Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới hiện nay đang không ngừng phát triển, hòa mình vào đó, mỗi quốc
gia đều có những chiến lược phát triển của đất nước mình, hầu hết mọi quốc gia
đều đi theo con đường công nghiệp hóa, tăng tỉ trọng đóng góp của ngành công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp vào thu nhập của
nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất vật chất
cơ bản giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mọi quốc gia, đặc biệt là các
nước đang phát triển. Mặt khác, xã hội đang ngày càng phát triển, đời sống của con
người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực
phẩm cũng không ngừng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Vì vậy, bất
cứ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế một cách nhanh chóng thì quốc
gia đó phải đảm bảo được an ninh lương thực.
Cũng như mọi quốc gia khác, Việt Nam cũng không thể vượt ra khỏi quy luật
này. Dù đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nhưng Việt Nam vẫn rất chú trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho toàn
quốc gia, từ một nước phải đi xin viện trợ lương thực, thực phẩm ở quốc gia khác,
ngày nay, Việt Nam đã trở thành nước xu
ất khẩu lúa gạo đứng nhất nhì trên thế giới.
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam luôn
tăng trưởng cao và liên tục đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực cho đất
nước. Góp phần tạo nên thành tựu ấy là chính nhờ nỗ lực sản xuất nông nghiệp ở
các tỉnh, địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hóa. Là một trong những tỉnh lớn
nhất cả nước về dân số lẫn diện tích nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, thêm vào đó là
điều kiện tự nhiên vô cùng phong phú và đa dạng ... đã thúc đẩy cho Thanh Hóa
phát triển nông nghiệp vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt là xã Hà Lâm, huyện Hà Trung.
Tuy nhiên, sản xuất lúa nói riêng, sản xuất nông nghiệp nói chung vẫn còn
xem xét các sự vật hiện tượng, sự vận động và biến đổi của nó trong mối quan hệ
và liên hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua cách nhìn nhận vấn đề đó để có cơ sở đánh
giá bản chất các sự vật, hiện tượng trong điều kiện cụ thể tại xã xã Hà Lâm, huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
• Phương pháp điều tra thu thập số liệu:
Chọn địa điểm điều tra: căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, tôi đã chọn
điều tra ở các xóm 1, xóm 4, xóm 8 của xã Hà Lâm, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
Chọn mẫu điều tra: Tổng số mẫu điều tra là 60 hộ. Tất cả các hộ được chọn
theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp.
Thu thập số liệu:
o Sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc thiết kế phiếu điều tra
phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn trực tiếp 60 hộ được lựa chọn ngẫu nhiên.
o Thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ Ủy ban nhân dân xã Hà Lâm,
sách, báo, internet....
• Phương pháp phân tổ: Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau như mức đầu tư
chi phí, quy mô đất đai, …của các hộ điều tra mà tiến hành phân tổ có tính chất
khác nhau.
• Phương pháp phân tích thống kê: Từ các số liệu thu thập được, vận dụng các
phương pháp số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, phương pháp so sánh để
phân tích sự khác biệt giữa mức đầu tư, năng suất lúa thu được các vụ sản xuất
sản xuất đều lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn đánh giá hoạt động sản xuất của mình
bởi với họ, hiệu quả kinh tế là thước đo chính xác và khách quan nhất.
Bàn về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, có rất nhiều tác giả đã đưa ra
quan điểm thống nhất với nhau, đó là các tác giả Farrell (1957), Schultz (1964),
Rizzo (1979) và Ellis (1993). Các tác giả cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được xác
định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân lực,
tài lực, vật lực, tiền vốn...) để đạt được kết quả đó”. Các tác giả cho rằng, cần phân
biệt rõ 3 khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả phân bổ các nguồn lực
và Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí
hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ
áp dụng. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực thể hiện thông qua các mối
quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các loại sản phẩm.
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu
vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về
đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính
đến yếu tố về giá đầu vào và giá của đầu ra, vì thế, nó còn được gọi là hiệu quả giá.
Xác định hiệu quả này giống như việc xác định các điều kiện về lý thuyết biên để
tối đa hóa lợi nhuận, điều này có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị
chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
5
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra
Công thức này cho biết nếu bỏ ra một đơn vị chi phí sẽ tạo ra được bao nhiêu
đơn vị kết quả, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực.
Dạng nghịch : Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa chi phí bỏ ra và
kết quả thu được.
Trong đó:
h: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra
Công thức này cho biết để đạt được một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu
đơn vị chi phí.
Hai loại chỉ tiêu này mang ý nghĩa khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết
với nhau, cùng được sử dụng để phản ánh hiệu quả kinh tế. Các chỉ tiêu trên còn
được gọi là chỉ tiêu toàn phần.
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
- Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm
hàng đầu của các nhà sản xuất, mỗi danh nghiệp mà còn là mối quan tâm của toàn
xã hội.
- Nâng cao hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với
Ánh sáng ảnh hưởng đến cây lúa trên 2 mặt:
• Cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp. Cường độ ánh sáng thuận lợi
cho lúa từ 250-400 calo/cm2/ngày.
• Số giờ chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự phát triển, ra hoa, kết quả
của lúa sớm hay muộn.
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến cây lúa, đặc biệt là tốc độ sinh trưởng nhanh hay
chậm của lúa. Với mỗi mức nhiệt độ, lúa lại sinh trưởng với tốc độ khác nhau: Nếu nhiệt
độ thấp hơn 130 C thì lúa ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ thấp kéo dài nhiều ngày lúa
có thể chết. Nhiệt độ cao hơn 400C, cây lúa sinh trưởng nhanh nhưng tình trạng sinh
trưởng xấu, nếu kéo theo gió lào, ẩm độ không khí thấp thì cây chết.
- Lượng mưa:
Nước rất quan trọng đối với cây lúa vì vậy lúa cần nhiều nước hơn các cây
trồng khác, ở từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau, lúa cần những lượng nước
SVTH: Lê Thị Quỳnh
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
khác nhau. Trong mùa mưa, lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình từ 67mm/ngày, trong mùa khô, lượng nước mà cây lúa cần nhiều hơn, khoảng 89mm/ngày. Một tháng cây lúa cần khoảng 200 mm nước. Lượng nước rất quan
trọng đối với cây lúa, sự thiếu hụt hay thừa nước đều ảnh hưởng đến sinh trưởng,
phát triển của cây lúa.
1.12.2. Yếu tố về kinh tế - xã hội
• Yếu tố về kinh tế
- Mức độ đầu tư cho sản xuất lúa
Đây là yếu tố có thể coi là quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất và sản
lao động ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và hiệu quả của ngành sản xuất đó. Ở
nước ta lực lượng lao động rất đông nhưng trình độ lao động còn thấp, lao động
chủ yếu là thủ công đơn giản, đặc biệt là lao động nông nghiệp nên đã ảnh hưởng
rất lớn đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu tư thâm canh sản xuất.
- Tập quán canh tác
Người dân Việt Nam đã gắn bó lâu đời với nghề trồng lúa, mỗi địa phương có
những tập quán canh tác khác nhau. Đây là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng
suất và sản lượng lúa. Nếu tập quán canh tác lạc hậu sẽ hạn chế tái sản xuất mở
rộng, hạn chế mức đầu tư thâm canh và áp dụng tiến bộ khoa học mới vào sản xuất,
khuyến khích người dân đổi mới tập quán canh tác, đồng thời tăng cường công tác
khuyến nông giúp người dân thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng tiến bộ
khoa hoc kỹ thuật vào sản xuất là điều kiện cần thiết.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã và đang tác động rất lớn đến tập
quán người sản xuất nói chung và sản xuất lúa nói riêng. Tiến bộ về giống, khâu
làm đất, khâu chăm sóc...giúp người dân được giải phóng. Điều đó đòi hỏi các ban
ngành làm tốt công tác dồn điền đổi thửa, đảm bảo ruộng đất tập trung liền khoảnh
đủ lớn có thể đưa máy móc đến ruộng đồng.
- Thị trường tiêu thụ và giá cả
Trong sản xuất hàng hoá, thị trường là cầu nối giữa người mua và người bán.
Việc xác định thị trường cho ngành sản xuất lúa có tác dụng quan trọng nhằm xác
định đúng phương hướng, mục tiêu để có thể xây dựng các vùng sản xuất tập trung
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ngày nay, nhu cầu về các sản phẩm lại rất phong phú
và đa dạng. Vì vậy, cần có sự kết hợp giữa các ban ngành và nhân dân là hết sức
cấp bách để xác định diện tích cây trồng, giống hợp lý. Ngoài giá cả sản phẩm lúa,
giá cả các yếu tố đầu vào cũng là một trong những yếu tố tác động đến sản xuất,
chúng là chi phí sản xuất. Do vậy, sự tăng lên hay giảm xuống của chúng ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư thâm canh sản xuất của hộ nông dân.
1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
SVTH: Lê Thị Quỳnh
1.1.3.3. Chỉ tiêu đánh giá nguồn lực của nông hộ
• Quy mô đất đai.
• Quy mô vốn.
• Quy mô trang bị tư liệu sản xuất.
1.1.3.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất lúa
SVTH: Lê Thị Quỳnh
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
• GO (Giá trị sản xuất): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất do lao động sáng
tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Nó bao gồm thu nhập của người dân từ sản
phẩm chính và sản phẩm phụ của cây lúa
GO thường tính theo công thức sau:
GO =
Trong đó:
Qi là lượng sản phẩm i sản xuất ra
Pi là giá sản phẩm loại i
• IC (Chi phí trung gian): Bao gồm những khoản chi phí vật chất và dịch vụ
thuê ngoài được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể gồm chi phí mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí thuê
lao động ( làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch), các khoản thủy lợi phí, thuê
máy móc, thuê đất và thuê khác.
• VA (Giá trị gia tăng): Là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí
suất
Sản
lượng
Tạ/ha
52,3
2009
2010
2009/2008
2010/2009
SL
TL
(%)
SL
TL
(%)
7.437,2
7.513,7
diện tích nuôi trồng thủy sản kém hiệu quả sang trồng lúa, khai hoang… Diện tích
tích lúa cả năm giai đoạn 2005 – 2010 đã tăng 184,5 nghìn ha (từ 7.329,2 ha lên
7.513,7 ha). Năng suất lúa trung bình cả nước tăng 4,3 tạ/ha, từ 48,9 tạ/ha lên 53,2
tạ/ha. Có thể thấy năm 2010 là năm cho sản lượng và năng suất cao nhất: Sản lượng
đạt 39.988,9 nghìn tấn và năng suất là 53,2 tạ/ha. Càng ngày, sản lượng lúa gạo
Việt Nam càng tăng. Sản lượng lúa cả nước tăng gần 4156 nghìn tấn (từ trên
35832,9 nghìn tấn lên 39.988,9 nghìn tấn). Điều này có được là nhờ sự nỗ lực của
người dân, sự quan tâm của Đảng và nhà nước, các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình,
Thừa Thiên Huế áp dụng những giống lúa mới...
Nhìn chung ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam có được kết quả như vậy là
nhờ việc thực hiện các chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước,
thực hiện việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà đặc biệt là khoa học về di
truyền giống lúa có vai trò rất to lớn. Bộ giống lúa thường xuyên được chọn lọc lai
tạo, giữ gìn và bỗ sung, thay thế nhằm để bảo tồn những giống quý, có năng suất
cao, phẩm chất tốt và phù hợp với từng điều kiện tự nhiên khác nhau bởi những
giống lúa khác nhau, loại bỏ những giống kém chất lượng, hiệu quả kinh tế thấp,
đồng thời tích lũy và tái tạo, phát triển những bộ giống có năng suất cao, phẩm chất
tốt, chống chịu được với từng điều kiện bất lợi của môi trường. Trên cơ sở đó dự
báo Việt Nam có khả năng xuất khẩu đến 4,5 triệu tấn gạo năm 2020.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
Bảng 2: Diện tích và năng suất lúa của các vùng ở Việt Nam
giai đoạn 2008 - 2010
7422,6
52,3
7437,2
52,4
7513,7
53,2
ĐBSH
1155,4
58,9
1155,5
58,8
1150,1
59,2
TD & MNPB
669,9
215,6
46,3
217,1
48,2
ĐNB
307,7
42,8
304,7
43,8
297,2
44,9
ĐBSCL
3858,9
53,6
3870,0
khi đó ở các vùng khác chỉ để tiêu dùng trong vùng. Ngoài việc đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia thì trong những năm qua, Việt nam đã đạt được những thành
tựu trong xuất khẩu gạo. Cụ thể, trong năm 2010, nước ta đã xuất khẩu được 6.75
triệu tấn gạo, cao nhất từ trước đến nay.
Bảng 3: Sản lượng lúa của các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2010
2008
Vùng
SL
(1000
tấn)
2009
TL (%) SL (1000
tấn)
2010
TL
(%)
SL (1000
tấn)
TL
(%)
Tổng
7,5
3053,6
7,84
3081,0
7,7
BTB&DHMT
6114,9
15,79
6243,2
16,03
6154,1
15,4
Tây Nguyên
935,2
2,4
52,7
21569,8
53,94
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Nhìn vào bảng sản lượng lúa của các vùng của Việt Nam giai đoạn 2008-2010
nhìn chung sản lượng lúa có tăng (2009/2008 tăng 220,4 ngàn tấn,2010/2009 tăng
1038,7 ngàn tấn).Đồng bằng sông cửu long vẫn chiếm tỷ trọng sản lượng cao nhất
cả nước(trên 50%) liên tục trong nhiều năm liền,sau là đồng bằng sông Hồng và
Đông Nam Bộ.
Trong năm qua do thời tiết diễn biến phức tạp,khô hạn diễn ra ở hầu hết các
địa phương,cùng với hạn hán,lũ lụt và sâu bệnh đã ảnh hưởng lớn đến diện tích
gieo trồng và sản lượng lúa nhiều địa phương trên cả nước như vùng Bắc Trung Bộ
và Duyên Hải Miền Trung sản lượng lúa 2010/2009 giảm 0,63%.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
14
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
Tuy nhiên do có nhiều biện pháp đối phó với hạn hán,sâu bệnh,việc áp dụng
nhiều loại giống lúa mới nên sản lượng lúa vẫn tăng liên tục trong 3 năm liền.
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
lượng hiệu quả cao, thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển theo hướng sản xuất hàng
hóa. Năm 2010 Thanh Hóa tiếp tục xây dựng thêm 12.000 ha lúa năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao, dần chuyển một phần diện tích chuyên canh cây lương thực
sang trồng các loại cây nông sản, thực phẩm hàng hóa. Để thực hiện thắng lợi
chương trình này, Thanh Hóa tiếp tục đẩy mạnh chương trình sản xuất lúa lai F1,
định hình 770 ha sản xuất giống lúa lai F1 vào năm 2015, đưa lúa lai vào gieo cấy
đại trà hơn 49% diện tích.
Mặt khác, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ năm 2008 tỉnh
Thanh Hóa đã tiến hành việc cấp bù thủy lợi phí (TLP) cho bà con nông dân, tạo
được niềm phấn khởi cho bà con yên tâm sản xuất. Thế nhưng, một số HTX và
UBND các xã đã dựa vào chính sách đó để khai man diện tích nhằm trục lợi cá
nhân hàng tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước
Từ năm 2008 đến nay Ngân sách Nhà nước đã cấp bù kinh phí miễn TLP cho
nông dân, tạo điều kiện cho hộ nông dân giảm chi phí, phát triển sản xuất, nâng cao
mức sống và các HTX dịch vụ hoạt động tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Thanh Hóa ngày một tốt hơn. Tuy nhiên,
vừa qua Thanh tra tỉnh Thanh Hóa mới "sờ" vào 3 huyện: Hà Trung, Như Thanh và
Cẩm Thủy thì cả ba huyện này đều sai phạm do khai tăng diện tích tưới tiêu cho lúa
năm 2009 và 2010 để "ăn" ngân sách Nhà nước.
Điển hình tại huyện Hà Trung, ngày 24/11/2011 Thanh tra tỉnh Thanh Hóa đã
có Kết luận số 636/KL-TTTH về việc thanh tra 16 HTX/14 xã trên địa bàn, thì hầu
hết các xã đã khai man diện tích để " ăn cắp" tiền TLP, các HTX có lập danh sách
các hộ nhưng chỉ có một người ký cho nhiều hộ; HTX không thực hiện việc ký hợp
đồng, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng xác nhận diện tích tưới tiêu đến từng hộ sử
dụng nước theo quy định. Thậm chí nhiều UBND xã sau khi lấy tiền không chuyển
cho HTX theo quy định mà lập phiếu chi cho HTX quyết toán... Ví như: HTX dịch
Trung đã nỗ lực vượt khó, khai thác tốt những lợi thế, tiềm năng tạo những bước
phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội. Trong nông nghiệp, để khắc phục khó khăn do
ruộng đất sâu trững, huyện đã tập trung đầu tư hệ thống công trình thủy lợi. Đồng
thời mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng tích cực tăng nhanh diện tích
Xuân muộn chiếm 56.4% và Mùa sớm chiếm 55% , điều chỉnh lịch thời vụ, bố trí cơ
cấu giống lúa có năng suất cao. Nhờ đó, tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt trên
16.300 ha. Năm 2010 tổng sản lượng lương thực đạt 79.503 tấn. Huyện luôn đảm
bảo mục tiêu ổn định và giữ vững an ninh lương thực. Nhiều vùng đất trũng trồng lúa
kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản theo mô hình kết hợp lúa
– cá, lúa – tôm, đem lại thu nhập cao gấp 2 lần so với trồng lúa.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ HÀ LÂM, HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
2.1. Điều kiện tự nhiên của xã Hà Lâm
2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hà Lâm nằm ở phía Bắc huyện Hà Trung, cách Thị trấn huyện lỵ khoảng,
cách trung tâm huyện 5 km về phía Đông Nam có diện tích tự nhiên 626,75 ha,
ranh giới hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Hà Lai (huyện Hà Trung).
- Phía Nam giáp huyện Hậu Lộc.
- Phía Đông giáp xã Hà Phú (huyện Hà Trung) và huyện Hậu Lộc.
Tốc độ gió mạnh nhất đo được trong bão lên tới trên 40 m/s, trong gió mùa đông
bắc là 25 m/s. Ngoài ra, về mùa hè thỉnh thoảng xuất hiện gió Tây khô nóng ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển của cây trồng.
- Thiên tai: Chủ yếu là bão và gió mùa Đông Bắc gây ra các đợt rét đậm và
kéo dài. Sương muối, sương giá ít xuất hiện.
- Ánh sáng: Tổng giờ nắng trung bình là 1.736 giờ/năm. Số ngày nắng trong
năm khoảng 275 ngày.
2.1.4. Đặc điểm thủy văn
Xã Hà Lâm nằm trong tiểu vùng thủy văn hà lưu Sông Lèn. Ranh giới phía
Nam của xã nằm dọc theo bờ sông Lèn. Vì vậy Hà Lâm cũng chịu ảnh hưởng của
thủy triều. Ngoài nước mưa tự nhiên, nước sông Lèn là nguồn cung cấp chủ yếu
cho đời sống và sản xuất của nhân dân trong xã Hà Lâm.
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.1. Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 626,75 ha phân bổ cho các mục đích sử
dụng như sau:
- Đất nông nghiệp: 419,36 ha, chiếm 66,91% tổng diện tích đất tự nhiên.
- Đất phi nông nghiệp: 161,57 ha, chiếm 25,78% tổng diện tích đất tự nhiên.
- Đất chưa sử dụng: 45,82 ha, chiếm 7,31% tổng diện tích đất tự nhiên.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
Biểu đồ 1: Tình hình sử dụng đất năm 2010
237,78
56,7
1.1.1
Đất chuyên trồng lúa nước
LUC
233,69
98,28
1.1.2
Đất trồng lúa nước còn lại
LUK
4,09
1.72
1.2
Đất trồng cây hàng năm còn lại
HNK
53,0
12,64
1.6
Đất nuôi trồng thuỷ sản
NTS
12,97
3,09
1.7
Đất nông nghiệp khác
NKH
0,59
0,14
2
ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
PNN
2.3
Đất an ninh
CAN
2.4
Đất khu công nghiệp
SKK
2.5
Đất cơ sở sản xuất kinh doanh
SKC
2.6
Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ
SKX
2.7
Đất cho hoạt động khoáng sản
SKS
0,12
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
NTD
9,21
5,70
2.12
Đất sông suối
SON
34,43
21,31
2.13
Đất có mặt nước chuyên dung
MNC
4,20
2,60
Đất công trình bưu chính viễn thông
DBV
0,02
0,03
Đất cơ sở văn hóa
DVH
0,21
0,31
Đất cơ sở y tế
DYT
0,11
0,16
Đất cơ sở giáo dục - đào tạo
DGD
1,34
SVTH: Lê Thị Quỳnh
21
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
4
Đất đô thị
DTD
5
Đất khu bảo tồn thiên nhiên
DBT
6
Đất khu du lịch
DDL
7
Đất khu dân cư nông thôn
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Tôn Nữ Hải Âu
b- Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
Năm 2010, diện tích đất phi nông nghiệp là 161,57 ha chiếm 25,78% tổng
diện tích đất tự nhiên toàn xã. Trong đó:
- Đất ở nông thôn: diện tích 39,14 ha, chiếm 24,22% tổng diện tích đất phi
nông nghiệp.
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: diện tích 0,78 ha, chiếm 0,48%
tổng diện tích đất phi nông nghiệp.
- Đất sản xuất VLXD, gốm xứ: diện tích 2,36 ha, chiếm 1,46% tổng diện tích
đất phi nông nghiệp.
- Đất di tích, danh thắng: diện tích 2,51 ha, chiếm 1,55% tổng diện tích đất phi
nông nghiệp.
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng: diện tích 0,19 ha, chiếm 0,12% tổng diện tích đất
phi nông nghiệp.
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa: diện tích 9,21 ha, chiếm 5,70% tổng diện tích đất
phi nông nghiệp.
- Đất có mặt nước chuyên dùng: diện tích 4,20 ha, chiếm 2,60% tổng diện tích
đất phi nông nghiệp.
- Đất sông, suối: diện tích 34,43 ha, chiếm 21,31% tổng diện tích đất phi nông
nghiệp.
- Đất phát triển hạ tầng: diện tích 68,75 ha, chiếm 42,55% tổng diện tích đất
phi nông nghiệp.
c- Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng
Năm 2010, diện tích đât chưa sử dụng là 45,82 ha chiếm 7,31 % tổng diện tích
đất tự nhiên toàn xã.
2.2.2. Tình hình dân số và lao động
Thôn 1
138
18
429
2
Thôn 2
135
29
419
3
Thôn 3
158
29
489
4
Thôn 7
94
17
333
8
Thôn 8
127
12
461
(Nguồn: UBND xã Hà Lâm)
b. Lao động
Theo kết quả điều tra hiện xã có 1.816 người trong độ tuổi lao động, chiếm
46,64% dân số toàn xã. Trong đó:
- Lao động nông nghiệp: 1.474 người, chiếm 81,17% tổng số lao động toàn
xã. Trong đó, 149 lao động đã qua đào tạo.
- Lao động phi nông nghiệp: 161 người, chiếm 8,87% tổng số lao động toàn
xã. Trong đó, 16 lao động đã qua đào tạo
- Lao động gián tiếp: 181 người, chiếm 9,96% tổng số lao động toàn xã.
SVTH: Lê Thị Quỳnh
toàn, sạch sẽ.
- Đường giao thông nội đồng: hiện trên địa bàn xã toàn bộ là đường đất, chất
lượng thấp, không đáp ứng nhu cầu đi lại phục vụ sản xuất của người dân. Do vậy
trong thời gian tới cần phải đầu tư để cứng hoá toàn bộ mặt đường giao thông nội
đồng bằng bê tông, giai đoạn trước mặt là các trục đường chính nội đồng.
b. Hệ thống thủy lợi
SVTH: Lê Thị Quỳnh
25