Đánh giá thực trạng và phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã thái sơn, ,huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại hiện nay, sự bùng nổ của những thành tựu khoa học
công nghệ được ứng dụng vào sản xuất và đời sống đã làm tăng đáng kể của
cải, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, song một bộ phận dân cư
vẫn bị nghèo đói. Đó là nghịch lý trên con đường phát triển. Với khoảng dân
số thế giới,tức khoảng 1.2 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo khổ thu
nhập dưới 1USD/ngày, 800 triệu người đói, 40 triệu người chết 1 năm do đói
và đang trở thành vấn đề nhức nhối.
Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Theo Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), hiện nay 90% số hộ nghèo của cả nước
là nằm ở nông thôn và chiếm từ 13% đến 15% dân số là ở nông thôn, trong đó
vùng sâu, vùng xa và miền núi chiếm tới 40%. Phần lớn hộ nghèo nằm trong
hộ thuần nông. Theo chuẩn nghèo (2009) trên cả nước Việt Nam hiện có
khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số cả nước. Nông nghiệp nông
thôn Việt Nam có nhiều mặt biến chuyển tốt. Trong quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, một số số hộ nông dân trở thành hộ giàu có, thu nhập và đời sống
tăng lên rõ rệt. Ở những vùng khác nhau đã có những ông chủ trang trại, chủ
trại rừng Bên cạnh một số hộ giàu và khá giả trong nông thôn hiện nay, đại
bộ phận kinh tế hộ nông dân còn thuộc diện trung bình và nghèo. Đặc biệt là
ở vùng nông thôn và miền núi. Trong những năm qua được sự chỉ đạo của cấp
uỷ Đảng và chính quyền địa phương, sự nỗ lực của toàn thể quần chúng,
phong trào xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng được phát triển sâu
rộng đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo và vươn lên khá giả, một số
nơi đã thanh toán được nạn đói kinh niên. Chủ trương chính sách của Đảng ta
là: Xoá đói giảm nghèo đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, thu hẹp
dần khoảng cách thu nhập giữa các vùng và các tầng lớp dân cư.
1

nghèo của các hộ nông dân trong nền kinh tế thị trường nông thôn hiện nay.
2
3
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nhằm
giảm nghèo cho các hộ nông dân ở xã Thái Sơn huyện Hàm Yên trong những
những năm tới.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học
Đề tài là kết quả của sự phân tích tổng hợp tìm tòi học tập giúp cho
sinh viên:
- Bổ xung các kiến thức về nghèo đói đã được học về lý thuyết trong
nhà trường.
- Bổ xung những kiến thức về xác định thực trạng và nguyên nhân
đói nghèo.
- Giúp sinh viên được tiếp cận với thực tế, nâng cao kiến thức cho
bản thân.
- Có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo đói của người dân tại xã
- Trang bị thêm kinh nghiêm thực tế khi ra công tác.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng giải pháp nhằm góp
phần xóa đói giảm nghèo cho địa phương.
Đối với công tác xóa nghèo của xã. Thông qua đề tài các lãnh đạo địa
phương có thể nhìn nhận rõ hơn về nguyện vọng và khó khăn của người dân,
đặc biệt là người nghèo là gì. Từ đó công tác xóa nghèo tại địa phương đạt
hiệu quả cao nhất.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

Theo ngân hàng thế giới “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở danh
giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải
đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê, mất
phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng ” [9].
Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn cho nạn nghèo tuyệt đối. Bước tiếp đưa ra mức ranh giới nghèo (chuẩn
nghèo) cho từng địa phương, từng khu vực. Được xác định từ 2 đôla/
người/ngày cho châu Mỹ La Tinh và từ 3 - 4 đôla/người/ngày là cho những
vùng Đông Âu, cho đến 14 đôla/người/ngày cho những nước công nghiệp [9].
Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các
tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã
hội nhất định so với sự đáp ứng đầy đủ của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể coi là khách quan, tức là sự hiện hữu không
phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo
tương đối.Khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào
điều kiện khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất, và việc thiếu
sự cung cấp nhu cầu phi vật chất ngày càng được coi trọng. Việc nghèo đi về
văn hóa xã hội, thiếu sự tham gia các hoạt động trong cuộc sống cộng đồng là
do thiếu hụt về tài chính (Những người nghèo) xem như là một thách thức cho
các các cấp chính quyền về công tác xóa nghèo toàn diện cho người dân [9].
2.1.1.2. Phương pháp xác định chuẩn nghèo của một số quốc gia trên thế giới
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá
mức độ giàu nghèo. Nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế
kỷ trước, cụ thể, thu nhập 18.600 đô la/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia
đình có bốn người (gồm bố mẹ và hai con), và thu nhập 9.573 đô la/năm là
ngưỡng nghèo đối với người độc thân trong độ tuổi lao động. Theo chuẩn này
thì năm 1993 nước Mỹ có 15,1% dân số nghèo khổ, năm 2000 tỷ lệ đó giảm
xuống còn 11,3%, nhưng tới năm 2003 thì tỷ lệ người nghèo của nước Mỹ

cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần
lớn người lao động tự hành nghề.
- WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:
+ Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực
gọi là ngưỡng nghèo lương thực.
6
7
+ Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương
thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.
- Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều
tra mức sống 1998 là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu
cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày. Người
dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực. Dựa trên giá cả thị trường để tính
chi phí cho rổ lương thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ
lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm.
- Cách xác định ngưỡng nghèo chung
Ngưỡng nghèo
lương thực
Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là
503038 đồng/người/năm từ đó ta còn ngưỡng nghèo chung là 1789871
đồng/người/năm.
Quan điểm của tổng cục thống kê Việt Nam
- Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việt Nam được xác định
bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương
thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người.
Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp
vào diện nghèo.
Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội
- Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng
nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả

nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính
trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế _ xã hội miền núi
“ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là
Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế xã hội
miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế xã hội vùng cao, miền núi
ngày càng đạt được nhiều thành tựu. Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối
với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một
cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ.
Trong tình hình đó sự phân hoá giầu nghèo ngày càng rõ nét. Một
nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên. Một nhóm lớn
vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi., kiếm tìm nguồn lực, phương
sách tăng thu nhập. Nhóm đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô hạt lúa, hứng
8
9
chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng. Không có lương thực cũng có
nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào
vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong
khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên. Phương sách đơn giản và đỡ
tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm
chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc
phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống.
Tuy chưa có cuộc điều tra riêng rẽ chính xác cho vùng dân tộc thiểu số,
nhưng hai cuộc điều tra chung ở nông thôn cả nước đều cho thấy kết quả là
mức độ nghèo đói diễn ra trầm trọng nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc,
vùng duyên hải Trung bộ và Tây nguyên. Kết quả cuộc điều tra năm 1992 về
các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng, Mông, Ơ Đu, Khơmú, Ê Đê, Gia Rai, Ba
Na, Xơ Đăng trên địa bàn miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, miền Trung và Tây
Nguyên đã cho một kết luận đáng chú ý về tỷ lệ phân hoá giầu nghèo như sau:
Giàu, khá: 9,3%

bàn kết thúc. Đó là nhóm thiếu bền vững.
Nhóm thứ ba: Đây là nhóm chiếm đa số là những người không hoặc rất
ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày
càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương hoặc phát đồi rừng
làm nương để hy vọng có lương thực khá hơn, thậm chí ngay cả trong điều
kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra
hoặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống. Tâm lý dân tộc
thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các
nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là những người
neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền
kinh tế không ngừng tăng trưởng.
Mặc nhiên hộ là dân tộc thiểu số hay đa số nhưng khi cư trú ở các khu
vực miền núi có khó khăn thì họ phải chịu đựng những thiệt thòi chung. Dù
cho sự thiệt thòi có khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng tạo thu nhập, sáng kiến
của các dân tộc. Trong cuộc điều tra năm 1992 người Tày đông đứng đầu
trong các dân tộc thiểu số sống tập trung ở Việt Bắc, có tỷ lệ đói nghèo chiếm
tới 58,1%. Ngoài sự khác biệt về vùng có chênh lệch khá lớn thì một thực tế
cho thấy trong 53 dân tộc thiểu số cũng có sự phân cách nhất định giữa các
nhóm đầu bản, giữa bảng và cuối bảng về mức độ giầu nghèo. Những dân tộc
10
11
Thái, Mường, Tày thường đứng ở những bậc thang cao hơn cả. Họ vùa có số
dân đông, nơi cư trú khá thuận lợi, trình độ dân trí cao.
Một nhóm dân tộc quá ít người thường chịu những thiệt thòi hơn. Có
thể là do lịch sử để lại những yếu kém tồn tại. Họ không đủ lực để tranh chấp
những vùng đất mầu mỡ hoặc họ đến sau những nơi tươi tốt đã thuộc về dân
tộc khác đến trước. Có thể họ bị chèn ép, họ tự ý dắt nhau đi sâu vào những
vùng hoang vắng. Những vấn đề ấy trong lịch sử của bất kỳ một quốc gia nào
cũng có thể diễn ra, không phải là hiện tượng cá biệt. Di chứng lịch sử để lại
nên họ đành phải chấp nhận một số phận ít may mắn hơn các dân tộc khác và

liệu từ năm 2005 cho những số liệu tuyệt đối về số lượng người sống trong
cảnh nghèo đói (tránh nhầm lẫn với các biện pháp tương đối thường được sử
dụng ở các nước giàu). Các ước tính mới cho thấy, trong năm 2008, năm đầu
tiên của cuộc khủng hoảng tài chính và lương thực, cả số lượng và tỷ lệ người
có mức sống dưới 1,25 USD/ngày (mức được xếp loại nghèo đói theo chuẩn
giá cả năm 2005) đã giảm trên mọi khu vực của thế giới. Đây là lần suy giảm
rộng khắp đầu tiên kể từ khi WB bắt đầu tổng hợp số liệu năm 1981.
Các ước tính cho năm 2010 vẫn chưa hoàn chỉnh, song theo WB, chúng
cho thấy tình trạng nghèo đói toàn cầu năm đó chỉ bằng 1/2 mức năm 1990.
Như vậy, thế giới đã đạt “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ "của LHQ là giảm tình
trạng đói nghèo trên thế giới xuống còn một nửa từ năm 1990 đến 2015- sớm hơn
5 năm. Điều này cho thấy, mặc dù cuộc khủng hoảng kép, tốc độ giảm nghèo dài
hạn vẫn được duy trì ở mức trên 1% trong giai đoạn 2008-2010.
Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này. Một nửa
tỷ lệ suy giảm dài hạn của đói nghèo là nhờ đóng góp của nước này với
khoảng 660 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói tính từ năm 1981. Trung
Quốc cũng là động lực chính cho sự tiến bộ phi thường của Đông Á, khu vực
mà vào đầu những năm 1980 có tỷ lệ nghèo đói cao nhất trên thế giới, với
77% dân số sống dưới 1,25 USD/ngày. Trong năm 2008, tỷ lệ này chỉ còn là
14%. Nếu không nhờ Trung Quốc, con số có thể kém ấn tượng rất nhiều.
Trong số khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức 1,25 USD/ngày trong năm 2008
thì có tới 1,1 tỷ người sống bên ngoài Trung Quốc.
Nếu Trung Quốc có đóng góp lớn nhất cho việc cải thiện tình hình đói
nghèo dài hạn thì châu Phi là sự chuyển biến lớn nhất gần đây. Châu Phi là
lục địa duy nhất có số lượng người nghèo tăng liên tục trong các năm 1981 tới
2005. Số lượng này gần như tăng gấp đôi từ 205 triệu người vào năm 1981
lên tới 395 triệu người trong năm 2005. Nhưng trong năm 2008, con số này
đã giảm được 12 triệu người, tương đương 5%, đưa tỷ lệ người nghèo tại châu
lục này lần đầu tiên xuống dưới một nửa dân số, khoảng 47%. Số lượng người
12

tăng dân số. Nhóm những người cực nghèo dường như đã thoát khỏi điều tồi
tệ nhất của suy thoái sau năm 2007. Nhưng vẫn còn rất nhiều điều phải làm
cho nhóm còn lại, nhóm người có thu nhập từ 1,25-2 USD/ngày.
13
14
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là hộ nghèo và các hộ nông dân trên
địa bàn xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: đề tài nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi
xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Thời gian nghiên cứu: từ 16/02/2012 đến 19/05/2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Thứ 1: Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại xã Thái Sơn -
huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang .
Thứ 2: Điều kiên tự nhiên: Vị trí địa lý, điều kiện địa hình, điều kiện
khí hậu địa hình thủy văn, tài nguyên thiên nhiên.
Thứ 3: Điều kiện kinh tế - xã hội: Tình hình dân số và lao động, cơ sở
hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất, hoạt động tăng trưởng kinh tế kinh tế,
điều kiện xã hội.
Thứ 4: Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và những yếu tố ảnh hưởng
chính đến nghèo tại xã Thái Sơn.
Thứ 5: Phân tích các nguyên nhân nghèo của nhóm hộ điều tra.
Thứ 6: Một số giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa phương
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1. Thông tin thứ cấp
Những tài liệu về kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của các tỉnh miền

Tiến trình thực hiện nghiên cứu:
- Để bắt đầu đợt khảo sát trước tiên phải tìm hiểu chung địa bàn nghiên
cứu, gặp gỡ, làm quen trao đổi nội dung và cách làm với cán bộ địa phương.
Qua đó lắm bắt được quan điểm của lãnh đạo địa phương để có sự giúp đỡ
trong công việc tổ chức khảo sát của đề tài.
15
16
- Điều tra và hoàn thiện bộ câu hỏi phỏng vấn.
- Công việc khảo sát được tiến hành các buổi trao đổi ý kiến với cán bộ
lãnh đạo địa phương và cộng đồng người dân, tại hộ gia đình, trên đồng ruộng
- Thời gian phỏng vấn được bố trí vào lúc thuận tiện cho công việc của
người dân: Buổi trưa, buổi tối
3.4.2. Phương pháp sử lý số liệu
Quá trình xử lý và phân tích thông tin được thực hiên bằng máy tính sử
dụng: (Microsff offce access 2003, Microsff offce exel 2003, Microsff offce
word 2003) theo phương pháp thống kê, phân tích so sánh các mẫu thu thập.
16
17
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới công tác xóa đói
giảm nghèo của xã Thái Sơn,huyện Hàm Yên
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Thái Sơn là xã miền núi nằm ở phía Nam huyện Hàm Yên, cách
trung tâm thị trấn 14 km. Xã có 20 thôn, dân số năm 2011 có 1789 hộ và 7181
nhân khẩu, tổng diện tích đất tự nhiên là 4065,83 ha.
- Về địa giới hành chính:
- Phía Đông giáp xã Bình Xa phân cách bởi con sông Lô.
- Phía Tây giáp xã Thành Long.

thường hay bị phân cách bởi các núi do vậy đất rừng để trồng cây lâm nghiệp
không thể tập trung và chỉ phát triển trên những khu đồi có đất đai phù hợp
với quy mô diện tích nhỏ hẹp.
4.1.1.3. Điều kiện khí hậu, nguồn nước và thủy văn
Xã Thái Sơn mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm, hàng năm chia
thành 4 mùa rõ rệt. Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8.
Mùa mưa thường hay xảy ra lũ lớn, lũ và lốc xoáy cục bộ, lượng mưa cao. Xã
có môt con sông (sông Lô) chảy qua dọc theo phía Đông xã dài trên 12 km có
nhiều thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, nước tưới, soi bãi ven sông màu
mỡ nhưng cũng hay bị lũ lụt gây thiệt hại hoa màu và ách tắc giao thông
đường bộ, ngoài ra còn có hai con suối chảy từ phía tây nhập lại với nhau tại
km 31 và chảy xuôi theo hướng nam về xã Thái Hoà, đây cũng là con suối
thường gây lũ lụt cục bộ vào mùa mưa làm ách tắc giao thông và xô sỏi, cát,
đá vào đồng ruộng.
Về thuận lợi
Với khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm, nên các loại cây
trồng và sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, lượng mưa lại dải
hầu hết ở các tháng trong năm. Nước tưới tiêu cho các đồng ruộng và hoa
màu rất thuận lợi. Ao hồ và các công trình thuỷ lợi trên địa bàn xã luôn có
lượng nước tích trữ đảm bảo cho người dân sản xuất nông lâm nghiệp.
Về khó khăn
Với khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm, trong sản xuất
nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, các loại sâu bệnh hại thường phát triển
mạnh khi có điều kiện khí hậu thuận lợi làm thiệt hại đến năng suất và phẩm
18
19
chất của một số mặt hàng nông sản. Với lượng mưa tập nhiều vào tháng 7,
tháng 8 hàng năm làm cho mực nước của sông Lô, các suối và ao hồ dâng cao
gây lũ lụt và tàn phá đồng ruộng, hoa màu của nông dân, môt số hộ nuôi trồng
thủy sản còn mất trắng mỗi khi có lũ cục bộ, lũ cục bộ và mưa lớn còn làm xô

lượng thu gỗ là 17.000 m
3
, chất lượng rừng phòng hộ ở mức trung bình, do
trong khu vực địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, đất bạc màu. Khai thác sản phẩm
gỗ trên địa bàn xã chủ yếu là từng rừng sản xuất của tổ chức và hộ gia đình.
Thuận lợi
Đất rừng chiếm 53% diện tích nên rất phù hợp trong phát triển kinh tế
từ rừng, mà toàn bộ diện tích đất rừng của xã là diện tích đất rừng sản xuất.
Trong khi đó người dân nơi đây và chính quyền lại hiểu được lợi ích của
mang lại nên diện tích rừng của xã luôn được phủ xanh.
Khó khăn
Diện tích rừng trên địa bàn xã thường là những đồi nhỏ không tập trung
được thành một vùng chuyên canh chủ yếu là quy mô hộ gia đình. Sản xuất
kinh doanh về sản phẩm từ rừng chưa phát triển mới chú ý tới trồng rừng;
khai thác, tiêu thụ lâm sản từ rừng sản xuất của các hộ gia đình và tổ chức,
chủ yếu là tiêu thụ sản phẩm thô, chưa coi trọng khâu chế biến sản xuất để
giải quyết việc làm, tăng giá trị của sản phẩm, thu nhập cho người trồng rừng.
4.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản
Xã có nguồn khoáng sản đá vôi khá dồi dào tập trung tại khu vực trung
tâm xã, trữ lượng lớn có thể khai thác phục vụ nhiều mục đích khác nhau hiện
trưa có số liệu khảo sát trữ lượng. Có mỏ kao lanh trữ lượng lớn trải dài đến
xã Thành Long. Có nguồn quặng sắt rải rác phát lộ trên hầu khắp xã nhưng
trưa được đánh giá trữ lượng, quy mô, có nguồn sỏi cát xây dựng trên dòng
sông Lô trải dài 12 km dồi dào phục vụ cho xây dựng phát triển hạ tầng và
giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động.
Về thuận lợi là vùng đất có nhiều đá vôi, cát, sỏi phục vụ cho xây dựng
các công trình và cơ sở hạ tầng của xã, phục vụ cho người dân xây các công
trình nhà ở và các công trình phụ trong gia đình, sản xuất vật liệu xây dựng.
Một số nguồn tài nguyên khoáng sản (mỏ sắt, kao Lanh) có trữ lượng trải dài
khắp toàn xã rất thuận tiện phục vụ cho phát triển công nghiệp khai khoáng,

9 2 Minh Thái 67 3,75 295 4,11
10 34 56 3,13 187 2,59
11 31 168 9,39 610 8,49
12 1 Thái Bình 67 3,74 252 3,51
13 2 Thái Bình 121 6,76 571 7,95
14 3 Thái Bình 138 7,72 579 8,05
15 4 Thái Bình 137 7,66 476 6.63
16 Quang Trung 76 4,25 303 4,21
17 1 An Thạch 140 7,83 620 8,63
18 2 An Thạch 70 3,91 300 4,18
19 An Lâm 79 4,42 287 3,09
20 Thái Ninh 86 4,81 336 4,68
Tổng cộng: 1789 100 71181 100
Nguồn UBND xã Thái Sơn năm 2011
21
22
Từ bảng số liệu thống kê số hộ và số nhân khẩu, với khảo sát và điều
tra thực tế tại địa phương của chúng tôi. Cho thấy sự phân bố dân cư của địa
phương không đồng đều, dân tập đông ở các khu vực trung tâm xã và các
vùng đất màu mỡ ven sông Lô và dưới thung lũng thuận tiện trong sản xuất
nông lâm nghiệp. Sự phân bố này phụ thuộc vào địa hình và độ cao của
xã.Với 6 đơn vị thôn có số nhân khẩu đông nhất: Khởn, thôn 31, 2 Thái Bình,
3 Thái Bình, 4 Thái Bình, 1 An Thạch ta thấy rằng ở những thôn bản có điều
tự nhiên thuận lợi và giao thông đi lại rễ ràng, kinh tế phát triển thì dân cư
tập trung sinh sống đông hơn các vùng khác.
Trong đó có thôn 31 có số hộ đông nhất trên toàn xã với 168 hộ chiếm
9,39% và số nhân khẩu là 610 chiếm 8,49% đứng thứ hai toàn xã.
Số nhân khẩu đông nhất trên toàn xã là 1 An Thạch với nhân khẩu là 620
chiếm 8,63% và số hộ là số hộ là 140 hộ chiếm 7,83%, đứng thứ hai toàn xã.
Ở các thôn Thái Thủy dân cư sinh sống trên địa bàn còn thưa thớt và

2 2 Thái Thủy 167 53 27 26 62 34 28 62 32 30
3 3 Thái Thủy 118 38 17 21 44 28 26 36 17 19
4 4 Thái Thủy 137 56 29 27 45 24 21 36 16 20
5 5 Thái Thủy 176 52 28 24 86 42 44 38 19 17
6 6 Thái Thủy 150 55 27 28 66 34 32 29 13 16
7 Khởn 275 95 47 48 128 67 61 52 21 29
8 1 Minh Thái 209 67 34 33 76 39 37 66 34 32
9 2 Minh Thái 191 78 42 37 67 35 32 46 22 24
10 34 139 42 24 18 62 34 28 35 14 21
11 31 354 134 74 60 150 76 74 70 36 34
12 1 Thái Bình 151 53 27 26 62 36 26 36 16 20
13 2 Thái Bình 380 135 70 65 155 80 75 90 42 48
14 3 Thái Bình 354 124 64 60 146 76 70 84 45 39
15 4 Thái Bình 243 98 50 48 86 44 42 59 29 31
16 Quang Trung 155 56 30 26 62 37 35 37 17 20
17 1 An Thạch 372 112 58 56 158 83 75 102 48 54
18 2 An Thạch 154 54 28 26 62 34 28 38 18 20
19 An Lâm 168 72 35 37 57 28 29 49 23 26
20 Thái Ninh 189 65 32 33 78 39 37 46 22 24
Tổng cộng: 4326 1507 806 701 1758 927 831 1061 505 556
Nguồn UBND xã Thái Sơn năm 2011
23
24
Với số người trong độ tuổi lao động là 4326 người chiếm 60,24% dân
số. Trong đó lao động nam có 2238 người chiếm 51,70%, nữ có 2208 người
chiếm 48,30%. Lao động nông lâm nghiệp có 3389 người chiếm 78,3%, tổng
số lao động toàn xã; lao động phi nông nghiệp có 937 người chiếm 21,7%.
Lao động qua đào tạo có 774 người chiếm 17,89% tổng số lao động, trong đó
lao động nông lâm nghiệp 336 người, lao động phi nông nghiệp 438 người.
Với lực lượng lao động dồi dào, tỷ lệ nam-nữ đồng đều đây có thể là thế

Nguồn: số liệu thống kê của xã năm 2011
Phần lớn các hộ nông dân sinh sống trên địa bàn xã Thái Sơn sản xuất
nông lâm nghiệp là chủ yếu, sản xuất nông lâm nghiệp của xã có 3389 khẩu
tham gia chiếm 78,34% tổng số lao động toàn xã. Trong đó có Thôn Khởn
sản xuất nông lâm nghiệp có 273/275 khẩu chiếm 99,27% đứng đầu trong
toàn xã có số lao động sản xuất nông lâm nghiệp, thôn An Lâm là có số lao
động tham gia sản xuất nông lâm nghiệp ít nhất với 30/168 khẩu chiếm
17,86%, An Lâm cũng lại là thôn có số lao động phi nông nghiệp đông nhất
138 lao động chiếm 82,14%. Các hộ ở đây sản xuất gạch để phục vụ xây các
công trình và nhà ở nên thu hút được rất nhiều lao động trong vùng và các
vùng lân cận.
Trong các thôn có đường giao thông đi lại khó khăn thì khó thu hút
được số lao động tham gia trong hoạt động phi nông nghiệp như 6 thôn Thái
Thủy, Khởn, Thái Ninh, Quang Trung. Thôn Khởn có số lao động tham gia
hoạt động phi nông nghiệp ít nhất xã chỉ có 2/275 chiếm 0,73%.
Qua đó xã Thái Sơn là xã mang tính thuần nông, số lao động tham gia
vào các ngành thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp với tỷ lệ khá lớn. Còn số lao
động tham gia vào các ngành phi nông nghiệp thấp, chỉ tập ở các nơi có giao
thông đi lại rễ ràng.
4.1.2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và sản xuất
Xã có hai tuyến quốc lộ và tỉnh lộ đi qua hệ thống đường giao thông
liên thôn, liên xã và giao thông nội đồng hiện nay đã xuống cấp và trưa được
đầu tư nên ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại cũng như giao lưu thương mại của
nhân dân trong xã. Đường quốc lộ 2 chạy dọc qua địa bàn xã với chiều dài 6
km hiện nay là đường trải nhựa, thuận tiện cho việc thông thương hàng hóa
cũng như việc phát kinh tế của xã. Đường tỉnh lộ 190 chạy qua xã với chiều
dài 5 km hiện nay là đường trải nhựa, thuận tiện cho việc thông thương hàng
hóa cũng như việc phát triển kinh tế của nhân dân trong xã. Đường liên thôn
có 6 tuyến dài 22,95 km, hiện trạng có hai tuyến dài 2,5 km, hiện trạng mặt
đường 2-4 m, nền đường rộng 3-6 m đã nhựa hóa được một tuyến dài 1,2 km,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status