Thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An - Pdf 33

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
--------------&--------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC
VẬT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI



DIỄN THÁI, HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN”

Sinh viên thực hiện
Lớp
Khóa
Chuyên ngành
Giảng viên hướng dẫn
Địa điểm thực tập

:
:
:
:
:
:

ĐINH THỊ LAM
MTA
56
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN.....................................................................................................i
MỤC LỤC..........................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG........................................................................................iv
DANH MỤC HÌNH..........................................................................................vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.................................................................vii
PHẦN I...............................................................................................................1
ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................1
1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài...............................................2
1.2.1 Mục đích....................................................................................................2
1.2.2 Yêu cầu......................................................................................................2
PHẦN II.............................................................................................................3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU................................................3
2.1 Tổng quan về tình hình sử dụng phân bón..................................................3
2.1.1 Những khái quát chung về phân bón........................................................3
2.1.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón...............................................18
2.2 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV..........................................................23
2.2.1 Khái quát chung về BVTV ...................................................................23
2.2.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV ...........................................................28
PHẦN III..........................................................................................................32
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................32
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................32
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu...............................................................................32
3.2 Nội dung nghiên cứu.................................................................................32
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội ở xã Diễn Thái................................32
3.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Diễn Thái.................................32

học bảo vệ môi trường tại xã Diễn Thái...............................................69
4.5.1 Đối với phân bón.....................................................................................69
4.5.2 Đối với thuốc BVTV..............................................................................71
PHẦN V...........................................................................................................73

iii


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................73
5.1 Kết luận......................................................................................................73
5.2 Kiến nghị....................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................76

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Việc sử dụng phân bón theo vùng...................................................18
19
Bảng 2.2. Liều lượng phân bón hoá học bình quân ở một số nước châu Á. . .20
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm................................21
Bảng 2.4. Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm.............21
Bảng 2.5. Lượng phân bón sử dụng trên đất phù sa các hệ thống sông chính
và cả nước trên 1 ha (năm 2003)..........................................................22
Bảng 2.6. Tính bền của một số thuốc trừ sâu Chlorine hữu cơ ở trong đất....25
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Diễn Thái .................42
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng của xã năm 2014......44
Bảng 4.3. Thực trạng buôn bán, kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn xã
Diễn Thái...............................................................................................44
Bảng 4.4. Một số loại thuốc BVTV được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
tại xã Diễn Thái ....................................................................................46
Bảng 4.5. Số lần phun và khoảng cách giữa các lần phun thuốc BVTV của


Diễn Thái...............................................................................................55

vi


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV

: Bảo vệ thực vật

FAO

: Tổ chức lương thực thế giới

HC

: Hợp chất hữu cơ

IFA

: Hiệp hội phân bón quốc tế

NXBNN

: Nhà xuất bản nông nghiệp

MTST

: Môi trường sinh trưởng

năng suất cao thì cần phải có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý. Phân bón và
thuốc bảo vệ thực vật là 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất cây
trồng. Bón phân đầy đủ, cân đối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn,
hợp lí sẽ thu được năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm tốt, không
làm suy kiệt và ô nhiễm môi trường đồng thời người sản xuất lại thu được lợi
nhuận cao.
Tuy nhiên hoạt động sản xuất nông nghiệp đang tồn tại một vấn đề
đáng lo ngại là việc người dân sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV) một cách tự phát, không theo chỉ dẫn, thậm chí sử dụng cả các
loại hóa chất đã bị nghiêm cấm hoặc không rõ nguồn gốc gây ô nhiễm môi
trường quan, đặc biệt làm suy thoái môi trường đất, nước, không khí, hệ sinh
thái, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người, động vật và
thủy sản.
1


Diễn Thái là một xã có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, có mức đầu
tư phân bón, thuốc BVTV cao. Sản phẩm nông nghiệp mà xã sản xuất ra
không chỉ phục vụ nhu cầu cho người dân trong vùng mà còn phục vụ nhu
cầu cho các vùng lân cận. Vì vậy, tình hình sử dụng phân bón, thuốc BVTV là
vấn đề cần được quan tâm. Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:
“ Thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản
xuất nông nghiệp tại xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An”.
1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất
nông nghiệp tại xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng phân bón và hóa chất BVTV hợp lí,
nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh

Theo Cẩm Hà (2012), phân bón hóa học được phân thành các loại như
sau:
Phân loại theo thành phần
+ Phân bón vô cơ: Gồm phân khoáng thiên nhiên hoặc phân hóa học,
trong thành phần có chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ. Bao gồm
các loại: Phân khoáng đơn, phân phức hợp, phân khoáng trộn.
+ Phân khoáng đơn: Là loại trong thành phần chỉ chứa một yếu tố dinh
dưỡng đa lượng N hoặc P2O5 hữu hiệu hoặc K2O hữu hiệu.
+ Phân phức hợp: Là loại phân được tạo ra bằng phản ứng hóa học, có
chứa ít nhất hai yếu tố dinh dưỡng đa lượng.
3


+ Phân khoáng trộn: Là loại phân được sản xuất bằng cách trộn cơ học
từ hai hoặc ba loại phân khoáng đơn hoặc trộn với phân phức hợp, không
dùng phản ứng hóa học.
+ Phân hỗn hợp: Là loại phân bón trong thành phần có chứa từ hai yếu
tố dinh dưỡng khác nhau (vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật, các yếu tố dinh dưỡng
khác) trở lên, bao gồm các loại phân hữu cơ chế biến công nghiệp, phân hữu
cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh.
+ Phân hữu cơ chế biến công nghiệp: Là loại phân bón được sản xuất từ
nguyên liệu hữu cơ, được chế biến theo quy trình công nghệ lên men công
nghiệp, có hàm lượng chất hữu cơ, kí hiệu là HC (tính bằng HC tổng số) và
các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kĩ thuật quốc gia.
+ Phân hữu cơ sinh học: Là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu
hữu cơ, được xử lí lên men bằng vi sinh vật sống có ích hoặc được xử lý bằng
các tác nhân sinh học khác có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia.
+ Phân hữu cơ khoáng: Là loại phân bón dược sản xuất từ phân hữu cơ
chế biến công nghiệp hoặc hữu cơ sinh học trộn thêm một hoặc một số yếu tố

protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần cơ bản
của cơ thể sống. Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai trò quan
trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng.
Ngoài ra, đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho
lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng
lượng của ánh sáng để chuyển đổi nước và cacbonic thành đường bột, nuôi
sống toàn thế giới động vật.
Phân đạm là thức ăn chính của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển; lá
có kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất cây
trồng.
Theo kết quả điều tra, hầu hết các hộ đều sử dụng phân đạm để bón cho
cây trồng. Cách thức bón như sau:
5


+ Rắc trực tiếp xuống ruộng: Hình thức này được sử dụng nhiều đối với
cây lúa và cây ngô. Sau đó dựa vào từng đợt sinh trưởng và tình trạng lúa xấu
hay tốt mà rắc thêm ít hay nhiều. Tuy nhiên, nếu nước trong ruộng bị rò rỉ,
không được kiểm soát tốt sẽ gây thất thoát phân, làm giảm hiệu quả và tác
dụng của phân bón.
+ Vùi đạm vào gốc đối với một số loại cây rau màu như khoai lang.
Khi trồng người dân thường vùi đạm vào gốc rồi phủ đất lên. Cách này làm
giảm sự thất thoát đạm tuy nhiên bón nhiều gây nên hiện tượng tích lũy nitrat
trong cây.
+ Rắc trực tiếp lên bề mặt luống rau sau khi mưa xong hoặc người dân
dùng vòi phun tưới ẩm trên mặt luống làm cho đạm tan. Đây là phương pháp
đỡ tốn sức lao động và rất nhanh, nhưng đây cũng là phương thức mất đi
lượng đạm lớn do bốc hơi hoặc do rửa trôi dễ gây ô nhiễm đất, nước, không
khí và lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được là rất ít.
+ Ngoài ra, người dân thường hòa đạm vào nước sau đó dùng uroa hoặc

ta gắn phân kali với cây lấy quả. Vì vậy, người dân ở xã thường bón nhiều
clorua kali vào lúc cây hình thành nụ và hoa. Tập quán sử dụng tro bếp kết
hợp phân chuồng bón lót cho cây trồng cũng là nguồn cung cấp kali cho cây
trồng, đây là nguồn cung cấp kali rất hữu ích mang lại hiệu quả cao.
Phân lân và kali bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, cân bằng chất dinh
dưỡng cho cây trồng, nhưng mức độ sử dụng chúng lại rất khác nhau giữa các
hộ dân, giữa các loại cây trồng, có sự chênh lệch khá lớn giữa lượng kali
clorua và super lân trong quá trình sử dụng.
Các hộ sản xuất thường sử dụng phân lân và kali theo các cách:
- Bón lót: Thời kỳ cây non, người dân dùng phân lân để bón lót, bón theo
hàng, theo hốc gần rễ cây. Hoặc phân lân có thể sử dụng kết hợp với phân
chuồng trộn ủ cho hoai vừa giảm mất đạm vừa tăng khả năng hấp thụ cho cây.
Người dân cũng thường pha lân vào nước để tưới cho rau màu vừa làm cho
cây cứng cáp vừa thúc đẩy sự ra hoa, hình thành quả. Từ xa xưa, người dân đã
7


biết sử dụng tro bếp trộn với phân chuồng để bón lót cung cấp một lượng
đáng kể kali cho cây trồng
- Bón thúc: Kali thường được bổ sung cho cây trồng thời kỳ bón thúc,
để thúc đẩy cây trồng ra hoa đậu quả dưới dạng phân kali hoặc dạng NPK
tổng hợp. Người dân rắc trực tiếp kali lên luống hoặc xới đất rắc kali sau đó
lấp đất lên. Việc xới đất, vun luống không những đảm bảo độ thoáng khí
trong đất còn giảm lượng phân hoá học mất đi và tăng hệ số sử dụng phân của
cây.
2.1.1.4 Vai trò của phân bón hoá học
Việc dùng phân bón được áp dụng từ hơn trăm năm nay dựa trên sự
hiểu biết hoá học về dinh dưỡng cây trồng đã góp phần to lớn vào việc tăng
sản lượng và chất lượng nông sản phẩm. Một tác dụng có lợi bền vững và lâu
dài là độ phì nhiêu của đất được cải thiện làm cho mức thu hoạch ổn định hơn

thiện tính chất lý, hóa, sinh của đất, trên cơ sở đó có thể bón nhiều phân hóa
học để thâm canh đạt hiệu quả càng cao.
Bón phân hóa học với lượng hợp lý có tác dụng tăng cường hoạt động
của vi sinh vật có ích, do đó lại tăng cường sự khoáng hóa chất hữu cơ có sẵn
trong đất, chuyển độ phì tự nhiên của đất thành độ phì thực tế. Bón phân lân
và phân kali có khả năng làm tăng hàm lượng các chất này cho đất và độ phì
đất. Hầu hết các loại phân lân thông thường chứa một lượng canxi cao nên
bón phân lân còn giữ cho đất bị chua hóa.
Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón tới môi trường
+ Thoái hóa đất do phân bón
Lạm dụng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu là một trong
những nguyên nhân lớn gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái đất đai, nhất
là đất sản xuất nông nghiệp. Theo kết quả điều tra gần đây nhất của Viện
Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, trong số 21 triệu ha đất canh tác
nông nghiệp của Việt Nam thì đã có đến 9,34 triệu ha đất hoang hóa. Ở Bình
9


Định, tổng diện tích đất tự nhiên là 602.506 ha, có 425.835 ha đất xám bạc
màu, trong đó diện tích đất cát 15.968 ha, đồi núi dốc 375.000 ha; diện tích
hoang mạc hóa hiện nay của Bình Định là 786 ha. (Tạp chí khoa học công
nghệ Bình Định, 2014)
Ở Việt Nam, do nhu cầu tăng năng suất nên đã áp dụng những biện
pháp thâm canh, tăng vụ bóc lột đất, lượng bón phân khoáng tăng nhanh, mất
cân đối với phân hữu cơ. Mặt khác khi thu hoạch lại lấy đi gần như toàn bộ
chất hữu cơ nên trong đất hàm lượng chất hữu cơ giảm nhanh, quá trình tích
lũy mùn yếu đi rất nhiều so với quá trình khoáng hóa. Sự nghèo mùn làm phá
hủy cấu trúc của đất, giảm phức hợp hấp thụ sét mùn (complexe absorbant
argilo humique) nên giảm độ phì của đất. Ngoài ra, việc bón phân không hợp
lí và không đúng tỉ lệ còn gây mất cân bằng dinh dưỡng trong đất. Ở vùng

Theo tính toán, mỗi năm ở nước ta có khoảng 60-70% lượng phân đạm
không được cây trồng hấp thụ, đang tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái
nông nghiệp như làm chai cứng đất, ô nhiễm nguồn nước và có thể gây đột
biến gen đối với một số loại cây trồng.
Phân ure chứa khoảng 44 – 48% N nguyên chất. Như vậy, với nhu cầu
sử dụng phân ure là 2 triệu tấn/năm, hằng năm, đất tiếp nhận thêm khoảng
6.000 tấn N không được cây trồng hấp thụ.
Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên
hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ
80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất.
Bón nhiều phân đạm vào thời kì muộn cho rau quả, đã làm tăng đáng kể hàm
lượng NO3- trong sản phẩm.
Ô nhiễm do phân đạm: Trong các loại thức ăn, nước uống được con
người sử dụng hàng ngày thì rau xanh đưa vào cơ thể một lượng NO 3- lớn
nhất. Sự tích luỹ NO3- cao trong cây ít gây độc đối với cây trồng nhưng rất
nguy hiểm cho con người nhất là trẻ em. Tính độc của NO 3- không đáng kể
11


nhưng trong quá trình bảo quản, vận chuyển và tiêu hoá của con người thì
NO3- bị khử thành NO2-.
Trong máu NO2- ngăn cản sự kết hợp giữa hemoglobin với oxy làm cho
việc trao đổi khí của hồng cầu không được thực hiện trong quá trình hô hấp.
Trong quá trình dinh dưỡng của cây trồng phân bón là yếu tố then chốt
quyết định năng suất nhưng bón phân không hợp lí, thu sản phẩm không đúng
thời điểm sẽ làm tăng dư lượng NO 3- trong rau quả. Cây trồng hút đạm chủ
yếu là dạng NO3- và NH4+, qua quá trình biến đổi sinh hoá để tổng hợp nên
protein và các axit amin. Bón nhiều N, quá trình quang hợp yếu N từ NH 4+,
NO3- sẽ không được chuyển thành axit amin, protein mà được tích luỹ ở dạng
NO3- trong sản phẩm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hàm lượng NO3- tích luỹ

có thể chuyển hoá thành dạng NO3- do sự nitrate hoá (nitrification) do vi
khuẩn Nitrosomonas và rồi chuyển thành NO2- do vi khuẩn Nitrobacter. Dạng
NO3- do từ bón phân hoặc được tạo ra từ sự nitrat hoá thì rất dễ bị rửa trôi vì
không bị hấp phụ bởi đa số keo đất mang điện tích âm.
Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lượng hấp thu của rễ
thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải
chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước
ngầm và các dòng sông. Cùng với tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học,
độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng. Hàm lượng
nitrat lớn trong đất không chỉ gây ra những ảnh hưởng xấu lên hệ sinh thái đất
mà còn có thể bị rửa trôi, gây ra ô nhiêm nước ngầm, do nitrat rất linh động
và gần như không bị đất hấp phụ.
Lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà còn làm
mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp. Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ,
kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên
một đe dọa nghiêm trọng trong việc giữ phì nhiêu của đất. Là do sự tích lũy
liên tục các chất tạp (kim loại, á kim) có trong phân hóa học và sự biến đổi
13


cấu trúc của đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng
giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Phân động vật và thực vật không
quay về với đất mà chất đống sẽ ô nhiễm mực thủy cấp sau khi lên men
amoniac. Hoặc chúng bị đem thiêu đốt bỏ, không về đất được. Đất bị mất chất
hữu cơ cũng sẽ làm cho các chất độc vốn bị giữ lại trong thành phần chất hữu
cơ được giải phóng và được cây trồng hút thu, tích lũy và gây độc cho cây
trồng.
- Ô nhiễm đất do phân hữu cơ
Phân bón hữu cơ - chủ yếu là phân chuồng, phân bắc là nguồn dinh
dưỡng quan trọng, có tác dụng phục hồi độ phì nhiều cho đất. Tuy nhiên, sử

hàm lượng mùn trong đất cao và khả năng hấp phụ của đất cao. Sự tích tụ của
các dạng này trong đất có thể của các quá trình sau:
+ Sự thay thế đồng hình trong các mạng khoáng sét
+ Sự hấp phụ các ion kim loại bởi khoáng sét, đặc biệt là họ alophan
+ Cộng kết với các oxit và và hidroxit mới kết tủa, đặc biệt là Fe
+ Tạo thành các hợp chất phức cơ kim ít linh động
- Ô nhiễm kim loại nặng
Kim loại nặng có xu hướng tích lũy trong đất, đặc biệt ở lớp đất gần bề
mặt. Do vậy, mức độ độc hại về lâu dài phải được chú ý đến. Tính độc của
kim loại nặng biểu hiện ở chỗ gây nên sự sụt giảm số lượng và sự đa dạng của
vi sinh vật đất, ảnh hưởng lên vi sinh vật có lợi cho đất (ví dụ vi sinh vật cải
thiện sự hô hấp của đất, phân hủy chất hữu cơ, cố định nitơ…). Kim loại nặng
còn có tác dụng gián tiếp làm giảm sự phân hủy thuốc trừ sâu và những chất
hữu cơ khác thông qua việc tiêu diệt các loại vi khuẩn và nấm mà trong điều
kiện bình thường, sẽ chịu trách nhiệm phân giải các chất nguy hại này (Silsoe
Research Institute, 2003).
Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong đất cũng có thể gây ra bởi việc sử
dụng phân bón hữu cơ. Ví dụ, việc cho thêm kẽm vào thức ăn công nghiệp
15


cho gia súc nhằm phòng bệnh và tăng khả năng tiêu hóa cũng được xem là
yếu tố gây nên sự ô nhiễm kim loại nặng cho môi trường cần được quan tâm.
Người trồng rau phần lớn đều sử dụng phân chuồng từ heo, gà, trong khi đó
những gia súc gia cầm này được nuôi từ thức ăn tổng hợp là khá phổ biến.
Thức ăn dạng này có nhiều khoáng vi lượng. Hàm lượng kim loại nặng trong
phân sẽ xâm nhập vào đất trồng và tồn lưu trong các loại nông sản đặc biệt là
đối với các loại rau ăn lá như cải ngọt, cải xanh, xà lách. Hàm lượng kim loại
nặng trong bùn thải sinh hoạt là cao nhất. Phân chuồng chứa kim loại nặng ở
mức là nguồn cung cấp dinh dưỡng vi lượng cho cây. Với phân lân, đặc biệt là

Hasegawa, 1995). Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử
dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn
tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat. Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong
nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng
muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc
biệt là trẻ em. Tác giả Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập
niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là
do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO 3- xuống nước ngầm. Hàm
lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng
đồng. Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3- trong nước uống là 50
mg/l, Mỹ là 45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là 100 mg/l. Y học đã xác
định NO2- ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: Gây nên chứng máu
Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng.
Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong
các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì
chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan
và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động
nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở
phụ nữ.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status