1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYN TH TUYT Tờn ti:
Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây ngô tại xã Quang MinH
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Kinh t Nụng nghip
Lp : K42A - KTNN
Khoa : KT - PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : TS. Bựi ỡnh Hũa
Thỏi Nguyờn, nm 2014
2
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng
dẫn khoa học của thầy Bùi Đình Hòa. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong
khóa luận này hoàn toàn trung thực, chưa sử dụng để bảo vệ một công trình
khoa học nào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành khóa luận đều đã được cảm
ơn. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 06 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Tuyệt
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 -2012 19
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của một số nước trên thế giới qua 3 năm
2010 - 2012 20
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở Việt Nam qua 3 năm 22
Bảng 3.1. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm trung bình qua các tháng trong năm 2013 29
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất của xã Quang Minh năm 2013 30
Bảng 3.3 . Tình hình dân số, lao động của xã Quang Minh 34
Bảng 3.4. Diện tích, sản lượng, năng suất cây trồng của xã Quang Minh
năm 2013 36
Bảng 3.5. Diện tích trồng cây ngô tại các thôn trên địa bàn xã Quang Minh
( 2011-2013) 40
Bảng 3.6 năng suất của cây ngô tại các thôn trên địa bàn xã Quang Minh 41
Bảng 3.7. Sản lượng ngô của các thôn trên địa bàn UBND xã Quang Minh 43
ĐVT Đơn vị tính
DN Doanh nghiệp
GO Gía trị sản xuất
H Hiệu quả kinh tế tăng thêm
HĐND Hội đồng nhân dân
HQ Hiệu quả
HQKT Hiệu quả kinh tế
IC Chi phí trung gian
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
LĐ Lao động
MI Thu nhập hỗn hợp
NQ Nghị quyết
PTNN Phát triển nông thôn
Q Kết quả thu được
QĐ Quyết định
SXNN Sản xuất nông nghiệp
THCS Trung học cơ sở
TS Tiến sĩ
TTG Thủ tướng giao
UBND Ủy ban nhân dân
VA Giá trị gia tăng
∆C Chi phí tăng thêm
∆Q Kết quả tăng thêm
7
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3.2. Thực trạng trồng ngô của xã Quang Minh 39
3.2.1. Tình hình phát triển cây ngô tại xã Quang Minh 39
3.2.2. Tình hình của nhóm hộ điều tra 44
3.3. Tình hình tiêu thụ ngô 46
3.4. Hiệu quả kinh tế khi trồng cây ngô ở xã Quang Minh 46
3.4.1. Hiệu quả kinh tế 46
3.4.2. So sánh hiệu quả kinh tế giữa cây ngô và cây lạc 50
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY NGÔ TẠI XÃ QUANG MINH 59
4.1. Những thuận lợi khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ ngô của xã Quang Minh59
4.1.1. Thuận lợi 59
4.1.2. Khó khăn 59
4.2. Phương hướng phát triển cây ngô tại xã Quang Minh 60
4.2.1. Phương hướng 60
4.3. Một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngô ở xã
Quang Minh. 60
4.3.1. Giải pháp về kỹ thuật 60
4.3.2. Giải pháp về thị trường 61
4.3.3. Giải pháp cơ sở hạ tầng 61
4.3.4. Giải pháp về vốn 61
4.3.4. Giải pháp về lao động 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1. Kết luận 63
2. Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
I. Tài liệu in 65
II. Tài liệu internet 65
1
MỞ ĐẦU
Xã Quang Minh là xã miền núi của huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang,
người dân chủ yếu làm nông nghiệp, nông nghiệp rất đa dạng bao gồm rất
nhiều ngành như trồng trọt chăn nuôi,… Phong phú về chủng loại. Trong đó
cây ngô cũng là ngành chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cây trồng. Cây trồng
này rất phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, kinh tế kỹ thuật của xã. Một số
số thôn như: Hoàng Văn Thụ, Minh Tâm, Nái,…, sẽ trở thành vùng trọng
điểm để phát triển sản xuất cây ngô. Để cây ngô mang lại nguồn thu chính
cho người nông dân của xã Quang Minh.
Xuất phát từ tình hình thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây ngô tại xã Quang Minh - Bắc Quang
- Hà Giang”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế trong việc sản
xuất cây ngô trên địa bàn xã Quang Minh – Bắc Quang - Hà Giang. Qua đó
đưa ra các giải pháp, định hướng nhằm phát triển sản xuất cây ngô, nâng cao
thu nhập và đời sống cho người dân tại địa bàn xã Quang Minh, huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà giang.
2.2. Mục tiêu cụ thể
-Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Quang Minh.
- Phân tích thực trạng tình hình sản xuất cây ngô tại xã Quang Minh.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới cây ngô.
-Đánh giá hiệu quả sản xuất của cây ngô trên địa bàn xã Quang Minh.
-Đề xuất một số giải pháp và phương hướng chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế của cây ngô tại xã Quang Minh trong những năm tới.
3. Ý nghĩa của khóa luận
3.1. Ý nghĩa trong học tập
- Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại kiến thức đã học và làm quen
dần với thực tế.
- Giúp rèn luyện kỹ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho
lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các
hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế [1].
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng
trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao
khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là không
lãng phí. Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn năng
lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, sự
chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản lượng
tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí.
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật
kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức
sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội.
5
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết
quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản
xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó.
Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa
chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử
dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó.
Tóm lại: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được và chi phí nguồn lực bỏ ra. Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ
ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết
quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau nhưng vẫn phải dựa trên
nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra [1].
vệ môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại
không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất. Mục đích cuối cùng của sản
xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà
còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn.
Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát
triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của mọi thành
viên trong xã hội. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao
động và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn
đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội
là quy luật tăng năng suất lao động và tiết kiệm thời gian làm việc.
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải
đạt hiệu quả tối đa và chi phí tối thiểu. Nó được hiểu theo nghĩa rộng là chi
phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực. Chi phí sử dụng nguồn lực
bao gồm cả chi phí cơ hội.
1.1.1.3. Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế - xã hội được diễn ra ở các phạm vi
khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản
xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau. Do đó,
để nghiên cứu đúng HQKT đúng cần phân loại HQKT.
7
Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét. HQKT được phân theo
các khía cạnh sau:
- HQKT quốc dân: là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã
hội của một quốc gia.
- HQKT ngành: là HQKT tính riêng cho từng nhành sản xuất vật chất
nhất định như công nghiệp nông nghiệp,…
- HQKT theo lãnh thổ: tính riêng cho từng vùng, từng địa phương.
DN phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng trong
cạnh tranh DN cần phải luôn tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự
khác biệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng. để duy trì lợi thế về giá cả, DN phải tiết
kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp khác. Chỉ trên cơ sở sản xuất
kinh doanh có hiệu quả cao, DN mới có khả năng đạt được điều này.
HQKT là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao
trùm, lâu dài của doanh nghiệp. HQ kinh doanh cao, càng phản ánh việc sử
dụng tiết kiệm nguồn lực sản xuất. vì vậy, nâng cao HQKT là đòi hỏi khách
quan để DN thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận.
1.1.1.5. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Phương pháp xác định HQKT bắt nguồn từ bản chất HQKT, đó là mối
tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí với chi phí bỏ ra để đạt
được chi phí đó, hay nó là mỗi quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào.
Mối tương quan đó cần so sánh cả về giá trị tuyệt đối và tương đối giữa hai
đại lượng. Có thể biểu hiện chỉ tiêu hiệu quả bằng 4 công thức sau:
Công thức 1: H= Q - C
Trong đó H: HQKT
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra
Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng
chi phí, chi phí trung gian, chi phí lao động,…, chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả
càng cao. Tuy nhiên ở cách tính này quy mô sản xuất lớn hay nhỏ chưa được
tính đến, không so sánh được HQKT của các đơn vị sản xuất quy mô khác
nhau. Hơn nữa quy mô này chỉ cho biết quy mô của HQ chứ không chỉ rõ
9
mức độ hiệu quả kinh tế, do đó chưa giúp các nhà sản xuất có những tác động
cụ thể đến các yếu tố đầu vào để giảm chi phí nguồn lực, nâng cao HQKT.
Công thức 2 H = Q/C hoặc ngược lại H = C/Q
Khi so sánh HQ thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói lên
Ngô (Zea mays L.) là cây nông nghiệp một lá mầm thuộc chi Zea, họ
hòa thảo (Poaceae hay còn gọi là Gramineae). Các giống ngô ở Việt Nam có
những đặc điểm như chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, chống chịu sâu
bệnh và thích ứng với điều kiện ngoại cảnh khác nhau. Song cây ngô đều có
những đặc điểm chung về hình thái, giải phẫu. Các bộ phận của cây ngô bao
gồm: rễ, thân, lá, hoa (bông cờ, bắp ngô) và hạt.
Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp hai phần: Zea mays L. ssp. mays) là một
loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa
ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc
của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16.
Ngô là cây lương thực được gieo trồng nhiều nhất tại châu Mỹ (Chỉ
riêng tại Hoa Kỳ thì sản lượng đã là khoảng 270 triệu tấn mỗi năm). Các
giống ngô lai ghép được các nông dân ưa chuộng hơn so với các giống, thứ
ngô thông thường do có năng suất cao vì có ưu thế giống lai. Trong khi một
vài giống, thứ ngô có thể cao tới 7 m (23 ft) tại một số nơi thì các giống ngô
thương phẩm đã được tạo ra với chiều cao chỉ khoảng 2,5 m (8 ft). Ngô ngọt
(Zea mays var. rugosa hay Zea mays var. saccharata) thông thường thấp hơn
so với các thứ, giống ngô khác.
Thân cây ngô trông tương tự như thân cây của các loài tre và các khớp
nối (các mấu hay mắt) có thể có cách nhau khoảng 20-30 cm (8-12 inch). Ngô
có hình thái phát triển rất khác biệt; các lá hình mũi mác rộng bản, dài 50-100
cm và rộng 5 - 10 cm (2 - 4 ft trên 2 - 4 inch); thân cây thẳng, thông thường
cao 2-3 m (7 - 10 ft), với nhiều mấu, với các lá tỏa ra từ mỗi mấu với bẹ nhẵn.
Dưới các lá này và ôm sát thân cây là các bắp. Khi còn non chúng dài ra
khoảng 3 cm mỗi ngày. Từ các đốt ở phía dưới sinh ra một số rễ.
Các bắp ngô (bẹ ngô) là các cụm hoa cái hình bông, được bao bọc
trong một số lớp lá, và được các lá này bao chặt vào thân đến mức chúng
không lộ ra cho đến khi xuất hiện các râu ngô màu hung vàng từ vòng lá vào
cuối của bắp ngô. Râu ngô là các núm nhụy thuôn dài trông giống như một
11
và vàng. Khi được nghiền thành bột, ngô tạo ra nhiều bột và ít cám hơn so với
12
lúa mì. Tuy nhiên, nó không có gluten như ở lúa mì và như thế sẽ làm cho các
thức ăn dạng nướng có độ trương nở nhỏ hơn.
Giống ngô tích lũy nhiều đường hơn tinh bột trong bắp (ngô ngọt) được
tiêu dùng chủ yếu dưới dạng rau.
Thân cây ngô non tích lũy một chất kháng sinh mạnh là DIMBOA (2,4-
dihydroxy-7-methoxy-1,4-benzoxazin-3-on). DIMBOA là thành viên của nhóm
các axít hydroxamic (còn gọi là các benzoxazinoit) có khả năng phòng chống
tự nhiên đối với một loạt các loài gây hại như côn trùng, nấm và vi khuẩn gây
bệnh. DIMBOA cũng được tìm thấy trong một số loài “cỏ” có họ hàng gần, cụ
thể là lúa mì. Giống ngô đột biến (bx) thiếu DIMBOA rất dễ bị các loài rệp và
nấm gây bệnh. DIMBOA cũng là chất có tác dụng đề kháng tương đối của ngô
non đối với sâu ngô bore châu Âu (họ Crambidae). Khi ngô trở nên già hơn
thì hàm lượng DIMBOA cũng như khả năng đề kháng trước sâu bore cũng
giảm đi [5].
1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây ngô
a. Điều kiện tự nhiên
- Đất đai là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất của
cây trồng. Vì giúp cây đứng vững và có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh
được đều nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ đất do vậy năng suất cây trồng cao
hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng có trong đất. Do ở địa
hình cao, dốc nên đất thường bị sói mòn mạnh. Đất có phản ứng chua vừa đến
chua ít, hàm lượng mùn cao, lân và kali tổng số và dễ tiêu từ nghèo đến trung
bình. Đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp cho việc sử dụng theo phương thức
nông lâm kết hợp, có thể phát triển cây dược liệu và cây ăn quả ôn đới. Đối
với cây ngô nên hạn chế mở rộng diện tích trên nhóm đất này. Ở những diện
tích đã và đang sẽ trồng ngô cần chú trọng các biện pháp kỹ thuật: Chống sói
mòn, bón phân cân đối đặc biệt chú ý đến nguyên tố P, K,…
- Khí hậu cây ngô là cây có khả năng chống chịu thích hợp với nhiều
- Độ sâu khi gieo hạt: Để cây nảy mầm và mọc nhanh hơn ở thời kì
gieo sớm, cần gieo nông để tận dụng nhiệt độ đất có lợi trên bề mặt . Độ sâu
lấp đất khi gieo hạt trung bình 5 - 6 cm. Tuy nhiên, ở những vùng khô hạn
nên gieo ở độ sâu sâu hơn.
14
- Đất trồng ngô: đất trồng ngô thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, màu mỡ
cao, dễ thoát nước, đủ ẩm, nhưng không bị úng, do đó khi trồng phải làm đất
tơi xốp, sâu, thoáng, giữ ẩm tốt, bừa sạch cỏ dại.
- Mật độ khoảng cách mỗi vùng, mỗi giống cần áp dụng khoảng cách
hợp lý, để tận dụng tối đa dinh dưỡng đất và thời gian chiếu sáng, cũng như
cường độ ánh sáng nhằm đạt năng suất cao nhất. Đối với đất tốt hoặc cường
độ ánh sáng yếu thì cần giống ngô có mật độ thưa. Tùy thuộc vào thời gian
sinh trưởng của giống và đặc tính của giống ngô.
+ Đối với cây ngắn ngày mật độ 6 - 8 vạn cây/ ha, khoảng cách 60cm x
25cm x 1 cây.
+ Đối với cây trung bình mật độ 5 - 7 vạn cây /ha, khoảng cách 80cm x
40-50 cm x 2 cây
- Bón phân cho ngô muốn cho ngô đạt năng suất cao phải bón đủ lượng
phân bón và khi bón phân phải dựa vào mùa vụ, khả năng phát triển của rễ, thân,
nhu cầu sinh lý về phân bón, đồng thời dựa vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất.
Lượng phân bón: Phân chuồng: 10 - 15 tấn/ha. Đạm Ure: 300 - 40 kg/ha. Supe
lân: 300 - 450 kg/ha. Kali: 120 - 150 kg/ha. Đối với đất bãi ven sông được bồi
hàng năm, đất phát triển trên đá bazan thì không cần bón phân chuồng.
+ Cách bón:
Đối với điều kiện ít phân với giống ngô dài ngày
Bón lót: bón toàn bộ phân chuồng + toàn bộ lân + 1/3 đạm (bón vào
rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt).
Bón thúc: bón làm 2 đợt:
Đợt 1: khi ngô 3-4 lá bón 1/3 đạm + 1/2 kali
Đợt 2: khi ngô 7-9 lá bón 1/3 đạm + 1/2 kali
bẹ ngô chuyển từ màu xanh sang màu vàng rơm, nếu là ngô lai chân hạt đã có
điểm đen). Không nên để ngô chín treo đèn ở ngoài nương rồi mới thu hoạch,
vì khi ngô chín treo đèn, nếu gặp mưa hoặc ẩm độ không khí cao, ngô dễ bị
thối, mốc, nảy mầm tại ruộng, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ngô bảo
quản. Chọn ngày khô ráo, nắng để thu hoạch ngô nhằm hạn chế ngô bị ướt do
mưa. Nếu ngô chín vào đợt mưa dài ngày (nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc,
vụ thu hoạch ngô thường trùng vào các dịp này), việc nên làm là cần vặt râu,
bẻ gập bắp ngô chúi xuống để nước mưa không thâm vào trong làm thối hỏng
16
hạt ngô. Đến khi nắng ráo sẽ thu về phơi. Thu xong vận chuyển về nhà ngay,
và tránh đổ đống (vì sẽ làm đống bắp nhanh chóng bốc nóng, toả nhiệt gây
thối mốc) [7].
c. Nhân tố kinh tế xã hội
+ Thị trường giá cả
- Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại
của cơ sở sản xuất ngô, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường:
Mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả
lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và
sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang tính
định hướng. Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị
trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với
hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra. Ngô là cây lương thực cũng là 1 sản phẩm
nông nghiệp mang tính thời vụ cao, nếu bán tại đúng thời điểm thì sẽ được giá
cao. Ngô mà không bảo quản kỹ rất rễ bị hỏng dẫn khó tiêu thụ. Thị trường
tiêu thụ không ổn định, ảnh hưởng tới giá, và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống
người dân. Chính vì vậy người dân cần quan tâm tới thông tin này để có thể
nâng cao hiệu quả kinh tế của gia đình.
- Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương
thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được là
tối đa. Còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ
Mục đích cơ bản của chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn phát
triển kinh tế đất nước nâng cao đời sống cho người nông dân. Với những
nghiên cứu sâu và rộng của cơ quan nghiên cứu. Cây ngô đã nằm trong cây
lương thực cần phát triển trong tương lai. Với giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
cao cùng với khả năng cho năng suất cao, cây ngô sẽ nâng cao mức thu nhập
cho người dân, từ đó đáp ứng mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
- Sử dụng đất đai có hiệu quả phá thế độc canh của lúa nước
Với một nền nông nghiệp lúa trước kia, cây ngô thường được coi là cây
lương thực bổ sung. Nhưng hiện nay với yêu cầu chuyển đổi đa dạng hóa cây
trồng, việc phát triển cây ngô là phù hợp. Đi đôi với việc tăng năng suất chất
lượng của cây ngô là việc chuyển đổi những vùng đất không thích hợp đối với
trồng lúa sang cây trồng có hiệu quả hơn là ngô.