Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giống TH3 3 của các hộ nông dân xã trung đông huyện trực ninh tỉnh nam định - Pdf 35

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa gạo là lương thực của khoảng hơn 3 tỷ người trên thế giới, phần
lớn lúa gạo sản xuất ra trên thế giới được tiêu thụ bởi những nông dân trồng
lúa. Sản lượng lúa hiện nay không ngừng gia tăng trong thời gian qua đã
mang lại sự an sinh và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của các nước. Năm
2004 Hội đồng Liên hiệp Quốc đã chọn là năm Lúa gạo Quốc tế với khẩu
hiệu “Cây lúa là Cuộc sống”. Lúa là cây lương thực quan trọng có diện tích
148,4 triệu ha ở thế giới, (trong đó Châu Á 135 triệu ha). Việt Nam có diện
tích sản xuất lúa 4,36 triệu ha, sản lượng 38,0 triệu tấn, năng suất bình quân
4,67tấn/ha, xuất khẩu 6 triệu tấn gạo năm 2009 (đồng bằng sông Cửu Long có
sản lượng lúa 17,6 triệu tấn, năng suất 4,61tấn/ha). Theo Hiệp hội Lương thực
Việt Nam (VFA), tính đến ngày 25/11/2009, lượng gạo ký hợp đồng đạt trên
6,72 triệu tấn, tăng hơn 47,8% so cùng kỳ và lượng đã giao ở thời điểm này
đạt 5,601 triệu tấn. Số lượng giao trong tháng 12/2009 khoảng 1,12 triệu tấn.
Trong năm 2009 này, lượng gạo xuất khẩu đạt hơn 6 triệu tấn các loại.
Chúng ta có thể khẳng định một điều hết sức quan trọng trong lĩnh vực
sản xuất lúa đó là vấn đề sản xuất lúa giống. Đây là một trong những khâu
quan trọng bậc nhất, là yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế. Quá trình nghiên cứu đã tạo ra và đưa vào sản xuất các giống lúa mới
cho năng suất cao, phẩm chất tốt đó là vấn đề hết sức cần thiết, để tạo ra lúa
hàng hóa có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ trên thị
trường. Những nghiên cứu ứng dụng về cây lúa trong thời gian qua đã đóng
góp vào sự phát triển nông nghiệp Việt Nam là kết quả với sự hợp tác giữa
nhà quản lý, các tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong nước và hợp tác Quốc tế.

1

lúa có năng suất cao của huyện. Lúa là sản phẩm chính trong ngành trồng trọt
của xã và đem lại thu nhập khá cao cho nông dân của xã. Đặc biệt trong tình
hình hiện nay việc phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho sản xuất của nông dân trong xã. Từ năm 1997 xã đã mạnh

2


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

dạn đưa mô hình sản xuất lúa giống vào trong cơ cấu mùa vụ, tập trung chủ
yếu ở các hộ nông dân thôn Trung Lao và đến nay đã đạt nhiều kết quả tốt tác
động rõ rệt đến đời sống kinh tế xã hội và khẳng định có hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giống TH3-3 của các hộ nông dân xã Trung
Đông - huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất lúa giống (chủ yếu là
giống TH3-3) ở các hộ nông dân xã Trung Đông - huyện Trực Ninh - tỉnh
Nam Định, trên cơ sở đó phân tích những khó khăn và hạn chế cũng như
thuận lợi, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả trong sản
xuất lúa giống trong các hộ nông dân.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế
nói chung và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa nói riêng.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa giống TH3-3 của các hộ
nông dân xã Trung Đông.

4


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là là một phạm trù kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt
chất và mặt lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng của mọi
nền sản xuất xã hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh
giữa phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra với phần giá trị các yếu tố
nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó được xem xét và so sánh cả tương đối
và tuyệt đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ gữa hai đại lượng đó.
2.1.1.2 Một số quan điểm về hiệu quả kinh tế
Khái niệm HQKT đặt ra vấn đề làm thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, trong
sản xuất kinh doanh điều chú ý đầu tiên đó là lợi nhuận. Các nhà kinh tế khác
nhau có các quan niệm về hiệu quả kinh tế khác nhau, đã từ lâu nhiều nhà khoa
học và các nhà kinh tế đã tổ chức tranh luận về vấn đề này nhưng đến khoảng
những năm 20 của thế kỷ XX mới có được văn bản pháp quy về đánh giá HQKT
của vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Hiện nay có rất nhiều quan điểm về HQKT
chúng ta sẽ đi tìm hiểu về một số hệ thống quan niệm về HQKT cơ bản sau:
Hệ thống quan điểm thứ nhất: Những người theo hệ thống quan điểm
này cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí
bỏ ra (các nguồn nhân lực, tiền vốn, nguyên vật liệu..) để đạt được kết quả đó.
Theo công thức sau:


kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung
và chi phí bổ sung. Tính theo công thức sau:

H=

∆Q
∆C

Trong đó: ∆Q: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Hệ thống này được sử dụng để nghiên cứu tính toán trong việc đầu tư
theo chiều sâu, trong nông nghiệp thì nghiên cứu trong các hoạt động thâm
canh các loại cây trồng. Nó xác đinh được lượng kết quả tăng thêm trên một
đơn vị chi phí tăng thêm hay nói cách khác khi ta tăng thêm một đồng chi phí

6


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

thì sẽ tạo ra thêm được bao nhiêu đồng lợi nhuận, hoặc để tăng thêm một đơn
vị đầu ra thì phải đầu tư thêm bao nhiêu đơn vị đầu vào.
Hệ thống quan điểm này cũng như hệ thống quan điểm thứ nhất đó là
cũng không cho biết được quy mô của hiệu quả là bao nhiêu. Vấn đề này chủ
yếu được các doanh nghiệp quan tâm.
Hệ thống quan điểm thứ ba: HQKT được đo bằng hiệu số giữa kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó.
H=Q–C

Hình 2.1 dưới đây thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu cận biên (MR)
và chi phí cận biên (MC), tổng chi phí bình quân (ATC). Đường chi phí biên
luôn cắt đường ATC tại điểm ATCmin. Nếu thị trường chấp nhận ở mức giá P1,
đường cầu và doanh thu cận biên là D 1 và MR1. Khi đó doanh nghiệp sẽ lựa
chọn sản xuất ở mức sản lượng Q1 đơn vị sản phẩm, tương ứng tại điểm D
nơi cắt nhau giữa dường MR và đường MC. Do ATC nhỏ hơn giá cả nên
doanh nghiệp thu được lợi nhuận. Như vậy doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi
nhuận tại điểm D (MC=MR1), với mức sản lượng (Q2=Q*).
Chi
phí

MC
ATC

P1

A

D

D1=MR
AVC

P2

B

C

Sản lượng

Trong nền kinh tế quốc dân của một quốc gia có rất nhiều các doanh
nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất với rất nhiều loại sản phẩm. Mỗi
doanh nghiệp đều lựa chọn cho mình một phương thức sản xuất tốt và sản
xuất có HQKT cao thì nền kinh tế quốc dân sẽ có hiệu quả cao, sẽ tăng trưởng
nhanh và ổn định.
Hệ thống quan điểm thứ năm: Hệ thống quan điểm HQKT trong nền
kinh tế thị trường. Các nguồn lực trong xã hội chịu tác động và chi phối của
quy luật khan hiếm nguồn lực, thực tế cho thấy các nguồn lực dành cho quá
trình sản xuất như đất đai, lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên… đều khan
hiếm. Nhưng nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về chất lượng cũng như số
lượng, bởi vậy phải tiết kiệm nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực. David Begg lại cho rằng "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể
tăng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả, một doannh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các
điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó".
Ông còn khẳng định hiệu quả là không lãng phí.
Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm chủ yếu của kinh tế học nói chung,
kinh tế vi mô nói riêng, trong thực tế hiện nay với sự phát triển của kinh tế xã
hội thì nâng cao hiệu quả kinh tế đang phát triển và được sử dụng rộng rãi kể
cả trong kinh tế gia đình, hộ nông dân, các trang trại… Sản xuất có hiệu quả

9


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

kinh tế cao nhất hiện nay là đạt lợi nhuận tối đa và sử dụng đầy đủ hợp lý các
nguồn lực.

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân,
xóa đói giảm nghèo, đảm bảo phát triển mạnh trong thời buổi hội nhập đảm
bảo phát triển bền vững giảm tối đa những tác động xấu đến môi trường.
2.1.1.4 Nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế
Nền kinh tế hiện nay gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang
phát triển lên một nền kinh tế tri thức toàn diện. Những kiến thức của con
người được áp dụng trong thực tế ngày càng sâu rộng và đạt được những kết
quả tốt, tạo ra những bước tiến lớn trong quá trình phát triển.nền kinh tế hiện
nay có khuynh hướng đi theo chiều sâu và toàn cầu hóa mạnh mẽ đây là yếu
tố tạo ra nhiều cơ hội và thách thúc cho các nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường mỗi quốc gia đều dựa vào điều kiện cụ thể
của mình và các mối quan hệ của mình với các nước mà có các chiến lược
phát triển sản xuất thích hợp nhằm nhanh chóng tham gia vào thị trường thế
giới có nhiều lợi thế nhất, tạo ra quá trình phân công lao động quốc tế sao cho
sản xuất ra khối lượng lớn nhất các loại sản phẩm. Quá trình sản xuất là sự
liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, biểu hiện kết quả của mối
quan hệ và thể hiện tính hiệu quả của sản xuất. Mục đích của sản xuất hàng
hóa là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu vật chất và tinh thần cho toàn xã hội. Phải
đảm bảo với một nguồn lực hữu hạn nhất định tạo ra được một khối lượng sản
phẩm cung cấp cho xã hội là lớn nhất.
HQKT là một phạm trù kinh tế chung nhất nó liên quan trực tiếp đến
nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù kinh tế khác. Với nền kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang khuyến khích tất cả các thành
phần kinh tế phát triển mạnh mẽ.
HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội với những đặc thù phức tạp nên

2.1.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của một hoạt động sản xuất kinh doanh ta
cần phân biệt rõ ràng giữa “Hiệu quả” và “Kết quả”. Như ta đã biết bất kỳ
một hoạt động hay hành động của con người diễn ra trong xã hội đều đem lại
kết quả cho dù tốt hay xấu. Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích của con người được thể hiện bằng chỉ tiêu, nội dung, tùy thuộc vào từng
trường hợp cụ thể mà xác định. Do có sự mâu thuẫn bởi khả năng các nguồn

12


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

lực có hạn với nhu cầu tăng lên của của con người mà người ta phải xem xét
đến lý thuyết lựa chọn để xem xét về kết quả tạo ra như thế nào, chi phí là bao
nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Cần đánh giá đến chất lượng
của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối là
quy luật cung cầu và quy luật hiệu quả giảm dần đặc biệt phụ thuộc vào yếu
tố thời tiết Trong đó hiệu quả sinh học của sản xuất nông nghiệp không phụ
thuộc vào người tiêu dùng có thích hay có mua sản phẩm đó hay không, còn
hiệu quả kinh tế nông nghiệp thì lại bị khống chế bởi những vấn đề này. Nếu
sản phẩm sản xuất ra không có người mua thì người sản xuất không có thu
nhập và sản xuất bị ngừng trệ, do đó tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng
đầu của người sản xuất.
Xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, toàn xã hội thì các chi phí bỏ ra
để thu được kết quả là chi phí lao động xã hội và được tính bằng tương quan
so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với hao phí lao động xã hội bỏ ra

phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã hội của hoạt
động sản xuất. Các loại hiệu quả có liên quan chặt chẽ với hiệu quả kinh tế và
biểu hiện mục tiêu hoạt động của con người.
- Hiệu quả môi trường: Là mối tương quan so sánh kết quả đạt được về
mặt môi trường và chi phí bỏ ra. Nó là hiệu quả mang tính lâu dài, bền vững
đảm bảo lợi ích hiện tại và tương lai, gắn với quá trình khai thác và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Hiệu quả môi trường là hiệu quả
của việc làm thay đổi môi trường do hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn,
ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật…Việc xác định hiệu quả môi trường là
tương đối khó. Trong ba loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò
quyết định và nó được đánh giá đầy đủ khi kết hợp với hiệu quả xã hội và môi
trường.
Trong điều kiện hiện nay còn xét đến yếu tố hiệu quả phát triển bền
vững: là hiệu quả kinh tế - xã hội có được do những tác động hợp lý để tạo ra
nhịp độ tăng trưởng tốt và đảm bảo những lợi ích kinh tế - xã hội, nhưng có
tính tới yếu tố môi trường về lâu dài.
Xét tên tầm vĩ mô thì chính phủ phải điều tiết nền kinh tế đảm bảo cho
cả ba lợi ích đạt hiệu quả cao nhất, nghĩa là ba vòng tròn hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trùng nhau là lớn nhất.

14


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

* Phân loại theo yếu tố sản xuất và hướng tác động vào sản xuất
- Hiệu quả sử dụng đất
- Hiệu quả sử dụng lao động


Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

chú ý rằng làm sao phải tiết kiệm tối đa các nguồn lực. Hoặc với một lượng
sản phẩm nhất định ta cũng phải làm sao sử dụng ít nguồn lực thì càng tốt. Có
như thế mới đảm bảo tốt các lợi ích.
Trong sản xuất nông nghiệp luôn luôn có những rủi ro bất thường xảy
ra chủ yếu do thời tiết, thị trường… làm cho kết quả sản xuất không được như
mong muốn, không ổn định. Bởi vậy việc hạn chế các rủi ro có vai trò hết sức
quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp.
2.1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một quốc gia, một nền kinh tế nào hay một đơn vị sản xuất kinh
doanh nào đều có mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa. Trong điều kiện các nguồn
lực có hạn đều muốn sản xuất ra được một lượng sản phẩm nhiều nhất và
chúng phải có chất lượng và giá trị cao nhất. Bởi thế trong quá trình sản xuất
kinh doanh các nhà kinh tế đều tính toán kỹ lưỡng sao cho đạt hiệu quả cao
nhất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một cơ hội lớn để tăng lợi nhuận từ đó tích
lũy vốn mở rộng sản xuất, cải thiện đời sống cho người lao động. chỉ có tăng
hiệu quả kinh tế ta mới tăng được hiệu quả lao động cho doanh nghiệp và cho
toàn xã hội. Khi nâng cao hiệu quả kinh tế thì cả người sản xuất và người tiêu
dùng. Đối với người sản suất thì đó chính là tiết kiệm chi phí và tăng lợi
nhuận, còn người tiêu dùng sẽ được đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của
mình, sẽ có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn các sản phẩm có chất lượng tốt
và giá thành hợp lý.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc nâng cao hiệu quả kinh tế các loại
hình sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng. Muốn nâng cao được hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp thì điều cốt lõi là trên một diện tích đất có hạn
phải sản xuất ra được khối lượng nông sản phẩm nhiều nhất và thị trường cần.
Đặc biệt tình hình hiện nay đất nông nghiệp bị thu hẹp do nhường cho phát
triển các khu công nghiệp. Muốn có hiệu quả kinh tế cao cần áp dụng thâm

truyền được( />Trong sản xuất nông nghiệp yếu tố đầu tiên để có kết quả là giống,
không có giống thì bất thành sản xuất nông nghiệp. Muốn trồng loại cây hay
nuôi một loại con gì thì phải có giống. Cây giống, con giống phải tốt mới đảm
bảo cho sự nảy mầm, sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh cho năng suất cao.

17


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

Nhiều chuyên gia nông nghiệp và bà con nông dân đã khẳng định rằng giống
tốt có thể làm tăng năng suất lên 25 - 30%.
Xuất phát từ thực tế vai trò của giống cây trồng trong sản xuất nông
nghiệp ta thấy công tác giống giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất.
Giống tốt hay không do con người chọn tạo nều công tác giống cây trồng
không tốt thì sẽ không có giống tốt để sản xuất.
2.2.1.2 Vị trí của công tác giống lúa
Cây lúa là cây lương thực chính cung cấp lương thực cho con người,
Việt Nam là nước có lợi thế sản xuất lúa gạo. Trong điều kiện tình hình sản
xuất lương thực trên thế giới hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu nhân loại,
vấn đề an ninh lương thực được đặt lên hàng đầu. Bởi thế nó đặt ra cho công
tác giống cây trồng nhiệm vụ nghiên cứu lai tạo, chọn lọc ra những giống lúa
có năng suất cao và ổn định, ngắn ngày, có tính thích ứng cao để sản xuất
được nhiều lương thực phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của con người. Với
nền kinh tế phát triển như hiện nay thì nhu cầu ăn uống của con người chuyển
dần từ ăn no sang ăn ngon và ăn uống mang tính chất thưởng thức. Yêu cầu
những giống lúa là phải năng suất cao chất lượng hạt gạo ngon để đáp ứng
nhu cầu trong nước và nhu cầu cho xuất khẩu và đặc biệt đảm bảo an ninh

Từ lúc bắt đầu sản xuất đến ra hạt giống thành phẩm trải qua quy trình
cơ bản sau:
- Chọn ruộng sản xuất theo tiêu chuẩn của ruộng sản xuất giống.
- Gieo các dòng bố mẹ đúng thời vụ gieo dòng mẹ trước, dòng bố sau.
- Cấy các dòng bố mẹ.
- Chăm sóc và bón phân.
- Dự đoán và điều chỉnh trỗ bông nở hoa.
- Phun GA3 để hoa nở đồng loạt.
- Thụ phấn bổ sung và khử lẫn.
- Thu hoạch và phơi sấy bảo quản.
2.2.2.2 Đặc điểm nổi bật
- Thời gian sinh trưởng ngắn: vụ xuân: 120-125 ngày, vụ mùa: 105-110
ngày.
- Chiều cao cây: 90-100 cm, đẻ nhánh khá, bản lá mỏng, xanh sáng.
- Năng suất: 6-8 tấn/ha/vụ, bông to dài, nhiều hạt, hạt dài xếp sít, khối
lượng 1.000 hạt 24-26 gam.

19


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

- Chất lượng xay xát tốt: tỷ lệ gạo xát 69-71%, gạo nguyên 60-70%, hạt
gạo trắng trong, thon dài, hàm lượng amyloza 20-21%, prôtêin 8,8%, cơm
trắng, ngon, mềm, vị đậm.
- Chống chịu: giai đoạn mạ chịu lạnh khá; lúa cứng cây, chống đổ tốt,
kháng đạo ôn, nhiễm nhẹ khô vằn, bạc lá, chịu hạn, chịu phèn, chịu thâm canh
trung bình, chống đổ khá, dễ canh tác.

tạp tạo ra một dạng cây mới, rồi chọn lọc cẩn thận những con lai tốt nhất để
gieo trồng trong vụ sau.
Năm 1907, cuộc đấu xảo giống lúa đầu tiên được tiến hành tại Thái Lan
đã thúc đẩy công tác chọn tạo giống lúa.
Năm 1916, trại thí nghiệm lúa đầu tiên được thành lập và chương trình
lai tạo giống cũng như các công tác nghiên cứu mọi mặt đã được thiết lập.
Hiện nay, công tác chọn tạo giống lúa là một trong những nhiệm vụ chính của
Phòng Nghiên cứu & Phát triển Lúa và 27 Trung tâm Nghiên cứu Lúa trực
thuộc. Phòng Nghiên cứu & Phát triển Lúa cũng chịu trách nhiệm sản xuất
2.500 tấn hạt giống lúa nguyên chủng hàng năm.
Hiện nay Phòng Lúa giống và 23 Trung tâm Lúa giống chịu trách
nhiệm sản xuất khoảng 100.000 tấn lúa giống hàng năm. Khối lượng lúa
giống được sản xuất chỉ có thể đáp ứng được 10% nhu cầu lúa giống.
KHU VỰC NHÀ NƯỚC

& uức nêihgN gnòhP
aúL nểirt táhP
cọh iạĐ gnờưrt cáC
uức nêihgN nệiV cáC

uức nêihgN gnòhP
aúL nểirt táhP
&

KHU VỰC TƯ NHÂN
/YT GNÔC
NẢS ÀHN
AÚL TẤUX
GNỐIG


GNỐIG TẠH
IẠM GNƠƯHT

ỰT
ỂĐ

-

GNỐIG TẠH
NẬHN CÁX

GNÔN
NÂD

-

HNÀD

NÂD GNÔN

Hình 2.2: Sơ đồ sản xuất và phân phối lúa giống ở Thái Lan

21


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

2.4.1.2 Sản xuất lúa giống ở Trung Quốc


nghiệp

tới

7

nước

như

Mauritania,

Ghana

/>
ra-the-gioi.html, Thứ sáu, 11 Tháng 9 2009 16:20).

22


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Vũ Ngọc Trường - Lớp KT51C

2.4.1.3 Ở một số nước khác
* Nhật Bản
Các nhà khoa học Nhật Bản đã phát triển thành công một giống lúa
giúp những người bị bệnh tiểu đường không phải tiêm insulin hằng ngày bằng
cách bình thường cơ thể sản xuất ra loại hormon quan trọng này.
2.4.2 Thực trạng sản xuất lúa giống ở Việt Nam
Những năm qua, cây lúa lai đã trở thành một trong những giống lúa cho
năng suất và hiệu quả khá cao được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
xây dựng thành chương trình phát triển 1 triệu ha lúa lai vào năm 2010. Để
đạt mục tiêu này đòi hỏi phải có một sự nỗ lực rất cao của ngành nông nghiệp
cũng như chính quyền các địa phương. Nhưng xung quanh việc đưa cây lúa
lai vào trồng còn nhiều vấn đề cần phải bàn tới, đó là trình trạng một số giống
lúa lai không có hạt. Mặc dù, quy trình khảo nghiệm giống lúa lai mới khá cụ
thể và rõ ràng nhưng việc xảy ra những sai sót không đáng có trong khâu
giống đã đặt ra phải có sự kiểm nghiệm chặt chẽ hơn. Do không chủ động
được giống, nên tuy Bộ đề ra kế hoạch sản xuất hạt lai F1 trong vụ đông xuân
vừa qua là 1.500 ha, nhưng các địa phương chỉ sản xuất được trên 1.200 ha.

trồng TW, vụ Đông Xuân và vụ mùa ở Đồng bằng sông Hồng có 10/98 loại
giống lúa được xếp loại hàng đầu. Điều đặc biệt đáng quan tâm là trong tốp
này chỉ có duy nhất 1 giống lúa chọn tạo trong nước là Xi23 của Viện Nghiên
cứu Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và một giống lúa của Viện
Nghiên cứu lúa quốc tế là Iri352, còn lại là giống lúa lai, lúa thuần của Trung
Quốc.
Tính đến nay, nước ta đi vào sản xuất lúa lai đã khoảng chục năm.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, những năm qua Nhà nước đã
phải đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để phát triển lúa lai, thông qua các chương
trình: nghiên cứu khoa học, chương trình khuyến nông, chuyển dịch cơ cấu
sản xuất, các dự án hợp tác quốc tế, nghiên cứu lai tạo giống, hỗ trợ vật tư sản
xuất lúa lai F1, tập huấn sản xuất, trợ giá giống lúa lai cho nông dân... Riêng
chương trình sản xuất giống lúa lai đã được Bộ đầu tư gần 20 tỷ đồng và mỗi
năm các tỉnh vẫn phải trợ giá nhiều tỷ đồng cho các công ty nhập giống lúa lai
từ Trung Quốc.
Nguyên nhân chính là do nhiều năm qua ngành chủ quản - cụ thể là Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn buông lỏng công tác quản lý từ nghiên
cứu, sản xuất đến khâu cung ứng giống lúa lai.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status