ở nước ta được tập trung ở 2 vùng chính:
Vùng rau tập trung, chuyên canh ven thành phố, thị xã và khu công nghiệp
chiếm 46% diện tích và xấp xỉ 45% sản lượng. Sản xuất rau cung cấp cho thị trường
nội địa là chính.
Chủng loại rau ở đây rất phong phú: 60 - 80 loại trong vụ đông xuân, 20- 30
loại trong vụ hè thu.
Vùng rau hàng hoá, luân canh với cây lương thực tại các vùng đồng bằng
lớn, chiếm 54% diện tích và 55% sản lượng. Rau ở đây tập trung cho chế biến, xuất
khẩu và điều hoà, lưu thông trong nước.
Theo số liệu thống kế, diện tích trồng rau của cả nước ta năm 2008 là
705.882 ha, tăng 9,61% so với năm 2006 (643.970ha).
Hiện nay, cả nước có 43 tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch vùng sản xuất
rau an toàn, với diện tích khoảng 60 nghìn ha, chiếm 8,5% diện tích trồng rau.
“Theo Cục trồng trọt (Bộ NN - PTNT) đến năm 2008 diện tích quy hoạch
sản xuất rau an toàn của cả vùng đồng bằng sông Hồng mới đạt 14816 ha (chiếm
13% tổng diện tích rau), nhưng diện tích được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau
an toàn chỉ có 6.755ha. So với năm 2006, diện tích rau an toàn khu vực này tăng
4,6%” [18].
- 10 ha được xây dựng tại 400 vùng sản xuất rau an toàn của Hà Nội với
nội dung đa dạng: Mô hình sản xuất rau trong nhà lưới, nhà vòm; Mô hình trồng rau
thuỷ canh; Mô hình trồng rau quanh năm, an toàn, Cũng trên địa bàn Hà Nội, các
dự án quốc tế như “Rau hữu cơ” của tồ chức Phát triển Nông Nghiệp Đan Mạch
(ADDA), “Rau ngoại ô” của CIRAD (Pháp) thực hiện các mô hình trình diễn, tập
huấn kỹ thuật IMP, trồng rau an toàn quanh năm giai đoạn 1998 - 2003. Hiện nay,
Hà Nội có khoảng trên 11.000 ha đất trồng rau, nhưng mới chỉ có khoảng hơn 2.000
ha RAT, tập trung chủ yếu ở vùng Hà Nội cũ.
UBND thành phố Hà Nội vừa có quyết định phê duyệt đề án sản xuất và tiêu
thụ rau an toàn (RAT) trên địa bàn thành phố giai đoạn 2009 - 2015. Tổng vốn đầu
tư dự kiến hơn 900 tỷ đồng, trong đó, ngân sách thành phố chi hơn 700 tỷ đồng.
Theo đề án này, đến năm 2015, thành phố sẽ có 5.000 - 5.500 ha RAT, được
xây dựng ở 118 vùng tập trung được đầu tư về cơ sở hạ tầng, có cán bộ kỹ thuật
cắm chốt để kiểm tra, hướng dẫn bà con trong quá trình sản xuất [10].
* Tỉnh Lâm Đồng
Từ lâu Lâm Đồng đã nổi tiếng với nghề trồng rau, đặc biệt là huyện Đơn
Dương và tp Đà Lạt. Đây là một vùng trồng rau quan trọng của Việt Nam. Cây rau
thương phẩm Lâm Đồng sản xuất hàng năm với diện tích trồng lên đến trên 35.000
ha, sản lượng gần 934 ngàn tấn để cung cấp cho các tỉnh phía Nam, cũng như tham
gia xuất khẩu vào thị trường các nước châu Á.
Năm 2004, Đà Lạt đã có một quy trình sản xuất rau sạch đầu tiên được Hội
đồng Khoa học công nghệ cấp nhà nước nghiệm thu và là quy trình sản xuất rau
sạch đầu tiên ở Việt Nam được Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO) công
nhận. Hiện tại, Lâm Đồng mới chỉ có trên 10 cá nhân, đơn vị đăng ký và được cấp
chứng nhận rau an toàn. Trong đó có 6 doanh nghiệp được trao chứng nhận sản xuất
25