DANH MỤC TỪ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
BVTV : Bảo vệ thực vật.
HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật.
HTX : Hợp tác xã.
KHCN : Khoa học công nghệ.
MT : Môi trường.
THCS : Trung học cơ sở.
TT : Thông tư.
UBMTTQ : Ủy ban mặt trận tổ quốc.
UBND : Ủy ban nhân dân.
VSMT : Vệ sinh môi trường.
VSV : Vi sinh vật.
WHO : The World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới).
1
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Dạng thuốc BVTV Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Phân loại thuốc BVTV theo nhóm độc Error: Reference source not
found
Bảng 2.3. Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại Error: Reference source not
found
Bảng 3.1. Nguồn thông tin số liệu Error: Reference source not found
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất khu vực xã Nghi Thái Error: Reference source
not found
Bảng 4.2. Tình hình phát triển dân số trên địa bàn xã năm 2013 . Error: Reference
source not found
Bảng 4.3. Tình hình phát triển kinh tế của xã năm 2013 . . Error: Reference source
Bảng 4.16. Đánh giá hiểu biết về điều kiện đảm bảo sức khỏe khi phun Error:
Reference source not found
Bảng 4.17. Đánh giá về đồ bảo hộ khi phun thuốc BVTVError: Reference source
not found
Bảng 4.18. Tỷ lệ người dân đi khám sức khỏe định kỳ Error: Reference source
not found
Bảng 4.19. Biểu hiện về sức khỏe sau khi phun Error: Reference source not
found
Bảng 4.20. Xử lý bao bì sau khi sử dụng Error: Reference source not found
Bảng 4.21. Tổng kết các đợt tuyên truyền, giáo dục Error: Reference source not
found
3
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất đi
của thuốc Error: Reference source not found
Hình 2.2. Sơ đồ các con đường phát tán của thuốc BVTV ra ngoài môi trường
Error: Reference source not found
Hình 4.1. Bản đồ xã Nghi Thái (Nguồn: Google Map) Error: Reference source
not found
4
MỤC LỤC
Thu thập thông tin qua phiếu điều tra, phỏng vấn 34
- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn gồm 2 phần: 35
nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phương châm “phòng hơn chống” đã
sử dụng thuốc BVTV theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt
nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại
phát triển thành dịch và lượng thuốc BVTV được sử dụng càng tăng. Những
năm gần đây vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở nước
ta đã được các nhà khoa học, nhà BVMT quan tâm. Tuy nhiên, thực trạng này
ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và
chế tài cụ thể.
Vì vậy, để đưa ra được các biện pháp khắc phục tình trạng lạm dụng
thuốc BVTV hiện nay thì việc tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về việc sử
dụng thuốc BVTV là rất quan trọng.
6
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của ThS.Trương
Thị Ánh Tuyết, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiểu biết của người
dân về việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp tại xã Nghi
Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”.
1.2. Mục đích đề tài
Đánh giá sự hiểu biết của người dân về việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
trong nông nghiệp tại xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao ý thức người dân địa phương.
1.3. Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV ở địa phương.
- Tìm hiểu và đánh giá được sự hiểu biết của người dân về việc sử dụng
thuốc BVTV trong nông nghiệp tại địa phương.
- Đánh giá được công tác thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV ở địa phương.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả
công tác quản lý hóa chất BVTV tại địa phương.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
đến II và III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid (Lê Huy Bá, 2008) [1].
Theo thông tư số 36/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn thì danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng có 1.201
hoạt chất với 3.107 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng
có 16 hoạt chất với 29 tên thương phẩm, cấm sử dụng 29 hoạt chất khác nhau
(Thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT) [2].
2.1.1.2.2. Các nhóm thuốc BVTV
Việc phân loại thuốc BVTV được thể thực hiện theo nhiều cách
* Phân loại dựa trên đối tượng sinh vật hại
8
- Thuốc trừ bệnh
- Thuốc trừ sâu
- Thuốc trừ cỏ
- Thuốc trừ ốc
- Thuốc trừ nhện
- Thuốc trừ tuyến trùng
- Thuốc điều hòa sinh trưởng
- Thuốc trừ chuột
* Phân loại theo gốc hóa học
- Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng mau phân hủy
trong MT.
- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666, nhóm này có độ độc cấp tính tương
đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và MT, gây độc mãn
tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng.
- Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, độ độc cấp tính của các loại thuốc
thuộc nhóm này tương đối cao, nhưng mau phân hủy trong cơ thể người và
MT hơn so với nhóm clo hữu cơ.
- Nhóm carbamate: Mipcin, Bassa, Sevin, đây là thuốc được dùng
rộng rãi, bởi vì thuốc tương đối rẻ tiền, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tương
đối cao, khả năng phân hủy tương tự nhóm lân hữu cơ.
Hòa tan đều trong
nước, không chứa
chất hóa sữa
Bột hòa
nước
BTN, GHN,
WP, DF,
WDG, SP
Viappla 10 BTN
Vialphos 80 BHN
Copper-zinc 85 WP
Padan 95 SP
Dạng bột mịn, phân
tán trong nước thành
dung dịch huyền phù
Huyền phù HP, FL, SC
Basudin 10 H
Regent 0.3G
Lắc đều trước khi sử
dụng
Hạt H, G, GR
Orrthene 97 Pellet
Deadline 4% Pellet
Chủ yếu rải vào đất
Viên P Karphos 2 D
Chủ yếu rải vào đất,
làm bả mồi.
Thuốc phun
bột
BR, D
- Tên thương mại: do công ty sản xuất hoặc phân phối thuốc đặt ra để
phân biệt sản phẩm giữa công ty này và công ty khác. Tên thương mại gồm 3
phần: tên thuốc, hàm lượng hoạt chất và dạng chất.
Ví dụ: thuốc trừ sâu Basudin 10 H: Basudin là tên thuốc, 10 là 10%
hàm lượng hoạt chất, H là dạng hạt.
- Tên hoạt chất: là thành phần chủ yếu trong thuốc có tác dụng tiêu diệt
dịch hại. Tên hoạt chất của Basudin là Diazinon.
- Phụ gia: là những chất trơ, không mang tính độc được pha trộn vào
thuốc để tạo thành dạng thương phẩm giúp cho việc sử dụng dễ dàng. (Trung
tâm khuyến nông Nghệ An 2012) [19]
*Nồng độ, liều lượng
- Nồng độ (%): lượng thuốc cần dùng để pha loãng với 1 đơn vị thể tích
dung môi, thường là nước.
- Liều lượng (kg/ha, lit/ha): lượng thuốc cần áp dụng cho 1 đơn vị diện tích.
(Trung tâm khuyến nông Nghệ An 2012) [19]
*Dịch hại: là những sinh vật, vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông
sản, làm thất thu năng suất hoặc làm giảm phẩm chất nông sản. Các loài dịch
11
hại thường thấy là sâu, bệnh, cỏ dại, chuột, cua, ốc, tuyến trùng, nhện
(Trung tâm khuyến nông Nghệ An 2012) [19]
*Phổ tác động: Là nhiều loài dịch hại khác nhau mà loài thuốc đó có
thể tác động đến.
- Phổ rộng: thuốc có thể trừ được nhiều dịch hại trên nhiều loại cây
trồng khác nhau.
- Phổ hẹp (đặc trị): Thuốc trừ được ít đối tượng gây hại (thuốc trừ dịch
hại có tính chọn lọc càng cao thì phổ tác động càng hẹp). (Trung tâm khuyến
nông Nghệ An 2012) [19]
*Phòng trị
- Phòng: ngăn chặn không cho tác nhân gây hại xâm nhập và phát triển
trong cây trồng.
hiệu nhóm độc
Biểu tượng
nhóm độc
Độc tính LD50 (chuột nhà)
mg/kg
Qua miệng Qua da
Thể
rắn
Thể
lỏng
Thể
rắn
Thể
lỏng
Ia - Độc mạnh
"Rất độc" (chữ
đen, nền đỏ)
Đầu lâu, xương
chéo (đen trên
nền trắng)
5 20 10 40
Ib - Độc "Độc"
(chữ đen, nền đỏ)
Đầu lâu, xương
chéo (đen trên
nền trắng)
5-50 20-200
10-
100
40-400
Ở Việt Nam, tạm thời theo cách phân nhóm độc của WHO và lấy căn
cứ chính là liều LD50 qua miệng chuột, phân chia thành 3 nhóm độc là nhóm
I (rất độc, gồm cả Ia và Ib), nhóm II (độc cao), nhóm III (ít độc).
Bảng 2.3. Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
(phân chia nhóm độc của Việt Nam)
Phân nhóm và
kí hiệu nhóm độc
Biểu tượng
nhóm độc
Độc tính LD50
qua miệng
(mg/kg)
Thể
rắn
Thể
lỏng
I - "Rất độc" (chữ đen, vạch
màu đỏ)
Đầu lâu, xương chéo
(đen trên nền trắng)
<50 <200
II - "Độc cao" (chữ đen,
vạch vàng)
Chữ thập đen trên nền
trắng
50-500
200-
2000
III - "Cẩn thận" (chữ đen,
vạch màu xanh nước biển)
- Tác động xua đuổi: Thuốc buộc sâu hại phải di dời đi xa các bộ phận
có phun xịt thuốc do vậy không gây hại được cây trồng.
Sự hiểu biết về cơ chế tác động của thuốc đến sâu hại là rất cần thiết,
trên cơ sở đó để dùng thuốc luân phiên trên các ruộng vườn chuyên canh
nhằm ngăn ngừa hoặc khắc phục hiện tượng kháng thuốc của sâu hại. (Trung
tâm khuyến nông Nghệ An 2012) [19]
*Thuốc trừ bệnh.
15
- Được dùng để phòng trừ nhiều loại vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng
và nông sản. Tuy có tên gọi thuốc trừ nấm nhưng nhóm thuốc này chẳng
những có hiệu lực phòng trị nấm ký sinh mà còn có tác dụng phòng trừ vi
khuẩn, xạ khuẩn gây hại cho cây trồng và nông sản.
- Các đường tác động của thuốc trừ bệnh:
+ Tác động trực tiếp: Ức chế phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào của
vi sinh vật gây bệnh. Hầu hết các thuốc trừ bệnh tác dụng theo hướng này.
+ Tác động gián tiếp: Tăng sức đề kháng của cây vì kích thích hướng
hoạt động của các men chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh.
Dựa theo tác động của thuốc đến vi sinh vật, có thể phân các thuốc trừ
bệnh thành 2 nhóm:
- Thuốc có tác dụng phòng bệnh (thuốc có tác dụng bảo vệ cây): Thuốc
được phun xịt lên cây hoặc trộn – ngâm hạt giống, có tác dụng ngăn ngừa vi
sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào bên trong mô thực vật để phát triển rồi
gây hại cho cây. Những thuốc này phải được dùng sớm, khi dự báo bệnh có
khả năng xuất hiện và gây hại cho thực vật. Nếu dùng chậm thuốc không thể
ngăn chặn được bệnh phát triển.
Ví dụ: Booc đô, Đồng oxyclorua, Monceren, Mancozeb
- Thuốc có tác dụng trừ bệnh: Khi phun lên cây, thuốc có khả năng xâm
nhập dịch chuyển bên trong mô thực vật và diệt được vi sinh vật gây bệnh
đang phát triển ở bên trong mô thực vật. Nhiều loại thuốc trừ nấm thông dụng
ở nước ta là những thuốc có tác dụng trị bệnh: Aliette, Anvil, Kitazin,
*Sử dụng theo 4 đúng
- Đúng thuốc: Căn cứ đối tượng dịch hại cần diệt trừ và cây trồng hoặc
nông sản cần được bảo vệ để chọn đúng loại thuốc và dạng thuốc cần sử
dụng. Việc xác định tác nhân gây hại cần sự trợ giúp của cán bộ kỹ thuật bảo
vệ thực vật hoặc khuyến nông.
- Đúng lúc: Dùng thuốc khi sinh vật còn ở diện hẹp và ở các giai đoạn
dễ mẫn cảm với thuốc, thời kỳ sâu non, bệnh chớm xuất hiện, trước khi bùng
phát thành dịch. Phun trễ kém hiệu quả và không kinh tế.
- Đúng liều lượng, nồng độ: Đọc kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc, đảm
bảo đúng liều lượng hoặc nồng độ pha loãng và lượng nước cần thiết cho một
đơn vị diện tích. Phun nồng độ thấp làm sâu hại quen thuốc, hoặc phun quá liều sẽ
gây ngộ độc đối với cây trồng và làm tăng tính chịu đựng, tính kháng thuốc.
17
- Đúng cách: Tùy vào dạng thuốc, đặc tính thuốc và những yêu cầu kỹ
thuật cũng như nơi xuất hiện dịch hại mà sử dụng cho đúng cách. Nên phun
thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu phun vào buổi trưa, do nhiệt độ cao,
tia tử ngoại nhiều làm thuốc nhanh mất tác dụng, thuốc bốc hơi mạnh dễ gây
ngộ độc cho người phun thuốc. Nên đi trên gió hoặc ngang chiều gió. Nếu
phun ở đồng xa nên đi hai người để có thể cứu giúp nhau khi gặp nạn trong
quá trình phun thuốc. (Trung tâm khuyến nông Nghệ An 2012) [19]
*Hỗn hợp thuốc
Là pha hai hay nhiều loại thuốc nhằm trừ cùng một lúc được nhiều
dịch hại. Tuy nhiên cần lưu ý các điểm sau: Chỉ nên pha các loại thuốc theo
sự hướng dẫn ghi trong nhãn thuốc, bảng hướng dẫn pha thuốc hoặc sự hướng
dẫn ghi trong nhãn thuốc, bảng hướng dẫn pha thuốc hoặc sự hướng dẫn của
cán bộ kỹ thuật biết rõ về đặc tính của thuốc. Nên hỗn hợp tối đa hai loại
thuốc khác nhóm gốc hóa học, khác cách tác động, hoặc khác đối tượng
phòng trừ trong cùng một bình phun.
Hỗn hợp thuốc nhằm một trong những mục đích sau:
- Mở rộng phổ tác dụng.
dụng rộng rãi ở Mỹ. Các hợp chất hữu cơ thủy ngân được dùng tràn lan để
bảo quản hạt giống và diệt sâu bọ cánh cứng Cororado đến mức người ta phải
đưa ra những quy định về sử dụng các hợp chất này. Những quy định đó có
thể coi là bộ luật đầu tiên về sử dụng hoá chất BVTV ra đời ở đây. Năm 1923,
nhóm Clo hữu cơ được tổng hợp ở Thụy Sỹ diệt sâu bọ tốt nhưng lại tồn lưu
quá lâu trong môi trường và tích lũy trong cơ thể gây độc hại cho hệ thần
kinh. Hợp chất lân hữu cơ ra đời năm 1932 ở Đức khắc phục được các nhược
điểm của Clo hữu cơ nên được sử dụng rộng rãi. Năm 1945, nhóm Cacbamat
ra đời ở Anh, tác dụng tương tự như lân hữu cơ nhưng ít độc hơn. Đến những
năm 1980, người ta tổng hợp được Pyrethroid nhờ vào chiết suất từ Pyrethrin
có trong thiên nhiên, ít độc hại, được ưa chuộng nhưng giá thành còn đắt.
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm,
song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới tăng lên không ngừng, số
chủng loại ngày càng phong phú. Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn
hơn với môi trường liên tục xuất hiện, bất chấp các quy định quản lý ngày
càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư cho
nghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn.
19
Trong 10 năm gần đây, tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng
giảm nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng. Nguyên nhân là cơ cấu thuốc
thay đổi. Nhiều loại thuốc cũ giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh,
môi trường được thay thế bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng
với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao. Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc
BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tùy thuộc vào độ phát triển và đặc
điểm canh tác của từng nước (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) [15].
Chỉ trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những năm 1980 cho
đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành KHCN, thuốc BVTV
cũng được phát minh và sử dụng ngày càng nhiều và đã đem lại nhiều lợi ích
kinh tế to lớn. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới sử
dụng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm
phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm
không cần thiết, tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi, thậm
chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loại dịch hại
ra khỏi một vùng rộng lớn. Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi
trường và sức khỏe con người. Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV,
cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ
thuốc. Từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên
hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV, dùng biện pháp sinh học để thay
thế biện pháp hóa học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp.
- Giai đoạn 1990-nay: Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ bản:
nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường. Năm thành
phần kinh tế đều được phép kinh doanh thuốc BVTV. Nguồn hàng phong
phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn
thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân. Lượng thuốc BVTV tiêu thụ
qua các năm đều tăng. Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả
hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập. Một mạng lưới phân phối thuốc
BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân
rất thuận lợi. Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt và đạt được
hiệu quả khích lệ.
Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gây khó
khăn cho công tác quản lý, quá nhiều tên thuốc đẩy người sử dụng khó lựa
21
chọn được thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít
khó khăn. Tình trạng lạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại biện pháp hóa học đã để
lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khỏe con người. Ngược lại, có
nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ
thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cách thay thế bằng các biện
pháp phòng trừ khác. Tuy vậy, vai trò của biện pháp hóa học trong sản xuất
nông nghiệp vẫn được thừa nhận. Để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV và sử
dụng chúng an toàn, phòng trừ tổng hợp là con đường tất yếu phải đến. Phải
(2000 – 2011) số lượng thuốc BVTV tăng 2,5 lần, số loại thuốc đăng ký sử
dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần, Số lượng hoạt chất
đăng ký sử dụng ở Việt Nam gần 1.000 loại. Các nước trong khu vực là 400 –
600 loại (Nguyễn Quang Hiếu, 2012) [9].
2.2.3. Tình hình quản lý và sử dụng thuốc BVTV ở huyện Nghi Lộc, tỉnh
Nghệ An
Theo Chi cục Phát triển nông thôn và Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh
Nghệ An, việc dùng thuốc BVTV trên địa bàn huyện Nghi Lộc đã được cải
thiện. Công tác vệ sinh đồng ruộng, đặc biệt là thu gom bao bì thuốc BVTV
sau khi sử dụng đã được nông dân nhiều nơi tiếp thu và thực hiện. Một số loại
thuốc BVTV thế hệ mới, thuốc sinh học, thảo mộc đã được nông dân đưa vào sản
xuất và sử dụng.
Tuy nhiên, hiện nay ở một số vùng trồng cây lương thực của xã Nghi Thái
vẫn còn tình trạng nhiều hộ nông dân giữ thói quen sử dụng hỗn hợp 2 đến 3
loại thuốc BVTV trong mỗi lần phun, vừa gây lãng phí thuốc vừa gây ô
nhiễm môi trường.
Ngoài ra, ở một số vùng, nông dân vẫn chưa đảm bảo cách ly với thuốc
BVTV đúng thời gian.
Để khắc phục tồn tại trên, Chi cục NN&PTNT và Chi cục BVTV tỉnh
Nghệ An đã tham mưu với Sở NN&PTNT, UBND tỉnh từng bước nâng cao trách
nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý thuốc BVTV trên địa bàn.
Nhiều giải pháp được đưa ra như đề nghị Chủ tịch UBND các xã ký
cam kết để thực hiện quản lý, chỉ đạo sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an
toàn và quản lý thuốc BVTV trên địa bàn theo đúng quy định, xây dựng và
hình thành các quy định của địa phương về quản lý và sử dụng thuốc BVTV
trên địa bàn.
23
Không Khí
Đất
Thực vật
vật
Người
Nước
Xói mòn
Rửa trôi
Hình 2.1. Sơ đồ tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường
mất đi của thuốc
Từ sơ đồ 2.1 ta thấy: thuốc BVTV tác động trực tiếp đến các môi
trường xung quanh như môi trường nước, môi trường đất, không khí và thực
vật. Thuốc BVTV rất khó phân hủy và tồn tại trong môi trường rất lâu nên
giữa các môi trường này chúng lại di chuyển qua lại lẫn nhau bằng các con
đường như: Hấp thụ, bay hơi, lắng đọng, vận chuyển…
2.3.1. Con đường phát tán của thuốc BVTV ra ngoài môi trường
Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là những môi trường
chính nhưng có sự tương tác lẫn nhau. Sự ô nhiễm của môi trường này sẽ gây
tác động đến môi trường xung quanh. Con đường phát tán của thuốc BVTV
được thể hiện trong sơ đồ 2.2:
Tia nước thuốc Không khí Cây trồng Diệt sâu
BVTV bệnh
Đất trồng Thu hoạch
Mưa, sương mù Động vật
Nước sạch Con người
Thực
phẩm
Con đường dự kiến phát tán của thuốc BVTV
Nơi cấp
Nước ngầm
25