ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HIỆU QUẢ KINH TẾ CANH TÁC CÂY LẠC
Ở XÃ NAM SƠN, HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Trần Thị Hằng ThS. Lê Sỹ Hùng
Lớp: K44-KTNN
1
Niên khóa: 2010 - 2014
Huế, tháng 5 năm 2014
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi ngoài sự nỗ lực
của bản thân kết hợp với sự giúp đỡ từ các tổ chức và cá nhân. Tôi
xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô trường Đại Học Kinh Tế Huế, đã dạy bảo tận
tình và cho tôi những kiến thức quý giá trong suốt bốn năm học
vừa qua. Tạo điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu trau dồi vốn
hiểu biết của mình. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến thầy Lê Sỹ Hùng người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Các cô các chú thuộc các phòng ban của UBND xã Nam Sơn
đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập một số thông tin và các số
liệu cần thiết cũng như các hộ gia đình tôi chọn điều tra đã tận
tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu.
TC Tổng chi phí
LĐ Lao động
BQ Bình quân
BQC Bình quân chung
BVTV Bảo vệ thực vật
KH Kế hoạch
ĐVT Đơn vị tính
5
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
ĐƠN VỊ QUY ĐỔI
1 Sào = 500 m
2
1 Ha = 10000 m
2
1 Tấn = 1000 kg
1 Tạ = 100 kg
6
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngoài cây lúa là cây trồng chính, cây lạc cũng đem lại năng suất cao cho bà con
nông dân ở xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Lạc là nguyên liệu đầu vào
chính cho nhiều nghành công nghiệp chế biến như: ép lấy dầu ăn là sản phẩm rất tốt
- Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp chuyên gia
+ Phương pháp phân tích hồi quy
4. Các kết quả nghiên cứu đạt được
+ Phân tích được kết quả và hiệu quả canh tác lạc trên địa bàn xã qua 2 vụ Đông Xuân
và Hè Thu, từ đó thấy rõ được năng suất của vụ mùa hay còn gọi là vụ Đông xuân cao
hơn vụ trái hay vụ Hè Thu.
+ Phân tích được giống lạc L14 có năng suất đạt hiệu quả kinh tế cao hơn L23 cho
nên người dân trên địa bàn chủ yếu trồng giống lạc L14.
8
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
+ Nhận biết được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình canh tác lạc của người
dân.
+ Đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển và nhằm nâng cao hiệu quả canh tác lạc.
9
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp có truyền thống từ bao đời nay. Ngành nông
nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Báo cáo của ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn
2.1. Mục tiêu chung
Từ tình hình thực tế nghiên cứu kết quả và hiệu quả kinh tế canh tác lạc ở xã
Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đạt được trong thời gian qua từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong canh tác lạc trên địa bàn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình canh tác lạc ở các nông hộ.
- Đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế canh tác lạc thông qua hệ thống các chỉ tiêu
trên địa bàn xã.
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả và thu nhập của các
hộ canh tác lạc.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong canh tác
lạc trên địa bàn trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
٭ Đối tượng nghiên cứu: Là các hộ nông dân canh tác lạc trên địa bàn xã Nam
Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
٭ Phạm vi nghiên cứu:
+ Đề tài tập trung đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế canh tác lạc trên địa bàn xã
Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả kinh tế
trong canh tác lạc của địa phương trong thời gian tới.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trong địa bàn xã
Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu hiệu quả kinh tế canh
tác lạc của xã Nam Sơn vào năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu :
11
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
muốn có được lợi nhuận cao thì yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp hay cơ sở đó
phải đạt được hiệu quả kinh tế. Thực tế cho thấy hiệu quả kinh tế không chỉ là mối
quan tâm của các doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh mà là sự quan tâm của hầu hết
các thành phần kinh tế và của xã hội.
Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm cao nhất của kinh tế học nói chung và kinh tế
vi mô nói riêng. Theo quan điểm của kinh tế học vi mô thì hiệu quả kinh tế có mấy vấn
đề cơ bản như sau: Hiệu quả kinh tế là tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên
đường giới hạn năng lực sản xuất là có hiệu quả gì vì nó tận dụng hết nguồn lực. Số
lượng hàng hóa đạt được trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn càng có
hiệu quả cao. Sự thỏa mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa theo nhu
cầu thị trường trong giới hạn của đường năng lực sản xuất cho ta đạt được hiệu quả
kinh tế cao nhất. Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị
kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao. Sự đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
trong khoảng thời gian ngắn nhất cho ta khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và tích
lũy lớn.
Theo GS-TS Ngô Đình Giao: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi
sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước”.
Theo quan điểm của Farrell (1957): “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà
trong đó sản xuất phải đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (hay giá)”.
Hiệu quả kỹ thuật: Là lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí
đầu vào. Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô hay nguồn lực
sử dụng vào sản xuất trong điều kiện về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng xem xét tình
hình sử dụng nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này thường được phản ánh trong mối quan hệ
với hàm sản xuất. Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất thì đem lại
13
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được
năng suất lao động và tiết kiệm thời gian. Với sự hạn chế về nguồn lực (nhân lực, vật
lực, tài lực) nhưng quá trình sản xuất vẫn đem lại năng suất cao nhưng bên cạnh đó
phải tiết kiệm chi phí đến mức thấp nhất có thể.
1.1.1.3. Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Phương pháp 1: hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được
với chi phí bỏ ra, nghĩa là một đơn vị hi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
H= Q/C
Trong đó:
H: hiệu quả kinh tế
Q: khối lượng sản phẩm thu được
C: chi phí bỏ ra
Phương pháp 2: hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng
thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra.
H= ∆Q/∆C
Trong đó:
∆Q: khối lượng sản phẩm tăng thêm
∆C: chi phí tăng thêm
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất
* Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất lạc
Là các chỉ tiêu biểu hiện mức độ đầu tư vào sản xuất. Các chỉ tiêu thể hiện như:
diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân hộ, mức đầu tư nguồn lực cho sản
xuất và trên một đơn vị diện tích
* Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất:
15
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
- Tổng giá trị sản xuất GO: Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản
phẩm vật chất và dịch vụ lao động nông nghiệp được tạo ra tính trên một đơn vị diện
tích trong thời gian một năm hay một chu kì sản xuất.
nhiêu đồng lợi nhuận.
16
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
• Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất
- Chỉ tiêu: (GO/IC)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu
đồng giá trị sản xuất.
- Chỉ tiêu: (VA/IC)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu
đồng giá trị gia tăng.
Chỉ tiêu: Năng suất (N)
Chỉ tiêu này phản ánh với một đơn vị diện tích canh tác lạc trong một thời gian
nhất định sẽ sản xuất ra được bao nhiêu lượng lạc vỏ.
N = Q / S
Trong đó: Q: tổng sản lượng lạc vỏ thu được
S: Diện tích canh tác lạc
1.1.3. Giá trị kinh tế của cây lạc
1.1.3.1. Giá trị thực phẩm
Lạc là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Lạc là nguồn thức ăn giầu
về dầu lipit và prôtêin, thành phần sinh hoá của lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào
giống, vào sự biến động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả,
các yếu tố không bình thường như: Sâu bệnh hại, và phương pháp phân tích khác nhau
cũng ảnh hưởng đến thành phần sinh hoá của hạt lạc.
Do có giá trị dinh dưỡng cao lạc từ lâu loài người đã sử dụng như một nguồn
thực phẩm quan trọng. Sử dụng trực tiếp (quả non luộc, quả già, rang, nấu ) ép dầu để
làm dầu ăn và khô dầu để chế biến nước chấm và thực phẩm khác. Gần đây nhờ có
công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến thành rất nhiều mặt hàng thực
phẩm có giá trị từ lạc, như rút dầu, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc, kẹo lạc
1.1.4.1. Các yếu tố điều kiện tự nhiên
* Đất đai: Lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất. Do đặc điểm sinh lý
của lạc, đất trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to. Thành
phần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôn tơi, xốp
và có độ pH từ 5,5-7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc: Rễ phát triển mạnh cả về
chiều sâu và chiều ngang, Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm, Tia
quả đâm xuống đất dễ dàng, Dễ thu hoạch thì giúp lạc sinh trưởng và phát triển tốt,
năng suất cao, củ to hơn. Còn những loại đất dĩ dẽ thì củ lạc sẽ nhỏ hơn, ở những vùng
18
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
đất này cần làm công tác cày bừa và làm cỏ thật kỹ, bón phân làm tăng độ tơi xốp cho
đất tạo khoảng hổng để củ lạc phát triển tốt nhất.
* Lượng mưa, ẩm độ: Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến
năng suất lạc. Tuy lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở
một giai đoạn nhất định. Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu
khoảng 70-80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng. Yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời
kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt.
Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi mọc
đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 - 700mm.
* Nhiệt độ: . Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian
sinh trưởng của lạc. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là khoảng
25-30
0
C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ trung bình thích hợp
cho thời kỳ nảy mầm 25-30
0
C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20-30
0
các enzim quan trọng trong các hoạt động sống của cây.N là thành phần không thể
thiếu được ở prôtêin dự trữ trong hạt. Ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, N tập trung ở
các bộ phận non của cây, các mô phân sinh đang hoạt động, ở các phần sống của tế
bào. Khi hạt chín, phần lớn N trong cây tập trung ở hạt. Thiếu N cây sinh trưởng kém,
lá vàng, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả và trọng lượng quả đều giảm, nhất là thiếu ở
thời kỳ sing trưởng cuối. Thời kỳ lạc hấp thu N nhiều nhất là thời kỳ ra hoa-làm quả và
hạt. Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40-
45% nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng. Có 2 nguồn cung cấp N cho lạc là (N do
bộ rễ hấp thu từ đất và N cố định ở nốt sần do hoạt động cố định N
2
của vi khuẩn cộng
sinh cố định N). Nguồn N cố định có thể đáp ứng được 50-70% nhu cầu N của cây.
- Lân (P): P giúp bộ phận rễ phát triển tốt hơn, tăng cường hoạt động cố định N,
P còn đóng vai trò đối với sự cố định N và sự tổng hợp lipít ở hạt trong thời kỳ chín
giảm tỉ lệ lép hạt, làm tăng lượng dầu trong hạt. Ngoài ra bón P còn kéo dài thời kỳ ra
hoa và tăng tỷ lệ hoa có ích.
- Kali (K): Vai trò quan trọng nhất của K tham gia xúc tiến quang hợp và sự phát
triển của quả. Ngoài ra, K còn làm tăng cường mô cơ giới, tăng cường tính chống đổ
của cây. Trong cây, K tập trung chủ yếu ở các bộ phận non, ở lá non và lá đang hoạt
động quang hợp mạnh. Cây hấp thu K tương đối sớm nhu cầu K nhiều nhất của cây
được hấp thu trong thời kỳ ra hoa-làm quả. Thời kỳ chín nhu cầu về K hầu như không
đáng kể. Thiếu K thân chuyển thành màu đỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt. Tác hại
lớn nhất của thiếu K là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỷ lệ 1 quả
tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm rõ rệt. Cần phải bón K sớm và kết
20
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
thúc trước khi ra hoa-làm quả để tăng tỷ lệ hạt chắc, bón đúng thời điểm và đủ số
lượng không nên bón nhiều sẽ làm cho cây bội thực mà chết.
diện tích đất canh tác lớn nhưng họ lại không mặn mà vào việc sản xuất nông nghiệp
mà họ lại làm những việc phi nông nghiệp vì thu nhập cao hơn và việc khoán đất để
canh tác diễn ra rất phổ biến, hiệu quả canh tác từ đó cũng giảm đi khiến người dân
mất niềm tin và chuyển hướng làm ăn. Dẫn đến tình trạng canh tác chuyển sang mục
đích khác. Một tín hiệu không mấy vui cho nghành nông nghiệp. Làm cho diện tích
canh tác giảm.
- Giá cả và thị trường tiêu thụ: Giá cả và thị trương tiêu thụ ảnh hưởng tới hiệu
quả và quyết định canh tác lạc của người nông dân. Thực tế giá cả đầu vào quá cao,
giá đầu ra thì lại thấp. Vì người nông dân chủ yếu bán cho tư thương mua tại nhà ép
giá khiến giá mua vào từ bà con nông dân thấp nhưng bán lại vào thị trường khác giá
sẽ cao hơn lợi nhuận của tư thương thì lớn còn bà con nông dân người trực tiếp sản
xuất thì lại quá thấp. Chi phí sản xuất cao giá bán sản phẩm thì lại quá thấp dẫn đến
hiệu quả kinh tế thấp. Việc tiêu thụ sản phẩm của bà con còn gặp nhiều khó khăn và
bất cập. Bà con lại thiếu thông tin về thị trương, không hiểu thị trường, dẫn đến việc
quyết định mua bán sản phẩm của bà con sai với thực tế của thị trường.
- Vốn: Vốn có vai trò quyết định trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối
với bà con nông dân để có một lượng vốn lớn đầu tư tốt cho việc canh tác là rất khó
khăn. Mặc dù các đầu vào như phân bón, thuốc BVTV, thường thì phân bổ trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu gieo trồng tới khi thu hoạch nhưng các hộ nông dân phản
ứng chậm và không thể đáp ứng tức thời có thì cũng một khoản nhỏ chủ yếu vay mượn
chứ không có nhiều vì còn trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Vì thế việc xoay vốn
để chuẩn bị vật tư còn gặp rất nhiều khó khăn. Dẫn đến nhiều vấn đề còn tồn về vốn
của bà con. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lạc của bà con là không cao, vốn bỏ ra thì
lớn mà thu lại thì không được bao nhiêu, lợi nhuận chỉ là lấy lại tiền tích lũy công lao
động qua thời gian canh tác. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho bà con cần có các
giải pháp tốt. Một là tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm và nâng giá đầu ra cho bà con,
thứ hại là cần hỗ trợ chi phí đầu vào để bà người nông dân thu được lợi nhuận cao hơn.
22
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
23
SVTH: Trần Thị Hằng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S. Lê Sỹ
Hùng
thuật cho người nông dân để đạt hiểu quả tốt nhất. Từ khâu chọn giống, làm đất, lên
luống, bón phân, phun thuốc, đều phải làm theo quy trình khoa học nhất đảm bảo tốt
cho cây lạc phát triển với điều kiện tốt , giảm được công lao động, tăng năng suất.
- Ngoài ra về hệ thống tưới tiêu nước, công nghệ phòng trừ dịch bệnh, trình độ
của nông dân, những vấn đề trên nếu giải quyết tốt và hợp lý thì việc canh tác lạc sẽ
thuận lợi hơn nhiều trong việc tưới nước cho lạc khi trơi hạn, thoát nước khi trời mưa,
lụt tránh ngập úng. Phòng trừ dịch bệnh cho lạc cũng như đào tạo kiến thức cho bà con
để có điều kiện tốt nhất cho canh tác lạc. Nếu các công tác này tốt thì hiệu quả canh
tác sẽ cao hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình canh tác lạc ở trong nước
1.2.1.1. Tình hình canh tác lạc ở Việt Nam
Thời tiết, khí hậu nước ta đa dạng phù hợp cho nhiều loại cây trồng sinh sống và
phát triển. Để phát kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường người tiêu dùng nhiều loại cây
đã được trồng khá phổ biến với diện tích lớn. Là nguyên liệu cho nhiều nghành công
nghiệp. Do giá cả đầu vào lẫn đầu ra không ổn định cũng như nhu cầu của thị trường
thay đổi vì vậy diện tích của một số loại cây cũng thay đổi theo hàng năm. Cụ thể từ
diện tích một số cây công nghiệp hàng năm của nước ta cho ở bảng sau:
Bảng 1. Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm ở nước ta
trong 3 năm ( 2010 - 2012 )
Loại cây 2010 2011 2012 So sánh (%)
1000ha 1000ha 1000ha 2011/2010 2012/2011
Mía 269,1 282,2 297,9 4,9 5,6
Lạc 231,4 223,8 220,5 -3,3 -1,5
Đậu tương 197,8 181,1 120,8 -8,4 -33,3
Bông 9,1 9,8 6,4 7,7 -34,7
2011/2010 2012/2011
(+/-) % (+/-) %
1. Diện tích (1000ha) 231,4 223,8 220,5 -7,6 -3,3 -3,3 -1,5
2.Năng suất (tạ/ha) 21,1 20,9 21,3 -0,2 -1,0 0,4 1,9
3.Sản lượng (1000 tấn) 487,2 468,7 470,6 -18,5 -3,8 1,9 0,4
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2012 )
Diện tích trồng lạc năm 2010 là 231,4 nghìn ha, năm 2011 giảm xuống còn 223,8
nghìn ha sau đó vẫn tiếp tục giảm trong năm 2012 xuống còn 220,5 nghìn ha. Do diện
tích giảm đã làm cho sản lượng năm 2011 so với 2010 từ 487,2 nghìn tấn giảm xuống
25
SVTH: Trần Thị Hằng