LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả
trong khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành khóa luận này đã được
cảm ơn, các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi khẳng định khóa luận này là phần nỗ lực phấn đấu nghiên cứu, làm việc
của cá nhân tôi.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nông Minh Thúy
1
1
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp đại học chuyên nghành kinh tế với đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế
sản xuất rau an toàn tại xã Văn Đức – huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội ”.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông
thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình dạy bảo tôi, giúp đỡ và định hướng
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trần Văn Đức và các thầy cô
trong bộ môn Kinh tế, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông Nghiệp
Việt Nam đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành khoán luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các ban, ngành, đoàn thể, các cán bộ
và nhân dân xã Văn Đức – huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và thực tập đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các tập thể, cá nhân, bạn bè và
người thân đã quan tâm giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
3
liệu, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, kết hợp
các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu.
Nội dung và kết quả nghiên cứu chính như sau:
1.Tình hình sản xuất RAT trên địa bàn xã trong 3 năm gần đây (từ năm 2012
đến 2014): do là vùng sản xuất RAT trọng điểm của khu vực miền Bắc nên những
năm qua diện tích sản xuất ổn định, mức sản lượng và năng suất bình quân tương đối
cao mặc dù có sự biến động do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như thời tiết, sâu bệnh, thị
trường, vật chất
- Hệ thống tổ chức quản lý sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã theo một tổ
chức nhất định từ UBND thành phố Hà Nội đến UBND huyện Gia Lâm rồi đến
UBND xã Văn Đức, hầu hết các hộ nông dân trên địa bàn xã đều sản xuất đúng theo
quy trình sản xuất rau an toàn. Tuy có nhiều dạng quản lý khác nhau, nhưng hiện nay
ở xã Văn Đức tồn tại hai hình thức tổ chức sản xuất. Các hộ nông dân tiêu thụ rau an
toàn theo hình thức bán buôn là chính, các hộ thu hoạch rau và bán tại ruộng cho các
thương lái bán buôn và người thu gom.
2.Qua điều tra thực tế, chi phí sản xuất rau an toàn nói chung cao hơn rau
thường. Những chênh lệch giá bán rau an toàn và rau thường là chưa vượt trội. Vì thế
mà hiệu qủa an toàn có cao hơn nhưng cần phải phát huy hơn nữa.
3.Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ
nông dân như quy hoạch về mặt bằng, chính sách hỗ trợ của thành phố, huyện, các yếu
tố về thị trường, trình độ kĩ thuật và đặc biệt là nguồn vốn đầu tư cho sản xuất.
Từ tổng kết lý luận, thực tiễn và phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ rau an
toàn của các hộ nông dân, chúng tôi đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả trong sản xuất và tiêu thụ RAT của hộ nông dân trên địa bàn xã bằng nhóm
giải pháp cơ chế chính sách hỗ trợ về vốn, thị trường, giải pháp về quy hoạch mặt
bằng diện tích sản xuất hay nâng cao trình độ lao động để tạo nên sự chuyển biến từ
trong nhận thức đến hành động cũng như những giải pháp ổn định thị trường về tiêu
thụ như tuyên truyền phổ biến thông tin, đầu tư cơ sở vật chất hay xây dựng bảo hiểm
nông nghiệp để tránh nhưng rủi ro mà các hộ nông dân gặp phải trong quá trình sản
MI: Thu nhập hỗn hợp
NN : Nông nghiệp
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
O: Cơ hội
PTNT: Phát triển nông thôn
RAT: Rau an toàn
S: Điểm mạnh
SL: Số lượng
SX: Sản xuất
SXKD: Sản xuất kinh doanh
T: Thách thức
TC: Tổng chi phí
TP: Thành phố
UBND: Ủy ban nhân dân
VA: Giá trị gia tăng
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
W: Điểm yếu
UBND: Ủy ban nhân dân
8
8
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong cung cấp lương thực,
thực phẩm cho con người và nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, ngành nông nghiệp trồng trọt
đang ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và áp dụng công nghệ hiện đại trong
sản xuất. Đặc biệt, ngành sản xuất rau an toàn hiện nay được chú trọng đầu tư sản
xuất góp phần đáp ứng nhu cầu tăng cao của người tiêu dùng và tạo hiệu quả kinh tế
- xã hội cho địa phương cũng như cả nước.
quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của các hộ nông dân xã Văn Đức trong thời
gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất rau an toàn và hiệu quả
sản xuất rau an toàn
- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất rau an toàn ở xã Văn Đức
trong 3 năm
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn ở xã Văn Đức
- Đề ra định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất rau an toàn tại xã Văn Đức trong những năm tới
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Hiệu quả kinh tế là gì?
10
10
2. Thực trạng sản xuất rau an toàn tại xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội?
3. Quy trình sản xuất áp dụng trong trồng rau an toàn tại xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà
Nội?
3. Hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn tại xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội như thế
nào?
4. Những yêu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn?
5. Những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ sản xuất rau an toàn tại xã
Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chuyên đề
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- 3 loại rau: cải bắp, cải thảo, ớt.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 60 hộ nông dân sản xuất rau an toàn tại
2 thôn Trung Quan và Chử Xá thuộc xã Văn Đức.
- Những thành phần liên quan như: chính quyền địa phương, đơn vị cung
ứng đầu vào, đơn vị kinh doanh đầu mối,…
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
ngừng sản xuất ra chúng.
Nhìn chung, sản xuất ngày càng ngày được nâng cao và mở rộng không
những làm cho đời sống vât chất được nâng cao mà đời sống tinh thần như các hoạt
động văn hóa, nghệ thuật, thể thao,… cũng được mở rộng và phát triển.
Như vậy sản xuất của cải vật chất là cơ sở, là điều kiện tiên quyết, tất yếu và
vĩnh viễn cho sự tồn tại và phát triển của con người.
2.1.1.2. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
a) Khái niệm hiệu quả
13
13
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật hiện
tượng bao gồm hiệu quả về kinh tế, xã hội,đời sống, phát triển nhận thức vv .Hiệu
quả có thể đơn giản định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng
ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất. Hay hiệu quả là đại lượng tương đối so
sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Phân biệt hiệu quả và kết quả:
Kết quả hoặc kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất được tạo ra do mục
đích của con người, được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc
vào từng trường hợp cụ thể. Do tính mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài
nguyên với nhu cầu tăng lên của con người mà người ta xem xét kết quả đó được
tạo ra như thế nào và chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đưa lại kết quả hữu ích hay
không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh không chỉ
dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt
động sản xuất, kinh doanh để tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả. Trên phạm vi xã hội, các chi
phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội. Vì vậy, bản chất của
hiệu quả chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan
so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội, còn
mục tiêu của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều
kiện nguồn tài nguyên hữu hạn.
nó là số tương đối và chỉ tiêu này chưa phân tích được sự tác động, ảnh hưởng của
các yếu tố nguồn lực. Hai cơ sở sản xuất đạt được tỷ số trên là như nhau, nhưng ở
những không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thì sự tác động của nguồn lực tự
nhiên là khác nhau và như vậy hiệu quả kinh tế cũng không giống nhau.
+ Với quan điểm coi HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung
thì cũng chưa đầy đủ. Trong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của
15
15
các chi phí có sẵn cộng với chi phí bổ sung. Ở các mức chi phí có sẵn khác nhau thì
hiệu quả của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau.
Vì vậy, khi xem xét HQKT chúng ta phải xem xét trên tất cả các góc độ để
có cái nhìn toàn diện, chính xác, tuỳ theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu.
Trong điều kiện hiện nay, khi mà môi trường sinh thái đang bị tác động
một cách thô bạo, nhiều thiên tai nghiêm trọng vẫn thường xuyên xảy ra trên khắp
thế giới. Thì hiệu quả không đơn thuần là HQKT, mà nó phải thoả mãn các vấn đề
về tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích trong xã hội và
phải bảo vệ được môi trường sinh thái. Nghĩa là tính hiệu quả phải hài hoà các lợi
ích về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái đảm bảo tính bền vững.
Như vậy khái niệm về HQKT có thể được hiểu như sau: Hiệu quả kinh tế
là một phạm trù kinh tế thể hiện mối tương quan giữa kết quả và chi phí. Mối tương
quan ấy có thể là phép trừ, phép chia của các yếu tố đại diện cho kết quả và chi phí.
HQKT phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và
phương thức quản lý.
2.1.1.3. Khái niệm rau an toàn
Theo quyết định số 04/2007/QĐ-BNN ngày 19/01/2007 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT Trong chương trình phát triển rau an toàn, Bộ NN & PTNT đã thống nhất
đưa ra khái niệm về rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa
quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và
mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an
Dưa hấu 60 Hành tây 80
Dưa bở 90 Cà chua 150
Mướp ngọt 200 Dưa chuột 150
Măng tây 200 Khoai tây 250
Đậu quả 200 Cà rốt 250
Ngô rau 300 Hành lá 400
Cải bắp 500 Bầu bí 400
Su hào 500 Cà tím 400
Su lơ 500 Xà lách 1500
( Nguồn: FAO,
1993)
Hiện nay vấn đề rau bị ô nhiễm, bị nhiễm khuẩn, hàm lượng kim loại nặng
trong rau vượt quá mức cho phép…đang được các cấp chính quyền và người dân
quan tâm. Làm thế nào để sản xuất rau đúng với những tiêu chuẩn cho phép mà giá
thành sản xuất lại không cao?
Theo quan điểm số đông của các nhà nông học
Rau an toàn là rau được canh tác bằng phương pháp canh tác an toàn,
cùng với sự kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Thực ra rau
an toàn về mẫu mã và chủng loại cũng không có gì khác so với rau an toàn và
rau thông thường.
Tuy nhiên nói đến rau an toàn tức là nói đến một phương thức canh tác để có
rau an toàn cho ngừơi tiêu dùng trong khái niệm rau an tòan bao trùm tất cả là cá
loại rau bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tóm lại, theo quan điểm của hầu hết nhà khoa học khác cho rằng: Rau an
toàn là rau không dập nát, úa, hư hỏng, không có đất, bụi bao quanh, không chứa
các sản phẩm hoá học độc hại; hàm lượng NO
3
, kim loại nặng, dư thuốc bảo vệ thực
vật cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các tiêu chuẩn an toàn;
18
không có triệu chứng sâu bệnh, có bao bì phù hợp với hướng dẫn.
Thứ ba, là chất lượng sản phẩm, sản phẩm RAT phải không chứa dư lượng
thuốc BVTV, dư lượng nitrat, dư lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây hại
vượt qua ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Đây là tiêu chuẩn
hàng đầu, quan trọng nhất để phân biệt rau sạch và rau thường.
2.1.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ quốc gia nào, một ngành kinh tế nào hay một đơn vị sản xuất khi đi
vào hoạt động đều mong muốn rằng với nguồn lực có hạn thì thế nào để tạo ra
lượng sản phẩm là lớn nhất nhưng lại phải có giá trị về chất lượng cao nhất. Bởi lẽ
đó nên tất cả các hoạt động sản xuất để được tính toán kỹ lưỡng sao cho đạt được
hiệu quả cao nhất.
Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng lợi nhuận, từ đó tích lũy sản xuất
vốn và tiếp tục đầu tư tái mở rộng.
Nâng cao hiệu quả kinh tế sẽ làm thu nhập của người lao động ngày càng
được cải thiện, là cái gốc để giải quyết mọi vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đối với sản xuất công nghiệp, để nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lực
trong đó hiệu quả sử dụng đất rất quan trọng. Muốn hiệu quả kinh tế các hình thức
sử dụng đất để trồng rau an toàn thì một trong những vấn đề cốt là phải tiết kiệm
nguồn lực, cụ thể với nguồn đất đai có yêu cầu cho người sử dụng đất, và người sản
xuất làm sao để tạo ra cho được số lượng sản phẩm có chất lượng cao nhất, số
lượng nhiều nhất và không ngừng bồi đắp độ phì nhiêu của đất. Từ đó người sản
xuất có cơ hội để tích lũy vốn vào tái sản xuất mở rộng.
Nâng cao hiệu quả kinh tế là yếu tố của sự phát triển xã hội, tuy nhiên ở các
địa vị khác nhau thì có những quan tâm khác nhau. Đối với người sản xuất, tăng
hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận. Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng
20
20
hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hóa với giá thành ngày càng giảm và chất
lượng hàng hóa ngày càng một tốt hơn.
Khi xã hội ngày càng phát triển, công nghệ càng cao hiệu quả sẽ gặp nhiều
bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm
cho ngừơi lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái. Nghiên cứu hiệu quả kinh
tế sản xuất RAT giúp có được cái nhìn tổng quan về tình hình thực tế sản xuất, hiệu
quả đạt được, xu hướng phát triển, những yếu tố tác động nhằm đưa ra giải pháp
thúc đẩy phát triển sản xuất RAT.
2.1.3. Phân loại hiệu quả kinh tế
Cùng với việc làm rõ bản chất và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế, chúng ta cần
phân biệt giữa HQKT và một số phạm trù sau đây:
a) Phân loại hiệu quả theo kinh tế học sản xuất [1]
- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị
chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng và sản xuất trong những điều kiện cụ thể về
kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào lâm nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến
phương diện vật chất của sản xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào
sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hay nói một cách khác, hiệu quả
kỹ thuật là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với những yếu tố đầu vào cố
định. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều bản chất kỹ thuật và công nghệ áp
dụng vào sản xuất trong lâm nghiệp, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi
trường kinh tế - xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng.
- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả, trong đó các yếu tố giá sản phẩm và
giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi thêm
về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có
tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra. Hay nói một cách khác,
hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhằm đại lợi
nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào.
22
22
- Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong lâm nghiệp.
HQKT = HQ kỹ thuật x HQ phân bổ
- Hiệu quả kinh tế ngành là tính toán hiệu quả kinh tế của từng ngành riêng
biệt trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế.
- Hiệu quả kinh tế vùng đánh giá hiệu quả kinh tế của một vùng kinh tế, vùng
lãnh thổ.
e) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Từ bản chất của hiệu quả, người ta thiết lập được mối tương quan so sánh
giữa kết quả sản xuất (đầu ra) và các loại chi phí sản xuất (đầu vào) theo công thức sau:
Công thức 1:
Hiệu quả = Kết quả đạt được – Chi phí để đạt được kết quả
H = Q – C
Trong đó: H: Hiệu quả
Q: Kết quả đạt được
C: Chi phí đầu tư
Chỉ tiêu này nếu tính cho toàn bộ quá trình sản xuất thì được tổng HQKT. Ví
dụ: tổng giá trị gia tăng, tổng thu nhập hỗn hợp, hay tổng lãi ròng thu được. Chỉ tiêu
này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi phí, chi phí trung
gian, chi phí lao động,… Tuy nhiên ở cách này quy mô sản xuất lớn hay nhỏ như
thế nào chưa được tính đến, không so sánh được HQKT của các đơn vị sản xuất có
quy mô khác nhau.
Công thức 2:
24
24
H = -> Max
Cách tính này có ưu điểm là phản ánh rõ nét mức độ sử dụng các nguồn lực,
xem xét được một đơn vị nguồn lực đem lại bao nhiêu kết quả. Vì vậy giúp cho việc
đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách rõ nét. Tuy nhiên, cách tính này
cũng có nhược điểm là không nói lên được quy mô của HQKT. Từ công thức này
có thể tính được các chỉ tiêu như sau: Tỷ suất giá trị sản xuất tính theo tổng chi phí,
chi phí trung gian hoặc một yếu tố đầu vào bất kỳ.
Công thức 3: