đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế của cây sắn tại xã nghĩa hành - huyện tân kỳ - tỉnh nghệ an - Pdf 13

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa và
ngô. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn
dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông
hộ. Sắn chủ yếu dùng để bán, kế đến dùng làm thức ăn gia súc, chế biến thủ
công và tiêu thụ tươi.
Cây sắn là một loại cây truyền thống ở Việt Nam và cũng là một trong
những loại cây trồng quan trọng đối với an toàn lương thực ở vùng núi. Kể từ
năm 2002, các loại sắn công nghiệp được trồng và nhiều nhà máy chế biến
tinh bột sắn được xây dựng ở khu vực Bắc Miền Trung, người nông dân đã có
thêm nhập từ việc trồng sắn. Sắn cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu
và tiêu thụ trong nước. Sắn là nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio-
ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia
dược phẩm, màng phủ sinh học và chất giữ ẩm cho đất. Sản phẩm sắn xuất
khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn. Thị trường chính là
Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc. Đầu tư nhà máy chế
biến bio - ethanol là một hướng lớn triển vọng.Sắn là cây trồng có nhiều công
dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm
Sắn đựơc nông dân ưu trồng vì: có khả năng sử dụng tốt các đầt đã kiệt: cho
năng suất cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và sử dụng ít nhân công, thời
gian thu hoạch kéo dài nên thuận rải vụ. Nghề trồng sắn thích hợp với những
hộ nông dân nghèo, ít vốn. nhưng nhược điểm trồng sắn làm kiệt đất; Củ sắn
nghèo đạm và vitamin, có độc tố HCN trong sắn củ tươi; Chế biến sắn gây ô
nhiễm môi trường.
Tân Kỳ là một huyện miền núi phía tây của tỉnh Nghệ An, cách thành
phố Vinh 90 km. Huyện có đường Hồ Chí Minh đi ngang qua. Huyện lỵ là thị
trấn Tân Kỳ, là huyện miền núi có nhiều diện tích đất bãi, đồi thấp. Diện tích
lớn thuận lợi cho các loại cây trồng hàng năm và dài ngày, Như: keo, tràm,
cao su, mía, lạc, Nghĩa Hành là một Xã của huyện với nền kinh tế chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua nhờ các chủ trương

2.1.2. Nguồn gốc
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được
trồng cách đây khoảng 5.000 năm. Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết
tại vùng đông bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều
chủng loại sắn trồng và hoang dại. Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico
ở Trung Mỹ và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ. Bằng chứng về nguồn
gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước
Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm
trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía
Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh
bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến
năm 200 trước Công nguyên, ( Rogers 1936, 1965).
3
2.1.3. Vùng phân bố
Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới, tập trung nhiều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm của
hơn 500 triệu người ( CIAT, 1993)
2.1.4. Lịch sử phát triển
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế kỷ
16. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm 1558. Ở
châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17. SriLanka đầu thế kỷ
18 Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myamar và các nước châu Á khác
ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 [4].
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18. Hiện chưa có
tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn được canh tác phổ
biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam. Diện tích sắn trồng
nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du
phía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ [7].
2.1.5. Vị trí kinh tế của cây sắn
- Giá trị sử dụng: Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến

cao vì sử dụng hiệu quả tiền vốn, đất đai, tận dụng tốt các loại đầt nghèo dinh
dưỡng. Sắn đạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và
trồng đúng quy trình canh tác sắn bền vững. Sắn đựơc nông dân ưu trồng vì:
có khả năng sử dụng tốt các đầt đã kiệt: cho năng suất cao và ổn định, chi phí
đầu tư thấp và sử dụng ít nhân công, thời gian thu hoạch kéo dài nên thuận rải
vụ. Nghề trồng sắn thích hợp với những hộ nông dân nghèo, ít vốn.
2.1.6. Tác động của sản xuất sắn đến môi trường
Sắn là loại cây rất dễ trồng và cho năng suất, thu nhập cao. Một số địa
phương đã xếp cây sắn vào những cây xóa đói, giảm nghèo cho người dân,
nhưng chưa lường hết được hậu quả tác hại của việc trồng sắn. Trồng sắn
nhiều là tác nhân gây nên sa mạc hóa tài nguyên đất, xói mòn, lũ lụt cục bộ
ảnh hưởng đến môi trường. Bên cạnh đó, các nhà máy chế biến tinh bột sắn
cũng tác động rất lớn đến môi trường sinh thái, nhất là làm ô nhiễm nguồn
5
nước và không khí. Việc có hay không nên tiếp thục tăng diện tích sản xuất
sắn là vấn đề được sự quan tâm của nhiều người, bởi những hiệu quả mang lại
là đáng kể song đấy phải chăng chỉ là lợi ích trước mắt và hậu quả của nó về
sau sẽ như thế nào nếu việc canh tác sắn không đúng với khoa học.
Nhiều chuyên gia trên lĩnh vực nông nghiệp đã đưa ra lời cảnh báo về tác
hại của việc trồng sắn có thể dẫn đến hiện tượng sa mạc hóa đất đai. Theo các
nhà khoa học, rễ cây sắn lấy các chất hữu cơ trong đất và thải ra một loại a-xít
có hại cho cây trồng, đồng thời làm chai cứng nền đất và hủy diệt các vi sinh
vật có lợi cho cây trồng. Đất sau khi trồng sắn sẽ phải mất rất nhiều thời gian
mới có thể trồng được các loại cây khác.
Trước đây, Trung Quốc và Thái Lan là hai nước có diện tích trồng sắn
lớn nhất châu Á và cung cấp phần lớn bột sắn cho thế giới. Sau nhiều năm
canh tác loại cây này, đất đai bạc màu, chai cứng không thể trồng các loại cây
khác. Chính phủ hai nước này đã có nhiều biện pháp khuyến cáo và cấm
người dân không được trồng sắn để giữ nguồn tài nguyên đất. Từ khi Chính
phủ Trung Quốc và Thái Lan không còn trồng sắn thì giá bột sắn trên thị

để cho các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học. Theo ước tính của Bộ Công
thương, với tổng diện tích vào khoảng 510.000 ha, năng suất bình quân 18,7
tấn/ha, năm nay tổng sản lượng sắn cả nước ước đạt khoảng 8,1 - 8,6 triệu tấn.
Nếu trừ đi 22,4% sản lượng vào chế biến thức ăn chăn nuôi; 16,8% cho chế
biến thủ công và 12,2% dùng ăn tươi, thì còn khoảng 48,6% (tương đương
hơn 4 triệu tấn sắn) cho xuất khẩu.
Các chuyên gia kinh tế đánh giá rằng, bên cạnh mặt được, không thể
không nhìn thấy mặt trái của việc phát triển loại sản phẩm này với khối lượng
lớn sẽ dẫn đến nguy cơ tái diễn tình trạng phát triển ồ ạt diện tích trồng sắn,
kể cả việc phá rừng lấy đất trồng sắn, đồng thời sản xuất tăng càng ảnh hưởng
tới môi trường.
Theo nhận định của Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn) Nguyễn Trí Ngọc, sắn là một cây trồng mà ngành nông
nghiệp chưa một lần khuyến khích phát triển, nhưng diện tích sắn mấy năm
nay tăng đến mức báo động. Nếu năm 2005, diện tích trồng sắn của cả nước ở
mức 270.000ha, đến nay đã tăng vọt lên gần gấp 2 lần, tương đương
7
510.000ha, vượt tới 135.000ha so với quy hoạch phát triển cây sắn. Trong đó,
tăng nhiều nhất là tỉnh Gia Lai với 16.000ha, Đăk Lăk gần 6.000ha, Kon Tum
trên 5.000ha Thực chất, đây là sự tăng trưởng đáng lo ngại vì việc mở
rộng diện tích sắn một cách ồ ạt có lợi trước mắt nhưng về lâu dài sẽ làm suy
giảm chất dinh dưỡng trên đất trồng sắn, bởi chỉ sau 2 - 3 vụ trồng sắn, đất sẽ
trở nên vô dụng, nghèo kiệt, bạc màu. Theo ông Ngọc, không phải ngẫu nhiên
mà Thái Lan, nước gần và có điều kiện thổ nhưỡng tương tự Việt Nam không
xem sắn là cây trồng chính. Điều đặc biệt nguy hại, sắn mọc tới đâu thì rừng
bị tàn phá tới đó. Sự phát triển quá nhanh và tự phát diện tích sắn đã làm phá
vỡ quy hoạch nhiều loại cây trồng khác ở các tỉnh, đặc biệt là vùng Đông
Nam bộ và Tây Nguyên.
Hiện Việt Nam có khoảng 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn quy mô công
nghiệp (công suất 3,8 triệu tấn củ sắn tươi). Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm

2003 17,59 10,79 189,99
2004 18,51 10,94 202,64
2005 18,69 10,87 203,34
2006 20,50 10,90 224,00
2007 18,39 12,16 223,75
2008 21,94 12,87 238,45
(Nguồn: FAO, 2008)
Kết quả ở bảng cho thấy : diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế
giới có chiều hướng gia tăng từ năm 2000 đến nay . Năm 2008, sản lượng sắn
thế giới đạt 238,45 triệu tấn củ tươi so với 223,75 triệu tấn năm 2007 và năm
1995 là 161,79 triệu tấn. Nước sản xuất sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu
tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Nước
có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09
tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha . Việt Nam
đứng thứ mười về sản lượng sắn trên thế giới (9,38 triệu tấn).
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
9
Ở Việt Nam, cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây
công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã tăng nhanh ở thập
kỷ đầu của thế kỷ XXI (Bảng 2.1). Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của
các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh
thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Nghiên cứu và phát triển cây sắn theo hướng
sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn là việc làm có hiệu quả cao, đây là
hướng hỗ trợ chính cho việc thực hiện Đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học
đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại quyết định số 177/2007/ QĐ-TT ngày 20 tháng 11 năm 2007.
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam qua các năm
Năm
Diện tích
(nghìn ha)

(tấn/ha)
SL
(1000tấn)
1 Đồng bằng sông Hồng 7,90 12,92 102,10
2 Trung du và miền núi phía Bắc 110,00 12,07 1.328,00
3 BTB và Duyên hải miền Trung 168,80 16,64 2.808,30
4 Tây Nguyên 150,10 15,70 2.356,10
5 Đông Nam Bộ 113,50 23,74 2.694,50
6 Đồng bằng sông Cửu Long 7,40 14,43 106,80
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009)
2.3. Một số hiểu biết về hiệu quả
2.3.1. Khái niệm và ý nghĩa của hiệu quả
Hiệu quả là một thuật ngữ dùng để chỉ các mối liên hệ giữa kết quả thực
hiện với các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có
kết quả đó trong điều kiện nhất định.
Đối với các phương án hành động khác nhau, hiệu quả chính là chỉ tiêu
để phân tích, đánh giá và lựa chọn chúng.
Hiệu quả được biểu hiện theo nhiều góc độ khác nhau, vì vậy hình thành
nhiều khái niệm khác nhau: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi
trường, hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối
2.3.2. Hiệu quả kinh tế
2.3.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh chất lượng các
hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ quản lý, khai thác và sử dụng các
nguồn lực của các nhà quản lý. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về
hiệu quả kinh tế.
11
- Theo giáo sư Nguyễn Tiên Mạnh: “Hiệu quả kinh tế của một hiện
tượng (hay quá trình) kinh tế là phạm trù kinh tế phản ảnh trình độ sử dụng
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để đạt được mục tiêu xác định”.

hóa trên đơn vị hao phí lao động xã hội tối thiểu.
Đối với phạm vi đề tài này, tôi tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế của
sản xuất sắn. Bên cạnh đó còn tìm hiểu hiệu quả về xã hội và môi trường.
2.3.2.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh giữa kết quả sản xuất
kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn để nghiên cứu chủ yếu ở một số
dạng sau:
- Dạng thuận (toàn bộ): Hiệu quả chi phí được xác định bởi tỷ số giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra.
H = Q/C ; H = Q – C
H: Hiệu quả
Q: Lượng kết quả đạt được
C: Chi phí hoặc yếu tố đầu vào
- Dạng thuận ( cận biên): là tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả đối
với phần tăng thêm của chi phí.
H
b
= Q/ C H = Q - C
H
b
: Hiệu quả cận biên
Q : Lượng kết quả tăng thêm
C: Chi phí hoặc các yếu tố đầu vào tăng thêm
- Dạng nghịch: Để tăng thêm một đơn vị kết quả thì cần tăng thêm bao
nhiêu đơn vị chi phí.
Như vậy, các chỉ tiêu hiệu quả được tính toán trên cơ sở xác định các yếu
tố đầu vào và các yếu tố đầu ra. Tuy nhiên, mỗi cách tính đều có những hạn
chế nhất định, chưa phản ánh hết các khía cạnh của hiệu quả kinh tế.
Nếu hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi nhuận thuần túy thì hiệu quả kinh tế

- Giá trị gia tăng tính chi một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC): là
chỉ tiêu phản ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra để
14
đầu tư cho sắn thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng. Đây là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được.
- Giá trị sản xuất/sào (GO/sào): là chỉ tiêu cho biết bình quân một sào
sắn thu được bao nhiêu đơn vị giá trị sản xuất.
- Giá trị gia tăng/lao động (VA/LĐ): là chỉ tiêu phản thu nhập tăng
thêm cho một lao động.
2.3.4. Hiệu quả xã hội và môi trường
Hiệu quả xã hội là phản ánh những tác động của hoạt động sản xuất
kinh doanh đến các yếu tố xã hội. Một trong những yếu tố quan trọng là khả
năng giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương. Tác động đến cơ
cấu lao động, sự di cư. Thông qua đó có những tác động tích cực hay tiêu cực
để đánh giá phù hợp với tình hình sản xuất. Ở đây đi xem xét hoạt động trồng
sắn có tác động như thế nào đến khả năng tạo công ăn việc làm.
Hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng tới môi trường,
sự tác động này có thể tích cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên, có những hoạt động ảnh
hưởng nhiều có hoạt động ảnh hưởng ít. Điều này thể hiện ở chỗ những biến đổi
của các yếu tố môi trường như đất, nước, không khí, sinh vật…Phế phẩm từ hoạt
động trồng sắn cũng có ảnh hưởng nhất định đến môi trường.
15
PHẦN 3. NỘI DUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ trồng sắn tại xã Nghĩa Hành.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Xã Nghĩa Hành, Huyện Tân Kì, Tỉnh Nghệ An
Về mặt thời gian: Đánh giá thực trạng tình hình sản xuất Sắn trong giai
đoạn 2008-2010
3.3. Nội dung nghiên cứu

- Cấp huyện: báo cáo của trạm khuyến nông huyện Tân Kỳ về thực trạng trồng
sắn của huyện trong những năm qua. Các nghiên cứu và báo cáo có liên quan.
- Cấp xã: thu thập các báo cáo kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, khí hậu
thời tiết của vùng, các thống kê về diện tích tình hình sản xuất cây sắn của
vùng, các báo cáo của của khuyến nông xã về tình hình sản xuất cây sắn của
xã, các dự án, báo cáo nghiên cứu có liên quan.
- Cấp thôn: báo cáo kinh tế xã hội của thôn, tình hình sản xuất cây sắn về
diện tích, sản lượng, số hộ trồng
* Thu thập thông tin dữ liệu cấp hộ
- Phỏng vấn sâu : chủ tịch hội nông dân, cán bộ khuyến nông xã, 3 người
nông dân có kinh nghiệm trồng sắn
- Phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi: 60 hộ trồng sắn của 4 thôn, tiến hành
phỏng vấn theo bảng hỏi đã thiết kế.
Phân tầng hộ giàu, khá, trung bình với tỷ lệ hộ
khá : trung bình: nghèo = 1:1:1
3.4.4. Phương pháp phân tích dữ liệu
17
- Các thông tin thu thập từ bảng hỏi sẽ được xử lí trên phần mềm excel
- Phân tích thông tin định tính các báo cáo, tài liệu liên quan,các thông
tin ghi chép
- Phân tích thông tin định lượng về số hộ, diện tích trồng sắn, năng suất,
sản lượng sắn.… trên phần mềm excel và SPSS 16.0 for windows để tính các
tham số thống kê và độ tin cậy.
18
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Nghĩa Hành
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Xã Nghĩa Hành, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An nằm ở phía Đông Nam
huyện Tân Kỳ cách trung tâm huyện 15km, gồm có 14 xóm.

Đất trồng loại khác 287,58 7,89 341,23 9,37 321,83 8,83
1.2. Đất lâm nghiệp 2369,84 65,08 2369,40 65,07 2369,40 65,07
1.3.3. Đất NTTS 48,95 1,34 48,95 1,34 49,00 1,34
II. Đất phi NN 360,76 9,90 360,88 9,91 360,89 9,91
2.1. Đất ở 38,05 1,04 38,17 1,05 38,18 1,05
2.2 Đất chuyên dùng 143,51 3,94 143,51 3,94 143,51 3,94
2.3. Đất phi NN khác 179,20 4,92 179,20 4,92 179,20 4,92
III. Đất chưa sử
dụng
5,11 0,14 4,76 0,13 4,10 0,11
(Nguồn: UBND Xã Nghĩa Hành, 2010)
Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy: tài nguyên đất ở xã Nghĩa Hành là khá lớn
với tổng diện tích ổn định qua các năm là 3641,2 ha. Trong đó tổng diện tích
đất nông nghiệp chiếm phần lớn, cụ thể chiếm 89,9% tổng diện tích tài
nguyên đất. Đất sản xuất nông nghiệp dùng cho trồng sắn, lúa và các loại cây
khác. Đất lâm nghiệp chiếm 65% tổng diện tích điều đó chúng ta có thể thấy
được phần nào địa hình của xã nói chung, với đặc thù là một xã miền núi, đất
đai không bằng phẳng. Đất lâm nghiệp chủ yếu được trồng các loại cây như:
bạch đằng, keo, cao su Đất ở chỉ chiếm hơn 1% tổng diện tích. Và đất chưa
được sử dụng vào mục đích gì chiếm 0,11 %.
20
- Khí hậu, thời tiết
Xã Nghĩa Hành huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An thuộc giải đầu miền trung
vì thế thời tiết khí hậu đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mà thời
tiết khí hậu là một yếu tố khách quan, nó tác động đến sự sinh trưởng, phát
triển cũng như năng suất và phẩm chất của sản phẩm nông nghiệp.
Nhiệt độ trong năm thay đổi theo các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 là
nhiệt độ cao, từ tháng 3 đến tháng 11 là nhiệt độ thấp. Các tháng 5,6,7,8 nhiệt
độ thường lên cao, cao nhất là 40
0

mới có khả năng tránh được phần nào rủi ro, thiệt hại do thiên tai tạo ra.
- Đặc điểm kinh tế xã hội của Xã.
+ Tình hình dân số và lao động
Tình hình dân số và lao động của xã được thể hiện qua bảng 4.2
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động của Xã Nghĩa Hành qua 3 năm
1. Tổng số hộ Hộ 1352 1358 1399
1.2. Hộ nghèo Hộ 365 338 245
1.3. Số hộ thoát nghèo Hộ 88 163 15
2. Tổng số nhân khẩu Khẩu 6610 6687 6730
3. Lực lượng LĐ Người 3707 3709 3711
3.1. Tỷ lệ LĐ qua ĐT % 11 12 12
3.2. LĐNN Người 2760 2749 2738
3.3.LĐCN Người 336 338 342
3.4. LĐDV Người 611 622 631
4. Bình quân đất canh tác trên 1
LĐNN
Sào 6 6 6
(Nguồn: báo cáo của UBND Xã Nghĩa Hành năm 2010)
Kết quả ở bảng 4.2 cho thấy: tổng số hộ và nhân khẩu của xã trong vòng
3 năm qua không ngừng tăng lên, năm 2010 đã tăng tới 45 hộ. Lực lượng lao
động dồi dào, đây cũng là một thuận lợi trong việc bố trí và sử dụng lao động
tại địa phương trong thời điểm mùa vụ song đó cũng là một cản trở gây
không ít khó khăn trong việc ổn định đời sống của nhân dân và giải quyết
công ăn việc làm. Bởi lao động được qua đào tạo là rất thấp chỉ chiếm 11-
12% trong tổng số lực lượng lao động. Và chúng ta cũng thấy rõ lực lượng lao
động ở đây phần lớn là lao động nông nghiệp tuy rằng tỉ lệ này có giảm thay
vào đó là lao động công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhưng không đáng kể. Diện
22
tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người cao (0.31 ha/ người) chứng tỏ
lao nông nghiệp trong xã chiếm tỉ trọng lớn.

405 45 376 40 360 45
Ngô
174 34 117 38 150 40
Mía
140 650 150 500 184 500
Sắn
100 200 110 300 130 250
Lạc
30 12 32 14 27 15
Rau
35 50 37 55 35 55
Dưa
40 250 40 300 50 250
Khoai
15 18 19 20 10 20
(Nguồn: báo cáo kinh tế - xã hội của UBND Nghĩa Hành năm 2010)
Kết quả ở bảng 4.3 cho thấy: các loại cây trổng chủ yếu của xã là Lúa,
ngô, mía, sắn, ngoài ra còn có các cây trồng như lạc, dưa, khoai, đậu, vừng
tổng thu mang lại từ trồng trọt khá lớn. Năm 2009 tổng thu 18.810.800.000đ
và năm 2010 tăng đáng kể, tổng thu lên tới 26.258.000.000đ. Ta thấy rõ diện
tích trồng lúa giảm dần qua các năm thay vào đó là diện tích trồng mía tăng.
Diện tích trồng Ngô và Sắn có giảm vào năm 2009 nhưng năm 2010 lại có
tăng lên đáng kể góp phần tăng thu nhập cho người dân trong vùng. Tổng
lương thực năm 2009 đạt 19940 tấn, năm 2010 đạt 2662 tấn. Xã đã xây dựng
và quy hoạch các vùng nguyên liệu Mía. Tổng diện tích trồng mía năm 2010
lên tới 184 ha tăng 34 ha so với năm 2009. Năng suất các cây trồng nói chung
đều tăng.
Diện tích rừng trồng ngày càng tăng, năm 200 ha trồng mới được 85ha,
diện tích rừng là 798 ha đến năm 2010 diện tích tăng lên 805 ha. Giá trị thu về
lâm nghiệp năm 2010 là 1.200.000.000đ.

- Ưa thâm canh và đất tốt.
Ngoài ra cách đây vài năm thì vẫn có giống sắn trắng của địa phương,
loại sắn trồng chỉ để ăn trong gia đình chứ không phải để bán nhưng nay
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status