Ảnh hưởng của việc mất đất nông nghiệp đến kinh tế hộ nông dân tại xã nghĩa sơn, huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc,
chưa được sử dụng trong bất cứ một tài liệu khoa học nào. Các tài liệu tham
khảo đã được trích dẫn đầy đủ.
Nghĩa Sơn, ngày tháng … năm 2014
Sinh viên
Trần Văn Hiệu
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
quý thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát Triển Nông Thôn, trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là quý thầy cô trong bộ môn Kinh tế tài nguyên
và môi trường những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ UBND huyện Nghĩa Đàn, ban địa chính
xã Nghĩa Sơn và bà con nông dân trên địa bàn xã đã tạo điều kiện, cung cấp
cho tôi những số liệu cần thiết, những thông tin, ý kiến đóng góp thiết thực
phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến thầy giáo PGS.TS.Trần
Đình Thao, trưởng khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn người đã trực tiếp
hướng dẫn, dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè là
chỗ dựa tinh thần vững chắc, luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của tôi
khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong có được sự giúp đỡ, những ý
kiến đóng góp, xây dựng của quý thầy cô, các bạn để luận văn được hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

hợp với thông tin sơ cấp từ điều tra phỏng vấn trực tiếp 60 hộ chia làm 3
iii
nhóm (30 hộ mất nhiều đất thuộc nhóm 1, 20 hộ mất ít đất thuộc nhóm 2 và
nhóm 3 gồm 10 hộ không mất đất). Các thông tin điều tra gồm nguồn lực của
hộ (đất đai, lao động, vốn), tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
trước thu hồi (2010) và sau thu hồi (2013).
Qua quá trình nghiên cứu đề tài tôi rút ra một số kết luận sau:
Trên địa bàn xã, diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh gây ảnh hưởng
cả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, đặt biệt ảnh hưởng trực tiếp
đến kinh tế hộ nông dân mất đất. Mức độ ảnh hưởng của việc thu hồi đất tới 3
nhóm hộ khác nhau thì khác nhau.
Nhóm 1 do diện tích đất canh tác giảm tới 80,45% làm thu nhập từ sản
xuất nông nghiệp giảm mạnh, tăng nguồn thu từ ngành nghề khác: CN-
TTCN-XD và đặc biệt là hoạt động buôn bán, dịch vụ; nguồn lực tiền vốn và
nguồn lực tài sản vật chất (nhà cửa, đồ dùng gia đình) tăng mạnh, cơ cấu lao
động thay đổi theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng số lượng lao động
TM-DV, công nhân và lao động tự do là lực lượng lao động thiếu việc làm
chủ yếu. Nhóm 2 diện tích đất nông nghiệp giảm 38,95%, các hộ nhóm 2
cũng chịu ảnh hưởng như nhóm 2 nhưng mức độ ít hơn.
Nhóm 3 do không mất đất nên trước và sau khi thu hồi không có sự
thay đổi nhiều. Tuy nhiên, theo xu thế phát triển chung của xã thì lực lượng
lao động hoạt động trong lĩnh vực TM-DV cũng có chiều hướng tăng, tình
hình sản xuất nông nghiệp khá tốt nên thu nhập từ sản xuất nông nghiệp tăng
cao. Nhưng lượng tiền mặt và tình hình xây dựng nhà cửa mua sắm trang thiết
bị của nhóm này ít hơn nhóm 1 và nhóm 2.
Theo ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý tại địa phương thì thu nhập
của hộ nông dân mất đất tăng lên, chất lượng cuộc sống được cải thiện, giáo
dục được quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực
còn có nhiều ý kiến đánh giá không tốt về tình hình an ninh trật tự, tình trạng
iv

Bảng 4.3: nhân khẩu của nhóm hộ điều tra. .Error: Reference source not found
Bảng 4.4 : Thông tin lao động của các nhóm hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.5: Diện tích đất nông nghiệp thu hồi của các hộ nông dân mất đất
Error: Reference source not found
Bảng 4.6: tiền đền bù của các hộ điều tra được nhận Error: Reference source
not found
Bảng 4.7: Biến động diện tích đất canh tác của nhóm hộ điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 4.8: Biến động diện tích cơ cấu cây trồng của các hộ điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 4.9: biến động cơ cấu vật nuôi của các hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.10 : Biến động cơ cấu lao động, ngành nghề của các nhóm hộ điều tra
Error: Reference source not found
vii
Bảng 4.11: Thu nhập và cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 4.12: Biến động chi tiêu bình quân của các nhóm hộ Error: Reference
source not found
Bảng 4.13: Biến động cơ sở vật chất của các nhóm hộ điều tra Error:
Reference source not found
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa
CC Cơ cấu
DT Diện tích
SL Số lượng
ĐVT Đơn vị tính
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN-TTCN-XD Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng

chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay.
Thực hiện mục tiêu sớm “đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển
tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại” như Nghị quyết Đại hội IX đề ra, hàng vạn ha đất nông
nghiệp được thu hồi để sử dụng vào xây dựng các khu công nghiệp, đô thị và
cơ sở hạ tầng. Theo bộ Tài nguyên và Môi trường, trong những năm qua, đất
nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp bình quân mỗi năm
khoảng 80.000ha . Bên cạnh đó, ngày nay thị trường mua bán ruộng đất phát
triển mạnh mẽ, việc quy định giá đất mới cho các vùng gần với giá thị trường
là một công nhận chính thức kết quả của việc đầu cơ ruộng đất thời gian qua,
làm cho người nghèo rất khó có thể tiếp xúc với đất đai và thúc đẩy quá trình
mất đất của nông dân diễn ra nhanh hơn nữa . Việc mất đất nông nghiệp diễn
ra rộng rãi ở nhiều địa phương và những năm gần đây tốc độ nhanh đến chóng
mặt. Thu hồi một phần đất nông nghiệp để phục vụ mục tiêu phát triển công
nghiệp và các mục đích phi nông nghiệp khác để phục vụ cho công cuộc công
1
nghiệp hóa và đô thị hóa là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên việc ưu tiên
thu hút đầu tư để phát triển các khu công nghiệp đã tạo nên sự mất cân đối
trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Một số diện tích đất phù sa màu mỡ
chuyên trồng lúa đã phải chuyển sang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công
nghiệp trong khi có thể sử dụng diện tích ở những vị trí khác hợp lý hơn. Điều
đó, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, đời sống của người nông dân, làm hàng
vạn người nông dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề. Mặt khác, trong quá
trình thực hiện các nhà máy chưa chấp hành nghiêm Luật môi trường, vi
phạm các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Những hậu quả
môi trường ngoài ý muốn làm suy yếu sự lựa chọn sử dụng đất trong tương lai
. Tất cả những vấn đề đó đe doạ tính bền vững trong quá trình phát triển.
Xã Nghĩa Sơn-Huyện Nghĩa Đàn-Tỉnh Nghệ An đã và đang thu hồi
nhiều đất nông nghiệp để thực hiện các dự án chăn nuôi bò sữa công nghệ cao
của công ty cổ phẩn thực phẩm sữa TH. Mặt tích cực của nó có thể dễ dàng

- Đề xuất giải pháp giúp người dân ổn định cuộc sống và phát triển
kinh tế hộ gia đình
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Mất đất nông nghiệp là gì?
- Thực trạng việc mất đất nông nghiệp trên địa bàn xã Nghĩa Sơn?
- Mất đất nông nghiệp ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến kinh tế hộ
nông dân?
- Giải pháp gì để nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho hộ nông
dân mất đất góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của địa phương?
3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của việc mất đất nông nghiệp đến
kinh tế hộ nông dân tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đối tượng điều tra: hộ nông dân mất đất nông nghiệp.
- Các chính sách của Nhà nước, địa phương trong chuyển đổi đất nông
nghiệp sang phi nông nghiệp và tác động của nó đối với kinh tế hộ nông dân.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc
mất đất nông nghiệp đến kinh tế hộ nông dân xã Nghĩa Sơn. Từ đó, đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, ổn định cuộc
sống cho hộ nông dân góp phần phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn xã.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Nghĩa
Sơn, Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi về thời gian của số liệu: Số liệu sử dụng trong đề tài được lấy
qua 4 năm 2010-2013 và phiếu điều tra đầu năm 2014.
4
PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC MẤT ĐẤT
NÔNG NGHIỆP TỚI KINH TẾ HỘ NỒNG DÂN
2.1. Cơ sở lý luận

Theo tính chất của ngành sản xuất hộ gồm có:
+ Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp.
+ Hộ chuyên nông: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ,
dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
+ Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ
công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
+ Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ.
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì
vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã
hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa
ngành hoặc chuyên môn hoá. Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu
hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp
tăng lên(Chu Văn Vũ, 1995).
Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ:
+ Hộ khá giả là những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người
hàng tháng cao hơn mức trần của hộ trung bình (cao hơn 1.000.000 VND)
+ Hộ Trung bình là hộ có thu nhập bình quân từ 521.000 đồng đến
900.000 đồng/người/tháng.[10]
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống;
6
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng. [11]
2.1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là thực thể kinh tế văn hoá xã hội chủ yếu ở nông thôn, vì
vậy cần phải hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế hộ nông dân làm nền
tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế
nông thôn.

- Đất rừng sản xuất;
- Đất rừng phòng hộ;
- Đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thủy sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích
nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi
trồng nước ngọt;
- Đất làm muối: Là đất các ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản
xuất muối;
- Đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và
các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và
các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm
tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
2) Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
- Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp bao gồm đất xây dựng trụ sở của
các tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng các cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục
8
đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và các công trình
sự nghiệp khác;
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm: đất khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất,
kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản
xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thủy lợi; đất
có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất công trình năng lượng;
đất công trình bưu chính viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và

- Hộ nông dân thiếu đất là hộ nông dân có diện tích đất nông nghiệp
dưới mức bình quân chung của vùng.
- Tập trung ruộng đất là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của
những chủ sở hữu hoặc hình thành nên một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng
đất lớn hơn( Dự thảo luật đất đai, 2013).
2.1.3.2 Nguyên nhân của việc mất đất sản xuất nông nghiệp
Ngày nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo diện tích đất
nông nghiệp ngày càng giảm dần, vấn đề người dân mất đất, thất nghèo và
nguy cơ nghèo đói trở nên càng phổ biến. Mất đất nông nghiệp do những
nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
+ Làm nơi đóng quân;
+ Xây dựng căn cứ quân sự;
+ Xây dựng các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và các công
trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;
+ Xây dựng ga, cảng quân sự;
+ Xây dựng các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn
hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;
10
+ Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
+ Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;
+ Xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ
trang nhân dân;
+ Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;
+ Xây dựng cơ sở tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ
Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
+ Để thực hiện các dự án, công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội
quyết định chủ trương đầu tư; dự án, công trình quan trọng do Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư;

dâng lên thì nhiều người dân Việt Nam có thể mất đất ở. Một phần rất lớn đất
nông nghiệp cũng sẽ bị ngập dưới mực nước biển. Là một quốc gia nông
nghiệp, nhưng hầu hết nông dân Việt Nam rất ít đất canh tác, nhất là nông dân
vùng ven biển. Do vậy, việc mất đi một phần rất lớn quỹ đất trồng sẽ đặt Việt
Nam trước những thách thức nghiêm trọng.
+ Sự sói mòn và rửa trôi đất: Biến đổi khí hậu gây rối loạn chế độ mưa
nắng, nguy cơ mưa nắng nhiều hơn, lượng mua thay đổi, lượng dinh dưỡng
trong đất bị mất cao,… làm giảm năng suất trồng trọt. Việc sử dụng liên tục
với liều lượng cao phân bón hóa học đã làm cho môi trường đất bị chua hóa,
làm cho diện tích đất nông nghiệp màu mỡ bị thoái hóa.
Những năm qua, đất nông nghiệp không chỉ giảm sút về số lượng, mà
về mặt chất lượng, độ phù xa của đất nông nghiệp cũng giảm dần do bị ô
nhiễm nặng cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp.
Rừng và đất rừng cũng trong tình trạng tương tự, diện tích rừng tự nhiên giảm
cả số lượng và chất lượng, đất trống đồi núi trọc tăng nhanh, diện tích rừng tự
nhiên giảm. Tình trạng đốt phá rừng, khai thác rừng tự phát, cho người nước
12
ngoài thuê đất rừng dài hạn đã và đang gây tác động xấu đến tài nguyên và môi
trường đất, nước, hệ sinh thái… qua đó ảnh hưởng đến năng suất của đất.
2.1.4. Ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp đến kinh tế hộ nông dân
Việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất vừa mang tính chất
kinh tế vừa mang tính chất xã hội lớn, phức tạp. Nếu chỉ giải quyết được mặt
kinh tế của vấn đề mà lại làm trầm trọng thêm mặt xã hội thì hiệu quả kinh tế
sẽ rất hạn chế bởi nó có ảnh hưởng rất lớn đến hộ nông dân khi mà đất đai là
tài sản lớn nhất của họ. Sự chuyển hóa đó mang theo cả những ảnh hưởng tích
cực và tiêu cực.
* Ảnh hưởng tích cực
- Việc thu hồi đất nông nghiệp cho xây dựng khu công nghiệp, xây
dựng trang trại, nông trường hoặc cho các dự án thủy điện bước đầu làm tăng
nguồn tiền của nông dân do nhận được vốn đền bù;

thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử
dụng, chủ yếu là nông dân.
Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả:
- Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là
thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất; thị trường cấp II là
thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau. Thị
trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng được giao đất,
giá giao đất, thời hạn giao đất và mục đích sử dụng đất. Thị trường cấp II là
thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà
nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các dịch vụ
pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế.
- Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý hành chính công đối với
đất đai, vừa đóng vai trò chủ sở hữu đất, có quyền quyết định thu hồi quyền
sử dụng đất của nông dân, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp và giao
14
đất nông nghiệp đã được chuyển mục đích sử dụng cho tổ chức và cá nhân
không phải là nông dân, quy định giá thu hồi đất nông nghiệp.
- Người nông dân ở vào vị thế yếu trong giao dịch đất nông nghiệp, thể
hiện qua các khía cạnh:
Thứ nhất, người nông dân chỉ được sử dụng đất nông nghiệp vào mục
đích sản xuất nông nghiệp. Do mức sinh lợi của ngành nông nghiệp thấp nên
giá trị chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thành tiền không lớn, không
khuyến khích người nông dân chuyển quyền sử dụng này cho người khác.
Thứ hai, Nhà nước toàn quyền quy hoạch và thu hồi đất nông nghiệp để
chuyển thành đất đô thị hoặc đất kinh doanh mà nông dân không có quyền
thỏa thuận giá đất bị thu hồi, cũng như không có quyền phản đối hoặc đòi hỏi
đền bù thỏa đáng quyền lợi của mình.
Thứ ba, thời hạn giao đất nông nghiệp cho nông dân theo quy định của
pháp luật hiện hành là quá ngắn (50 năm với đất trồng cây lâu năm, 20 năm
với đất còn lại) so với thời hạn giao đất phi nông nghiệp. Hạn mức diện tích

được giao giữa gia đình nông, lâm trường viên và gia đình nông dân canh tác
ở cùng một khu vực. Một số hộ nông dân thậm chí lấn chiếm đất nông, lâm
trường để sử dụng một cách bất hợp pháp.
4) Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp
Từ thập niên 90 của thế kỷ thứ XX đến nay, Nhà nước tiến hành thu hồi
nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị tập trung.
Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền bù đất nông nghiệp tác động lớn đến
nông dân.
Luật Đất đai của Việt Nam quy định: Nhà nước có quyền thu hồi quyền
sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các mục đích
công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Khi thu hồi đất
nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải đền bù cho nông dân đất mới
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status